T
ôi là một hạt giống.
Tôi tự quăng mình vào thành phố.
Cũng cần nói thêm, tôi là một hạt giống chín chắn, già dặn. Sự chín chắn và già dặn của tôi đã được hình thành từ trước năm mười hai tuổi. Tôi còn phải nói để ông biết rằng, tôi là một người rất có điều kiện. Tôi có rất nhiều người thầy, mỗi một ngọn cỏ tại quê hương đều là thầy của tôi… Rất sớm, kể từ mười hai tuổi trở về trước, tôi đã đọc đến độ thuộc làu ba nghìn khuôn mặt, đã nhét vào miệng không biết bao nhiêu loài thực vật sinh ra trên những cánh đồng quê tôi, đã từng trải qua không biết bao lần được sống và suýt chết. Từ đó về sau, mỗi một ngày sống trên đời này đối với tôi đều là một quá trình. Mà đã là quá trình thì không thể vượt qua, phải chấp nhận tuần tự thôi.
Tôi đang vác trên cơ thể mình năm nghìn bảy trăm chín mươi tám mẫu đất (không kể đất thổ cư), gần sáu nghìn con mắt (có thể có năm ba con mắt bị mù hoặc gần như mù nhưng tất cả đang trao tráo nhìn tôi), lại còn gần ba nghìn cái miệng không bao giờ biết khép lại (lắm khi có thể dựng người đã chết sống dậy, hoặc biến kẻ đang sống thành người chết), mà chỉ nước bọt thôi đã có thể làm người ta chết đuối.
Tôi tự giới thiệu mình khá kỹ như vậy cũng chẳng qua là để ông hiểu rằng trên thế gian này, đã là người thì không ai giống ai, mỗi người đều có hoàn cảnh riêng của mình. Thời niên thiếu, hay nói cách khác là hoàn cảnh sống có thể ảnh hưởng đến suốt cả cuộc đời. Chẳng hạn, trong ý thức tiềm ẩn của tôi, tiếng reo của chuông điện thoại và tiếng chó sủa là hoàn toàn giống nhau về độ lảnh lót. Nhưng chẳng qua, đến lúc này thì chúng không còn giống nhau nữa. Chó cũng đã lên thành phố rồi.
Trong mười năm đầu tiên kể từ ngày bước chân đến thành phố, ông có cần hỏi tôi sợ nhất cái gì không? Tôi nói để ông biết nhé, cái làm tôi sợ nhất đó là tiếng reo của chuông điện thoại. Mỗi lần chuông điện thoại kêu đều làm cho tim tôi giật thột và da thịt tôi rúm ró!
Có lúc, tôi lại nghĩ mình là một cái nêm.
Là một cái nêm bằng gỗ cây liễu bị cưỡng ép đi vào thành phố.
Tuy toàn thân tôi nảy mầm, nhưng tôi hoàn toàn không biết là mình có thể đâm được rễ xuống bùn đất để lớn lên và trở thành một cái cây hay không. Bởi vì, các bậc gia trưởng ở quê hương vẫn đang chờ đợi bóng mát do tôi vun trồng nên.
Ba mươi năm trước, đúng vào lúc tôi vác hành lý rời tàu để đặt chân lên đất thành phố thì hoàng hôn cũng vừa buông xuống. Trước mắt tôi toàn là đèn điện. Đèn điện như hoa cúc đang nở rộ, từng cái, từng chùm, có điều không có cái bóng đèn nào trong số đó là của tôi cả. Nhưng lòng tôi vẫn tràn đầy một cảm giác ấm áp, bởi vì rằng tôi là một kẻ có “đơn vị” rồi. Lúc ấy, tôi đi xuôi theo đường Bách Du tiến thẳng về phía trước, từng chiếc từng chiếc xe buýt đi ngang qua người tôi, tiếng chuông xe đạp reo lên từng hồi, người đi kẻ lại chẳng khác sóng triều cuộn dâng và tôi biết, tất cả bọn họ đều có hướng đi đã được định sẵn, là đang trở về nhà. Tôi cũng là người có phương hướng, “đơn vị” chính là phương hướng của tôi. Tôi không có gì phải vội vàng, tôi chẳng thèm lên xe. Vấn đề không phải là tiền (lúc ấy đi xe buýt chỉ mất năm xu cho một trạm, ba trạm chỉ một hào), tôi chỉ muốn dùng đôi chân của mình để thăm dò một chút về cái thành phố mà rất có thể tôi sẽ phải gắn chặt cuộc đời với nó.
Tôi vừa đi vừa hỏi đường mất một tiếng bốn mươi sáu phút. Và khi tôi mò ra được “đơn vị”, trong một thoáng bỗng nhiên tôi mất “phương hướng”. Trước cổng học viện, người đàn ông ở phòng bảo vệ nói với tôi: “Hết giờ làm việc rồi, ngày mai cậu đến.” Tôi trình bày, tôi đến đây để trình diện, để nhận công việc. Lão nhấn giọng: “Tôi biết cậu đến để trình diện, để nhận nhiệm vụ, nhưng người ở Phòng Nhân sự đều đã về hết rồi. Ngày mai cậu đến, tám giờ ngày mai…” Tôi đứng chôn chân tại chỗ, do dự rất lâu, không biết là mình nên đi về đâu?
Đầu óc tôi có chút mông muội, đôi chân cứ xuôi theo những con đường, vô mục đích, vừa đi vừa nghĩ là mình nên đi đâu bây giờ? Thậm chí tôi cũng không hề có một cảm giác đói bụng nào cả. Trong đầu tôi chỉ quẩn quanh một ý nghĩ: Hay là quay lại ga tàu để qua đỡ đêm nay? Cho dù lúc ấy trong túi tôi có một trăm sáu mươi đồng sáu hào (số tiền này tôi tiết kiệm được trong thời gian học nghiên cứu sinh), nhưng có điều tôi không hề nghĩ đến việc mình có thể ở khách sạn, căn bản là vì tôi chưa bao giờ có suy nghĩ là mình sẽ ở khách sạn. Lại nữa, thời ấy chưa thực hiện chế độ làm thẻ chứng minh thân phận, mà muốn vào khách sạn thì phải cần chứng minh thân phận. Trước khi báo danh, tôi không có cách nào để chứng minh thân phận của mình. Điều đó có nghĩa là, tôi trong hiện tại là một kẻ chưa có thân phận gì cả. Tôi không có chỗ để đến!
Cứ thế mà bước, mà đi, đột nhiên trong đầu tôi lóe lên một suy nghĩ: Du Thái! Tôi bám riết lấy cái suy nghĩ ấy, không để cho nó rời khỏi đầu óc mình và từ trong đầu óc tôi, hai tiếng này hình như đang reo lên từng hồi: Du Thái! Du Thái! Du Thái!
Du Thái là tên gọi thuở nhỏ của một người sinh ra từ thôn Vô Lương, con trai của nhà Ngô Căn, tên thật là Ngô Hữu Tài. Hữu Tài đã có ba năm làm lính công binh trong một đơn vị quân đội, sau khi phục viên được chuyển ngành về làm công nhân trong một công ty xây dựng ở thị trấn Dĩnh Bình. Vẫn còn nhớ, trong một ngày hè nào đó tôi đã có dịp gặp Hữu Tài khi anh ta về thăm quê. Hữu Tài mặc chiếc áo sơ mi ngắn tay hiệu “Đích Xác Lương”, trên tay đeo đồng hồ, nói với giọng vô cùng ngạo nghễ: “Đơn vị của tôi đã chuyển về thành phố, xây nhà cao tầng cho thành phố, ngay tại đường… tại đường… Cứ lên thành phố đi! Các cậu cứ đi đi, lúc ấy cứ tìm đến tôi!” Tôi thừa biết, lúc ấy anh ta chỉ thuận mồm mà nói thôi, vì anh ta biết người trong thôn làm gì có cơ hội để lên thành phố nên mới nói cho khoái khẩu. Nhưng có điều, đúng là tôi đã đến.
Đường trong thành phố có ngang có dọc phân biệt rõ ràng. Tôi bắt đầu từ đường dọc số 1 đi một thôi đến đường dọc số 10, sau đó bắt đầu từ đường ngang số 9 đi một mạch tới đường ngang số 1, đi qua đường Hòa Bình, đường Văn Hóa, đường Quảng Hà, đường Nông Nghiệp rồi đại lộ Kinh Quảng… Đêm dần dần về khuya, tuyết bay đầy trời. Nhờ ánh đèn đêm mà hoa tuyết trông có phần hao hao một tấm rèm che bầu trời màu phấn trắng ngà ngà, ẩm ướt và lay động. Tôi đi trong miên man suy nghĩ, nhưng thoảng đâu đó có một mùi hương bạc hà vương vấn bên mũi tôi. Thì ra, trong ánh đèn có sự sắc nhọn của kim châm nhưng cũng có mùi hương bạc hà, từng luồng, từng đợt. Cho dù gót chân tôi có lê trên bất kỳ đường phố nào thì mùi bạc hà cũng từ ánh đèn tỏa xuống. Đôi chân tôi đã rất nặng, càng lúc càng cảm thấy nặng thêm. Mỗi lần đến một ngã tư, tôi dừng lại giây lát để nhìn bảng tên đường và sau đó thì tưởng tượng cái mặt và cái mồm của Du Thái… Du Thái! Rốt cuộc thì anh đang ở tại đường phố nào?
Cái mồm của Du Thái cứ ẩn ẩn hiện hiện trong đầu óc tôi không biết bao nhiêu lần. Tôi nhìn thấy rõ ràng Du Thái đang huơ tay lên cao, chiếc đồng hồ đeo ở cổ tay sáng loang loáng, miệng anh ta nói: “Là đồng hồ hiệu Thượng Hải Toàn Cương Phòng Chấn.” Lúc ấy, chiếc đồng hồ chính là món thời trang thượng hạng của anh chàng công nhân xây dựng, cũng là sự khác biệt giữa thành thị và nông thôn: Đèn điện và chó cắn, vải bố màu xanh và “Đích Xác Lương”. Du Thái đang mặc “Đích Xác Lương”, đeo đồng hồ “Thượng Hải Toàn Cương Phòng Chấn”, đang hướng về phía tôi và vẫy tay… Quá mệt mỏi, có mấy lần tôi đứng tựa vào cột điện, áp sát lưng vào cái khối bê tông lạnh như băng ấy, cẩn thận đánh giá về cái thành phố này. Liệu nó có thuộc về tôi không?
Trong một thoáng bất chợt, tôi cho rằng mình đã nhớ lại, hình như là đường Tung Sơn. Ngay lập tức tôi hỏi thăm đường đến Tung Sơn. Đi đến đường Tung Sơn, tôi lại nhớ ra là hình như anh ta có nói đến đường Hoành Sơn, nhưng sau đó lại nhớ đến đường Hương Sơn, rồi lại Hoàng Sơn… Rồi hẻm Du Thụ, hẻm Xuân Thụ, hẻm Cổ Lâu, hẻm Thanh Hư… Ánh đèn trong những căn nhà, những tầng lầu hai bên đường dần dần tắt, chỉ còn lại những bóng đèn đường. Nhưng tôi vẫn cứ đi, đi như một chiếc máy đã được cài số tự động, mặc dù có một tiếng nói thôi thúc trong lòng: Quay về ga tàu thôi! Quay về ga tàu ngồi một đêm thôi mà! Nhưng tôi vẫn cứ không cam tâm làm theo tiếng gọi trong lòng mình. Tại sao tôi lại ngốc nghếch đến thế nhỉ?
Tôi đang đi trên những con đường trong thành phố, đang hít thở không khí lạnh căm căm nhưng luôn có cảm giác mình đang lê bước chân trên một hoang mạc, nỗi thê lương và hoang vắng choán lấy tâm hồn tôi. Đường phố không quen biết, mặt người cũng lạ lẫm, tôi đang tìm một chút hơi ấm. Anh chàng có tên thuở nhỏ là Du Thái kia, anh đang ở nơi nào?
Sau này tôi đã từng tự dằn vặt mình: Tại sao mày lại làm như vậy? Gần như mày đã lê lết qua một đêm, đi hết gần một nửa thành phố, cố chấp với chính mình để đi tìm tung tích của một người có tên là Du Thái. Sao mày lại ngu xuẩn đến như vậy, tại sao không tìm đến một ngôi nhà trọ để qua đêm? Mày còn có thể gọi điện thoại để tìm một vài đứa bạn thời đại học ngày xưa, nhưng ngay cả cái ý định gọi điện thoại cũng chẳng hề xuất hiện trong đầu óc mày, dường như mày chẳng hề có cái gọi là “ý thức về điện thoại” nữa. Nhưng sau đó nữa thì tôi đã hiểu: Đó không phải là tôi đang tự đi mà chính là hoàn cảnh của tôi, quê hương của tôi đang đẩy tôi đi, tôi không thể không đi. Không phải là tôi đang đi tìm người mà chính là tôi đang tìm một nơi chở che, giúp đỡ.
Cũng có thể thời gian trôi qua rất lâu tôi mới nhận ra một cách rõ ràng là, muốn có một cuộc sống thuận lợi ở thành phố, tất yếu anh phải có đầy đủ ba yếu tố: thân phận, đơn vị và quan hệ. Thiếu một trong ba là không thể sống! Nếu anh không có “thân phận”, không có “đơn vị”, cũng không có nốt “quan hệ”, thế thì không chóng thì chầy, anh sẽ trở thành kẻ phiêu bạt mà thôi. Thành phố là một mê hồn trận, nguy hiểm có thể đến bất cứ lúc nào.
Tôi vẫn biết, trên đài trên báo, mọi người đều phản đối cái gọi là “quan hệ”, nhưng nào phải mọi người không biết rằng, “quan hệ” chính là mảnh đất màu mỡ mà người ta dựa vào đó để sinh tồn và nói chung, đã là con người thì không thể quay mặt với “quan hệ”. Đặc biệt trong lĩnh vực thế giới tinh thần, con người dựa vào “quan hệ” để mà sống. Chẳng phải Các Mác đã từng nói “Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” đó sao? Do vậy, tất cả những người phản đối đều là nhắm vào người khác để phản đối mà không hề phản đối chính mình. Không có ai phản đối chính mình cả!
So đi tính lại, tôi vẫn là người còn có chút vận may, đến sáng sớm ngày hôm sau, chính xác là hai giờ hai bảy phút, cuối cùng tôi cũng đã tìm gặp được “quan hệ”. Tôi tìm thấy Du Thái ngay tại một công trường xây dựng. À, tên anh ta là Hữu Tài, không phải Du Thái. Để giữ thể diện cho anh ta, tôi không thể gọi bằng cái tên từ thuở bé. Người bảo vệ công trường nói với tôi: “Có, có người này ở đây.”
Công nhân xây dựng Ngô Hữu Tài ngủ ngay trên tầng bảy của một ngôi nhà đang xây dở, tường chưa kịp tô trét, cũng chưa kịp lắp cửa sổ, cửa ra vào. Anh ta nhảy từ trên giường xuống và đứng sững trước đầu giường, trên người chỉ có độc chiếc quần đùi, đôi mắt trợn tròn to bằng dái trâu, miệng mở hết cỡ trông chẳng khác nào cái thúng… Cho dù nói thế nào đi chăng nữa anh ta cũng không thể tưởng tượng được rằng, đúng vào thời điểm này lại có người đến tìm mình.
Du Thái đang chết lặng!
Ngô Hữu Tài vòng tay ôm chặt lấy hai vai, rét run đến nỗi chỉ phát ra được âm thanh lắp bắp:
- Tiêu (Tiêu là tên thuở bé của tôi), đúng là Tiêu phải không?... Cậu… cậu… cậu sao… sao lại đến đây?
- Đúng là ông bảo vệ không nhầm chút nào, nói anh đang ở trên tầng bảy – Tôi nói.
- Là lão Chu à? Là sư phụ Chu, người đồng hương, cùng huyện – Vừa nói, Du Thái vừa mặc quần áo, nhìn chiếc đồng hồ vẫn còn đeo ở cổ tay – Hai giờ rưỡi rồi, cậu chui dưới đất lên hay sao mà giờ này mới mò đến? Chưa à? À… gì chưa? – Vừa nói, anh ta – hình như là vô thức – đưa mắt nhìn lên bức tường nham nhở, xù xì, trên đó có đóng một chiếc đinh và đầu đinh có treo lòng thòng một chiếc túi xách, tôi nghĩ bên trong chiếc túi là cái bát ăn cơm vì có một đôi đũa nhô lên cao.
- Tôi đã… gì rồi, đã ăn từ khi chập tối – Tôi nói – Đúng là tìm anh không dễ tí nào, mệt muốn đứt hơi. Không phải là anh đã nói có lên thành phố thì đến tìm anh sao?
Nghe tôi nói tôi đã ăn cơm, sự lúng túng của Du Thái hình như đã được chó tha chạy đâu mất.
- Đúng rồi! Đúng rồi! Sao cậu lại không đến sớm hơn nhỉ?
- Tôi đến để trình diện, để nhận việc, nhưng lại đến muộn…
Du Thái đưa mắt nhìn tôi giây lát, rồi bảo:
- Thôi, ngủ đã. Gần ba giờ rồi, tranh thủ ngủ đi – Vừa nói, Du Thái vừa chỉ một chiếc giường đối diện – Chỗ đó, cậu ngủ chỗ đó! Thằng chó chết ấy xin nghỉ phép về nhà rồi.
Lúc ấy tôi mới cảm thấy thư thái, toàn thân như vừa trút bỏ được một cái giá gỗ đeo bám trên người suốt gần một đêm qua. Tôi leo lên chiếc giường của “thằng chó chết”, nằm xuống. Cái vạt giường thực ra là ghép từ hai tấm gỗ mỏng nhưng được phủ một tấm đệm hình như độn bằng các loại lá ngũ cốc, chiếc chăn hình như cũng vừa được giặt, khá dày, rất ấm. Quá tốt. Tôi đã mệt lắm rồi, tôi muốn được ngủ, hai mí mắt như có keo dán khít lại với nhau rồi. Nhưng tôi cần phải nói, nhất định phải nói, vì đó là một sự trả giá.
Cả hai chúng tôi nằm trên giường, dường như cố tình mà cũng là vô tình nói dăm ba câu tiếng địa phương về quê hương. Để cố gắng tiếp nhận những lời nói của anh ta, tôi cưỡng chế hai mí mắt đang dính lại của mình, cố gắng giữ một chút tỉnh táo cuối cùng. Những lời nói của Du Thái như những sợi chỉ rối rắm, đứt đoạn, quanh đi quẩn lại dường như chẳng có đầu có đuôi gì cả. Tiếng nói tự đáy lòng tôi vang lên: Du Thái, tha cho tôi, cho tôi ngủ tí nào. Nhưng anh ta vẫn cứ rì rầm bên tai tôi:
- Tốt nghiệp rồi à?
- Tốt nghiệp rồi.
- Tốt nghiệp nghiên cứu sinh chứ?
- À, đúng rồi.
- Được điều động lên tỉnh à?
- Ừ.
- Từ nay về sau, cậu là cán bộ nhà nước rồi đấy.
- …Ừ…
- Tốt quá. Thầy giáo dạy đại học?
- … Ừ.
Đột nhiên Du Thái ngồi nhổm dậy, tấm chăn vẫn khoác trên người, hai chân ngồi xếp bằng tròn.
- Tiêu à, suýt chút nữa thì tôi đã vào không quân rồi đấy, là phi công, là lái máy bay…
- Thật thế sao?
- Tôi nói dối cậu làm gì. Tiêu à, tôi bị ghẻ. Nếu tôi không bị ghẻ, nếu trước kia mẹ tôi chú tâm chữa trị bệnh ghẻ cho tôi, tôi đã trở thành phi công…
- Đúng thế, anh đã có thể vi vu trên trời.
- Ban đầu, thím Hai của tôi đã làm mai mối cho tôi, nhưng đứa con gái nhà họ Đỗ chẳng xem tôi ra gì cả… Cho đến bây giờ, cô ả chẳng qua cũng chẳng ra sao. Tiêu, lão Thái chó chết ấy vẫn còn đang làm bí thư chi bộ chứ? Đứa con gái thứ ba hình như không phải là con của lão, đẹp đến nao lòng, da trắng như men sứ…
Tôi chỉ còn đủ sức ậm ừ trong cổ họng, cả tâm hồn tôi, cơ thể tôi đều đã ngủ… Giường sao mà ấm áp, sao mà dễ chịu thế này!
Sáng sớm hôm sau, Du Thái mời tôi một bữa điểm tâm thật thịnh soạn: Đậu tương, bánh nướng, bánh quẩy, canh rau, lại còn có thêm dưa muối. Sau đó, tôi chính thức đến học viện để trình diện… Sau khi trình diện, tôi được phân cho một chiếc giường.
Một căn phòng nhỏ có ba người ở, trong đó có chiếc giường của tôi.
Mỗi thành phố đều có đặc điểm riêng của nó.
Vậy, tôi ngửi thấy mùi vị gì tại cái thành phố này? Trong gió, trong không khí phải chăng còn có một ít cát?
Nhất định là có cát. Đây là một thành phố cạnh sông Hoàng Hà. Mà đã nói đến lịch sử của Hoàng Hà thì ở trong ấy đã hàm chứa mùi vị của cát.
Tôi đã từng nghiên cứu một cách nghiêm túc về thành phố trên bình nguyên này. Tuy giao thông của thành phố này rất phát triển, nhưng nó lại thuộc về khu vực nội địa của vùng Trung Nguyên nên nhịp điệu cuộc sống ở đây so với một loạt các thành phố khác có vẻ chậm hơn, chính xác là chậm mất nửa nhịp. Nhịp điệu cuộc sống chậm nửa nhịp, người vãng lai ngày càng đông, mối quan hệ giữa người với người tự nhiên trở nên phức tạp hơn một tí. Ở đây, các mối quan hệ của con người là do từng “đơn vị” tổ chức mà thành. Vào ban ngày, “đơn vị” là linh hồn, con người sống trong từng đơn vị ấy; đến đêm, ánh đèn lại chính là linh hồn. Ánh đèn tụ hội nhân khí, cho con người phương hướng. Nếu không có đèn, thành phố chết ngay lập tức. Tôi thật có phúc, thật may mắn, tôi là người có đơn vị.
Thời gian đầu đến thành phố, tôi đã từng hỏi rất nhiều người: Trên mặt tôi có khắc chữ gì không?
Đồng nghiệp của tôi đều cười rồi nói: Không có, không có. Nhưng tại sao ngay cả người bán thức ăn sáng cũng dùng ánh mắt để đánh giá tôi rồi hỏi: Mới đến à? Tại sao tôi phải là kẻ mới đến? Tại sao tôi không thể là người của thành phố? Tôi là giảng viên trong một học viện cơ mà! Tôi đã nhập được hộ khẩu, mọi quan hệ đều đang chuyển biến rất tốt, đã có đơn vị… Sao lại vẫn cứ như thế?
Khi mới đến, tôi có khoảng thời gian thực tập là một năm, là trợ giảng trong khoa. Thái độ của tôi rất tốt: Là người đầu tiên đến cơ quan, đun nước, quét phòng, lau bàn; hết giờ làm việc là người về sau cùng. Gặp ai tôi cũng gật đầu chào, cung cung kính kính nở nụ cười trước các bậc lão thành… Đang đi trên đường trong học viện, một vị giáo sư già đột nhiên quay đầu lại nói với tôi: “Hạt đậu nhỏ? Cái tủ giấy nhà tôi… Ôi dào! Mới đến à?” Tôi rất buồn chán. Tại sao tôi lại biến thành “hạt đậu nhỏ” được nhỉ? Tại sao tôi cứ phải là kẻ mới đến? Da tôi quá đen ư? Quay trở về phòng, lấy kính ra soi mặt mình. Tôi có giống với kẻ mới đến không? Tôi “mới” ở chỗ nào?
Cũng cần phải thừa nhận, tôi là một con chó sói. Trong con người tôi có “tính sói”. Tôi là một con sói đang đội lốt cừu. Tôi quăng thân vào thành phố, nhưng ở trong lòng thành phố tôi vẫn cẩn thận từng ly từng tí để thể hiện cái tư cách và thái độ của một chú cừu. Tôi biết, làm người có học vấn đều là những “con nhím xù lông”, cần có cảm giác về khoảng cách. Không được phép tiếp cận quá mức, không được phép trơ mặt cười khi đối diện với người khác mà chỉ cần gần như gật đầu mà cũng như không gật đầu giống như gặp người đã từng quen biết, sự thân thiết cũng đừng biểu lộ thái quá để khỏi khiến người ta phải nghi ngờ.
Sự mẫn cảm của tôi là do trời sinh, là do sữa của hàng trăm nhà đã cho tôi uống và những thứ ngũ cốc tạp nham ở chốn thôn dã mà tôi đã ăn. Để đến được với thành phố này, tôi đã không ngừng tu dưỡng bản thân. Tôi phát hiện rằng, tôi đi bộ nhanh hơn so với những người bình thường, lúc nào cũng tỏ ra gấp gáp, có lẽ đó cũng là một biểu hiện chưa được thành thục của cái gọi là “mới”. Tôi cần phải chậm lại một tí, phải biểu hiện cho được cái tư thế, cốt cách ổn định, tinh thần nhàn nhã. Nhưng có điều không được quá chậm, quá chậm sẽ dẫn đến trễ nải, cánh cổng chắn ngang cửa lớn sẽ chặn anh lại và hỏi: “Anh tìm ai?” Dưới nách của tôi vẫn phải thường xuyên kẹp hai cuốn sách, hai mắt nhìn thẳng về phía trước, nhìn mà cũng gần như không nhìn, thế mới đúng. Mỗi đêm, một mình tôi lặng lẽ đi lại trong sân vườn học viện, tôi rất muốn tìm ra một vấn đề gì đó…
Trước khi chính thức là một “con sói” đội lốt cừu, tôi vẫn cần phải thích nghi với cái “vỏ bọc”. Thời kỳ ấy, “vỏ bọc” là một từ mới, chưa có nhiều người dùng. Trong thực tiễn cuộc sống, tôi là người đầu tiên phát hiện ra từ này. Do vậy, sau khi nhận lương, tôi lại tự mua thêm cho mình mấy bộ quần áo. Mấy bộ quần áo này được mua ở mấy cửa hàng bán lẻ gần ga đường sắt, tất cả đều là hàng nhái những thương hiệu danh tiếng nhưng tôi không có khả năng để nhận biết được. Cứ như thế, khi đi đứng trong học viện hay ngoài đường phố, tôi đã thấy tự tin rất nhiều, không có ai hỏi tôi là “mới đến” nữa. Tuy vậy, trong thành phố này, tôi vẫn chỉ có một chiếc giường.
Tôi bắt đầu đọc ngấu nghiến, tất cả thời gian rỗi rãi đều được tôi tiêu xài trong thư viện. Những năm thập niên tám mươi của thế kỷ trước là thời đại của học hành, tất cả những cuốn sách mới cho dù là sách nội địa hay ngoại văn đều được tôi tìm đọc; từ lịch sử đến văn học, từ triết học đến tâm lý học; kể cả truyện ký về các danh nhân trên thế giới từ Hegel đến Shakespeare, từ Hitler cho đến Nixon… Đụng gì đọc nấy, vừa đọc vừa ghi chép… Đây chính là vũ khí của tôi. Tôi biết, trong trường đại học, một kẻ thiếu hiểu biết thì rất khó lòng dung nhập và tồn tại. Tôi còn biết, để đối phó với người thành phố, đầu lưỡi tất yếu phải chực sẵn nhiều từ mới.
Phía sau học viện có một ngôi nhà cao tầng hình chữ “công”1 có tên gọi là Triêu Dương. Ngôi nhà chữ “công” này hướng Bắc Nam nên ánh nắng lúc nào cũng chan hòa. Mái được lợp bằng ngói cổ hình ống, tường được sơn màu hồng, hành lang phía trước có rất nhiều cột hình tròn theo kiểu kiến trúc phối hợp Đông Tây. Những lối đi trong ngôi nhà đều được lát gỗ màu nâu sậm. Trong cái vẻ giản dị, chân chất toát lên sự sang trọng và trang nghiêm. Phía trước tòa nhà còn có một khoảnh vườn hoa bố trí theo hình kỷ hà bao gồm những hình đơn giản, vuông, tam giác và tròn, có một hàng cây đinh hương và những loại dây leo màu đỏ bám dày trên những bức tường thấp. Đây chính là nơi ở của các giáo sư và những người có tài năng đặc biệt, mỗi căn hộ có một phòng khách và ba phòng ngủ. Thi thoảng có những cô bảo mẫu nho nhỏ diện đôi giày nhựa màu hồng, vung vẩy cái làn đựng thực phẩm trên tay, đi đi lại lại trên hành lang của ngôi nhà… Đó chính là mục tiêu phấn đấu của tôi.
1. chữ ‘công’ trong tiếng Trung: 工
Cuối cùng thì cơ hội của tôi cũng đến. Một vị phó giáo sư sát giờ lên lớp đột nhiên lăn đùng ra ốm, tôi trở thành kẻ “bổ sung đầy tiềm năng” lâm thời có trách nhiệm “cấp cứu”, được chủ nhiệm khoa cấp tốc tìm đến yêu cầu lên lớp thay cho ông ấy. Tôi hỏi mình cần phải giảng những vấn đề gì, chủ nhiệm khoa nói bài giảng của giáo sư Chu đã được đặt trên bàn ở phòng giáo viên, cậu cứ đọc thật chuẩn là được. Lão Ngụy – chủ nhiệm khoa còn tỏ ra rất thông hiểu mọi chuyện, bảo tôi rằng: “Xét về học bạ, lớp này rất kém, cậu cần nhẹ nhàng một chút…” Do vậy mà tôi được “nhảy cóc” lên bục giảng.
Nhưng nói một cách thực lòng, tôi không hề “nhảy cóc”, tôi đã chuẩn bị cho chuyện này từ lâu rồi.
Không thể tưởng tượng được rằng, lần đầu tiên được đứng trên bục giảng của tôi lại là tại giảng đường dốc lớn nhất của học viện, môn học lại là chính khóa. Tôi mang theo cuốn sổ ghi chép của mình tiến vào giảng đường, trong đó đã có khoảng ba đến bốn trăm sinh viên đang ngồi sẵn. Ban đầu, nhìn thấy trước mắt mình có ngần ấy người, lòng tôi hơi hoảng, nhưng rồi tôi chợt nhớ đến một câu nói – câu nói mà tôi đã từng nghe từ Bí thư chi bộ Thái Quốc Dần: “Tiêu, có một ngày nào đó mày đứng trên khán đài thì bên dưới khán đài, tất cả đều là củ cải, tất cả đều là củ cải xuất phát từ đất…” Tôi đã thông suốt rồi. Tôi là người đang làm công việc dạy dỗ cho những củ cải xuất phát từ đất!
Trước khi lên giảng đường, tôi đã rón rén mở giáo án của Phó giáo sư Chu đọc qua một lượt. Lão Chu đã năm mươi chín tuổi, bài giảng của ông ta chủ yếu nói về những gì đã diễn ra trước Cách mạng Văn hóa, mà tôi cần phải nói về những gì sau Cách mạng Văn hóa. Tôi phải khẳng khái ngẩng cao đầu để dạy cho sinh viên một bài học mới!
Đứng trên bục giảng của giảng đường dốc, sau khoảng vài ba phút trầm ngâm, tôi viết lên bảng ba chữ theo kiểu đại tự: Ngô Chí Bằng. Đây là tên của tôi và tôi biết tất cả sinh viên đang ngồi trong giảng đường đều không hề nghe qua cái tên này. Tôi nghĩ, bắt đầu từ lúc này trở về sau, bọn chúng đều phải biết, phải nhớ đại danh này. Tôi bắt đầu nói:
- Các bạn sinh viên, năm một nghìn tám trăm bốn mươi tám, khi viết “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” tại nước Bỉ, Karl Marx và Engels đã từng viết gì, các bạn có biết không? … Thời kỳ chiến tranh Nam Bắc, câu nói nổi tiếng nhất trong “Diễn văn Gettysburg” của Tổng thống Mỹ Abraham Lincoln như thế nào, các bạn có biết không?... Trong đại chiến thế giới thứ hai, năm một chín bốn mươi, trong một bài diễn thuyết tại cuộc họp của Hạ viện, ông Winston Churchill với tư cách là Thủ tướng nước Anh đã nói một câu nổi tiếng, các bạn có biết không? (Trong thâm tâm tôi muốn nói: Các củ cải kia, tao cần chúng mày im miệng!)… Cứ thế, tôi mở rộng cổ họng mà huyên thuyên cho đến lúc chuông báo hết giờ vang lên mà bọn sinh viên vẫn cứ ngồi im phăng phắc trong lớp học với đôi mắt trợn trừng, và sau đó là những tràng pháo tay ầm ầm vang lên tưởng như không bao giờ dứt.
Đã tan học, nhưng tất thảy sinh viên đều vây lấy tôi. Rất nhiều nữ sinh chen chúc nhau loạn xị đưa vở ghi chép cho tôi đề xuất nhiều vấn đề muốn hỏi. Từng đứa, từng đứa bằng một giọng rất ngọt cất lên:
- Thầy Ngô! Thầy Ngô ơi, em muốn hỏi thầy một câu có được không?
Nói thực lòng, những suy nghĩ tà ám trong lòng tôi đã bắt đầu âm thầm trỗi dậy. Tôi tỏ thái độ bất cần quan tâm nhưng lại vô cùng sắc nhọn đánh giá từng nữ sinh, cái mà tôi gọi là “con mắt thứ ba” của tôi đang tìm kiếm, đang quét qua một lượt tất cả các gương mặt để tìm ra gương mặt đẹp nhất. Mặt trứng vịt? Mặt trái đào? Mày lá liễu? Mày khói sương? Nếu có thể được, tôi sẽ… Có điều, tôi nhất thiết phải giữ gìn. Tôi tự giới hạn cho mình: Phải giữ gìn!
Cho đến bây giờ tôi cũng không thể quên được cái ngày hôm ấy.
Đó là ngày hai bảy tháng Năm. Ngày hai bảy tháng Năm năm một chín tám ba, cũng là ngày thứ Bảy sau khi đứng trên bục giảng. Vì có con số 7 trùng hợp nên tôi nhớ rất kỹ. Chiều hôm ấy, một nữ sinh đến nơi ở của tôi. Tiếng gõ cửa của cô ấy cực kỳ nhẹ nhàng, chẳng khác nào âm thanh tích tích tè tè của điện báo, cứ “cộc cộc”… “cộc cộc”…, cứ hai tiếng thành một tiết tấu, tổng cộng có bốn tiết tấu đều nhau. Khi tôi kéo cánh cửa mở ra, một làn hương thơm men theo ánh sáng ùa vào phòng. Đó không phải là mùi thơm của các loại mỹ phẩm hay nước hoa mà chính là mùi thơm toát ra từ da thịt con gái trong ánh nắng của mùa hè, tràn trề sức sống, ngạt ngào mà thanh tân. Cô ấy đang mang theo ánh nắng, sáng rực, ngại ngùng khép nép đứng trước cửa phòng tôi. Trên cơ thể cô ấy là một chiếc áo liền quần cộc tay màu hồng, da thịt trên hai cánh tay chẳng khác nào màu của ngà voi đang phát ra những luồng ánh sáng lấp lóa bao bọc lấy một hình hài tuyệt mỹ, thơm phưng phức và đầy sức sống, nếu nói theo cách nói của hiện tại thì đó là một hotgirl chuẩn mực về hình thể và thần thái. Tôi có cảm giác là ngay cả ánh nắng cũng đang say trước hương và sắc của cô ấy. Tất cả những gì đang hiện hữu đã chuẩn xác nói với tôi rằng, cái khí sắc ấy có thể làm cho cả thế giới này sáng rực lên. Cũng đúng lúc ấy, tôi mới thấm thía được ý nghĩa “nhà cỏ cũng phát ra ánh sáng chói lọi” của câu thành ngữ “bồng tất sinh huy”. Tôi hiểu rồi, đây là kiểu người sinh ra để làm đẹp cho cuộc đời, mà cũng chỉ có phụ nữ mới có khả năng làm rực sáng cả một căn phòng như vậy!
- Chào thầy Ngô… - Giọng nói sao mà nhẹ - Em là sinh viên khoa Ngoại ngữ, em đã được nghe bài giảng của thầy.
Như bị ai đó đập cho một gậy vào đầu, tinh thần chưa kịp phục hồi, tôi chỉ mở miệng nói được hai tiếng “à… à…” vô nghĩa.
- Xin lỗi thầy, em làm phiền thầy rồi…
- À… à… – Nhưng rồi tôi lại vội vàng nói – À… không, không, không…
Cô ấy cười. Nụ cười của cô ấy sao mà giống với món điểm tâm bánh nướng mật ong – món ăn mà tôi thích nhất thuở nhỏ. Hình như cô ấy cũng đã nhận ra tinh thần đang bấn loạn của tôi.
Đôi mi sao mà dài, đôi mắt sao mà to, mà tròn chẳng khác nào mắt nai! Miệng cũng rộng và hình như lúc nào cũng sẵn sàng nở nụ cười với đôi môi đỏ mọng. Hàm răng sao mà trắng, mà đều đến thế cơ chứ? Vài giọt mồ hôi lấm tấm đang sáng lấp lóa trên sống mũi và hình như mùi vị của mồ hôi từ cơ thể cô ấy sẵn sàng tỏa ra không gian chung quanh bất kỳ lúc nào. Tốt quá! Hoa anh đào đã nở, tốt quá rồi!
Tôi thừa nhận, tôi đang đấu tranh quyết liệt để che giấu, để không cho phép ánh mắt lôi tay tôi vươn về phía đối diện, có điều tôi vẫn không thể nào tự ức chế được sự ham muốn từ bên trong – một ham muốn cực kỳ mạnh mẽ được sờ nắn, được vuốt ve cái cơ thể ấy. Làn da trắng nõn nà mềm mại như tơ đang lay động, đang tiết ra một dịch thể… Trong trạng thái ngất ngất ngây ngây, tôi nghe cô ấy nói:
- Em họ “Mei”, là “Mei Cun”…
- Là “Mei” trong “mỹ lệ” à?
- Dạ, là “Mai” trong “hoa mai” ạ.
- Họ Mai rất hiếm gặp – Tôi nói ngay – Là hậu duệ của Thương Vương hay hậu duệ của Bát Kỳ?
Đôi mắt cô ấy mở to hết cỡ, nhìn tôi đầy vẻ kinh ngạc rồi cười nhẹ, nói:
- Em chưa kịp nói rõ… Em là người vùng Đông Bắc, là dân tộc Mãn.
Nói thực lòng là tôi đã say, tôi đang được nhìn con gái mà nhìn đến say! Có lẽ, thời gian nhẫn nhịn của tôi đã quá lâu, tôi đã thực sự rung động trước cái đẹp non tơ kiều diễm, trống ngực tôi đập thình thình. Tôi say đến bảy ngày, đúng bảy ngày sau tôi mới hồi tỉnh trở lại.
Buổi chiều hôm ấy, tôi có cảm giác là đỉnh đầu của tôi đang có khí lạnh bốc lên. Đó chính là một dạng tập hợp toàn bộ năng lượng, là cảm giác cần phải để cho năng lượng ấy xông thẳng lên!... Đến lúc này tôi đã hoàn toàn quên mất rằng, tôi đã nói với cô ấy những gì. Nhưng một điều tôi biết rất chắc chắn: Tôi đã say!
Nói chung, đã là con người thì tất yếu phải có lúc say, có điều cách say có thể khác nhau. Ông tuyệt đối không thể tưởng tượng được những biểu hiện của tôi sau khi say đâu. Tôi không khác một thằng điên bao nhiêu, phải chạy liên tục trong sân vận động, chạy đến bảy ngày… Mai Thôn, cô ấy tên là Mai Thôn, ở trong ký túc xá nữ sinh, tòa nhà đầu tiên, đối diện với sân vận động. Tôi đã phá lệ để mua cho mình một bộ quần áo thể thao màu đỏ, mặc vào người rồi chạy một cách điên cuồng, chạy cắm đầu cắm cổ trong sân vận động. Đến ngày thứ bảy, suốt cả ngày này đầu óc tôi trở nên choáng váng, mê mê man man, ngay cả việc đi bộ cũng biến thành bước thấp bước cao, bước dài bước ngắn, nhưng tôi vẫn cứ phải chạy. Buổi sáng, khi tiếng kẻng báo thức trong ký túc xá vừa vang lên, tôi đã chạy qua trạm biến áp điện, chạy được một vòng quanh ký túc xá rồi khật khưỡng chạy ra sân vận động, mục đích là để nhìn thấy mặt cô ấy. Buổi tối, đến khi hiệu lệnh tắt đèn trong ký túc xá vang lên, tôi vẫn còn đang chạy ngoài sân vận động, cũng chỉ vì muốn nhìn cô ấy.
Cả ngày hôm ấy, tổng cộng tôi đã nhìn thấy cô ấy được ba lần.
Trong sân vận động có một cái bồn rửa, trên cái bệ xi măng có một hàng vòi nước máy dành cho sinh viên giặt giũ rửa ráy. Có một lần, vào sáng sớm, tôi trông thấy Mai Thôn vừa thức dậy, bê một cái chậu rửa mặt từ trong ký túc xá đi ra, tóc được túm gọn sau gáy thành hình một cái đuôi ngựa, đứng đánh răng trước bồn rửa. Tôi giảm tốc độ chạy, điều chỉnh thời gian đúng vừa lúc cô ấy ngẩng mặt lên thì chạy đến bồn nước, đưa tay lên vẫy vẫy, rất thận trọng và ý tứ cất tiếng chào:
- Chào buổi sáng!
Cô ấy nhìn tôi, cười:
- Chào thầy Ngô, thầy chạy thể dục à?
- À, luyện tập tí thôi mà…
Sau đó, tôi vẫy tay và với vận tốc khá chậm, tôi chạy ngang qua cô ấy.
Lúc ấy, trên mặt Mai Thôn hãy còn vương mấy giọt nước lấp lánh, có lẽ là sau một giấc ngủ ngon nên gương mặt ửng hồng như màu của hoa hải đường, nói văn hoa hơn một tí là hoa hải đường đang vương những giọt sương mai. Nụ cười của cô ấy đã khắc sâu vào tâm khảm của tôi. Lần thứ hai gặp Mai Thôn là vào ban đêm, nhưng chẳng qua chỉ là một hình bóng, một hình bóng mông lung mờ tỏ nhưng trong ấn tượng của tôi, đó là hoa sen trong mùa hạ, hải đường trong mùa thu, tuy khoảng cách khá xa nhưng tôi vẫn thỏa lòng…, chạy trong sân vận động mà tinh thần tôi mông lung, cơ thể tôi bồng bềnh chẳng khác nào trúng tà nhưng trước mắt tôi toàn là hình bóng của cô ấy. Lần thứ ba, vào lúc hoàng hôn, Mai Thôn đứng ở bậc tam cấp của giảng đường hướng về tôi nở một nụ cười nhẹ. Có một luồng ánh sáng rực rỡ cơ hồ có thể xé toạc gấm, xuyên thủng lụa, chẳng khác nào một mũi tên bắn thẳng vào cơ thể tôi… Tôi yêu cô ấy mất rồi, yêu đến độ thần hồn điên đảo, yêu đến độ phát cuồng! Có một đêm nọ, không thể kiên nhẫn hơn được nữa và hình như quỷ dẫn lối ma đưa đường, tôi xông thẳng đến ký túc xá, đứng trước phòng cô ấy, đưa tay gõ “cốc cốc cốc” lên cửa… Nhưng trong những giây cuối cùng, khi bên trong phát ra hai tiếng “ai thế?” thì tôi đã kịp tỉnh lại. Với nhịp tim không bình thường, tôi quay đầu chạy thục mạng, chạy một mạch cho đến khi chui tọt vào khóm cây dương ở phía Nam sân vận động, cảm thấy đã an toàn tôi mới dừng lại, há miệng đớp không khí, dùng những ngôn từ cay độc nhất để tự chửi mình: Mẹ mày chứ! Đồ ngu xuẩn!… Nhưng có điều, những ham muốn chết tiệt của tôi vẫn không chết và cứ thế, tôi phải chạy suốt đêm ngoài sân vận động, vừa chạy vừa gào tên cô ấy trong lòng: Mai Thôn! Mai Thôn! Mai Thôn!
Tôi cần hỏi ông, liệu ông có đủ sức để chịu đựng sự cám dỗ ấy không? Ai có thể đè nén được sự cám dỗ ấy?
Nói để ông hay, tôi đã chịu đựng, đã đè nén được.
Ngày thứ tám, tức là sau khi tiếp xúc với Mai Thôn được tám ngày, ông có biết tôi đã phát hiện được điều gì không? Tôi đã phát hiện ra sự bần cùng của mình, bần cùng từ trong ra ngoài, từ đầu đến chân. Tôi đã từng đánh mất sự tôn nghiêm của mình không một chút tiếc nuối để trở thành tổ viên của tổ kiểm tra vệ sinh khu ký túc xá nữ sinh, lấy danh nghĩa là kiểm tra vệ sinh để có thể đường hoàng đĩnh đạc bước vào phòng của cô ấy. Phòng của cô ấy có bốn chiếc gường hai tầng với tám chỗ nằm. Giường của Mai Thôn nằm ở vị trí cuối phòng, tầng dưới, sát bên cửa sổ. Tôi đứng trước chiếc giường đang tỏa ra một mùi hương dìu dịu ấy khoảng mười giây (thú thật là tôi muốn nằm xuống chỗ ấy quá chừng). Một chiếc ra trải giường màu lam có chèn đường viền bằng vải trông thật nhã nhặn và sạch sẽ. Trên chiếc giá kê ở đầu giường có một chiếc vali da khá đẹp, bên trên là những chồng áo quần được xếp rất gọn gàng. Nói chung là mọi thứ đều ngăn nắp, gọn gàng, ngay cả chiếc chăn bông thoạt nhìn cũng biết là rất đắt tiền, lúc ấy rất khó tìm thấy ở các cửa hàng quốc doanh cũng được xếp có góc có cạnh trông thật đẹp mắt… Bên dưới giường là một đôi giày có gót cao vừa phải, cũng là một loại hàng cao cấp! Trên chiếc bàn xếp nho nhỏ đặt trên giường, ngoài mấy cuốn sách ra còn có một cuốn tạp chí “Điện ảnh đại chúng” và một tập “Chuyên san thơ”. Hình như cô nàng cũng là một đứa con gái thích ăn quà vặt vì tôi phát hiện trên bệ cửa sổ có đến hai hộp bánh khô, một hộp sữa bột, mấy lốc sữa tươi và một số các thức ăn vặt linh tinh khác… Chúng có điểm chung là đều được sản xuất ở Thượng Hải. Trong những năm tám mươi của thế kỷ hai mươi, tất cả những gì có trên chiếc giường của Mai Thôn đều là sản phẩm thời thượng, là những thứ xa xỉ phẩm đắt tiền. Cũng từ đây mà tôi có thể hiểu, gia đình cô ấy thuộc loại có điều kiện, nếu không nói là khá giả. Trong lớp, Mai Thôn cũng là một trong những sinh viên có thành tích học tập khá tốt, lại là sinh viên duy nhất trong lớp “nhận lương” từ gia đình để đi học.
Sau khi thấy và cảm nhận được mọi thứ, trong bụng tôi thầm kêu lên: Trời ạ, mình có nuôi được một phụ nữ như thế này không?
Qua một đêm trắng với những suy nghĩ trong đau khổ, tôi miên man trong những ý nghĩ lộn xộn này: Mày đã muốn làm một người thành phố, mày rất thích cô ấy, mày muốn chiếm lĩnh cái thành trì này…, thế thì, mày cần phải có một kế hoạch săn mồi mang tính chất lâu dài – “kế hoạch lang sói”. Từ từ thôi, chầm chậm thôi! Không được gấp gáp!
Nhưng, cho dù có nói gì đi nữa, tôi cũng đã có mục tiêu thứ nhất trong cuộc đời: Phải theo đuổi cho kỳ được người con gái này, phải cưới người con gái xinh đẹp gốc gác thành phố này về làm vợ. Để thực hiện trót lọt mục tiêu này, tôi tự cảnh báo mình: Cần chờ đợi. Cần có các bước đi tuần tự. Cần nhẫn nại.
Từ hôm ấy, tôi bắt đầu thực thi “kế hoạch lang sói” của mình. Tôi phải viết báo cáo khoa học, tôi phải thi nâng ngạch giảng viên, sau đó sẽ phải viết sách, có viết sách mới có được chức danh phó giáo sư, giáo sư…, tất cả đều cần phải có thời gian… Tôi không chạy trên sân vận động nữa vì thời gian lúc này, mỗi phút đối với tôi đều trở nên quý giá vô cùng. Tôi cần phải mở hết tất cả những lỗ chân lông trên người ra để hấp thụ, để tiêu hóa những cái chữ hình vuông do cổ nhân để lại này…, để sau đó biến nhộng thành bướm. Tôi phải mài mình trở thành một mũi dùi, ngoan cường bám vào một tiêu điểm. Tôi phải như một cánh cung được kéo căng hết mức để sau đó mới có thể phóng ra một mũi tên trúng đích. Tôi phải vác cho được chính tôi và đứng vững!
Cần phải nói điều này, nếu không phải vì những hồi chuông điện thoại đáng sợ ấy, tôi đã có thể cưới một cô nữ sinh xinh đẹp trong trường, sau đó sẽ đeo gọng kính bằng vàng, được thắt khăn nhung màu nâu sậm quanh cổ (đây là mơ ước của tôi thuở thiếu thời), thuận buồm xuôi gió để trở thành giảng viên, rồi phó giáo sư, giáo sư, hướng dẫn thạc sĩ, tiến sĩ… Chỉ cần một lần bước đi nữa là tôi đã có thể trở thành một học giả danh tiếng.
Nhưng chuông điện thoại đã reo!
Lần nhận điện thoại đầu tiên, tôi hoàn toàn không hiểu gì cả.
Trong điện thoại là một giọng già nua khá thực thà:
- …Tiêu à, là chú đây!
Ngay lập tức, lửa bốc lên đỉnh đầu tôi đến ba trượng, tôi nói thầm: Tôi là bà nội của ông đây! Nhưng tôi vẫn hỏi:
- Là ai thế?
Ngay lúc ấy có một giọng đàn bà lọt vào điện thoại: Để tôi nói, để tôi nói chuyện với nó.
Ngay sau đó tôi hoàn toàn câm lặng, một câu hoàn chỉnh cũng không thể nói ra khỏi miệng, chỉ ngắc ngứ từng tiếng. Nói điện thoại là người đàn bà nhà Quốc Thắng, căn cứ vào thân phận thì tôi phải gọi bà ấy là thím. Thuở bé tôi đã bú sữa bà ta, trên vú có cái bớt màu đen…
- Thím Ba…
- Cháu… Tiêu à, thím Ba của cháu từ trước đến nay chưa hề nói với cháu câu nào…
- Thím nói đi…
- Cháu à… Thằng con trai của người anh của thím đã thi đại học… Cháu ở thành phố, xem thử có cách gì giúp…
- Thím Ba à, nó thi được bao nhiêu điểm? Đăng ký thi vào trường nào? Có phải là nguyện vọng một không?
- Thế này nhé, để chú nói. Đây là em ruột của thím, là chú của cháu. Để cho chú ấy nói…
Sau đó thì tôi không còn lời nào để mà nói được nữa. Tôi không thể nói với bà ấy điều này: Mặc dù thân xác tôi đang ở thành phố nhưng tôi chẳng là cái gì cả. Tôi chỉ là một trợ giảng, tôi chỉ có duy nhất một chiếc giường đơn… Tôi không thể nói rõ ràng được, chỉ có thể trả lời:
- Được rồi, để cháu thăm dò thử xem…
Trước khi cúp điện thoại, thím Ba còn dặn dò:
- Cần phải bỏ tiền thì cứ bỏ tiền, cần tặng quà thì cứ tặng quà, sau này thím sẽ trả đủ lại cho cháu!
Câu này có vẻ nặng nề quá. Thời kỳ đói kém, tôi đã từng bú sữa của bà ấy, cho nên bây giờ tôi không thể không thăm dò. Nhưng tôi sẽ hỏi ai đây? Đầu tiên tôi tìm đến chủ nhiệm khoa. Chủ nhiệm khoa họ Ngụy mách nước:
- Cậu đến Phòng tuyển sinh của Viện ta hỏi thử xem. Người của phòng này cũng thường làm việc với Ban tuyển sinh của tỉnh, có lẽ họ quen biết nhau.
- Em không hề quen biết với bất kỳ một ai trên Phòng tuyển sinh, thế em phải tìm ai?
Chủ nhiệm khoa nhìn thẳng vào mặt tôi, nhìn lâu đến độ tôi đỏ mặt rần rần, sau đó mới nói:
- Cậu đến xin gặp Trưởng phòng Hách, tôi sẽ gọi điện cho ông ấy trước.
Trong những ngày hè oi bức ấy, để tìm Trưởng phòng Hách, trong vòng ba ngày tôi đã có tổng cộng mười tám lần chạy đến phòng làm việc của ông ta. Tôi vẫn còn nhớ, Trưởng phòng Hách là một người mặt rỗ, rỗ đến chằng chịt và hay trốn ở một nơi rất vắng vẻ để tránh né những cuộc gặp mặt… Thế là buộc lòng tôi phải tận dụng mọi mối quan hệ trong học viện mỏng như những tờ giấy vừa xây dựng được nhờ vào những nụ cười, thậm chí tôi còn có thể vác cái bộ mặt tẽn tò của mình tìm đến một số sinh viên con cái những gia đình có máu mặt trong thành phố để nhờ vả… Cuối cùng, sau bao nhiêu lần hỏi qua hỏi lại, tôi cũng đã mò mẫm ra số điểm mà “con của người anh của thím” – nói chung là người thân của thím Ba đã đạt được trong kỳ thi đại học vừa rồi.
Thành tích của nó là ba trăm ba bảy điểm. Năm ấy, điểm sàn để được xét tuyển vào đại học thống nhất trong toàn quốc là ba trăm ba tám điểm, nó thiếu một điểm. Thiếu một điểm là không có bất cứ một hy vọng nào cả. Tôi cũng lấy làm tiếc nuối thay cho nó. Chuông điện thoại lại reo lên nữa rồi. Là thím Ba gọi điện đến, thím hỏi dồn dập:
- Tiêu à, thế nào rồi cháu? Chuyện thằng bé con của chú thế nào rồi?
- Không được gì cả thím à – Tôi nói – Cậu ấy thiếu một điểm.
- Được bao nhiêu điểm?
- Ba trăm ba bảy điểm, thiếu một điểm.
- Chỉ là một điểm thôi mà – Thím Ba nói hết sức rành rọt – Cháu nói thêm một tiếng để người ta cho nó đỗ.
- Thím Ba ơi – Tim tôi giật thột – Chuyện này có phải do cháu quyết định đâu mà bảo cháu nói một tiếng là xong. Đây là điểm sàn đã được thống nhất toàn quốc, không ai có thể thay đổi được đâu…
- Tiêu! Không phải là cháu đang ở trên tỉnh à?
- Cháu… cháu… cháu…
- Tiêu à, đây là lần đầu tiên thím cầu xin cháu – Thím Ba hạ giọng – Cháu có làm được không? Ngày xưa, cháu không chỉ mút mà còn cắn nữa, núm vú của thím đã bị cháu cắn cho nát nhừ… Bao nhiêu là sữa của thím nhưng thím đã thu của cháu đồng bạc nào đâu… Tiêu à, ngày mai thím sẽ đưa người anh em của cháu đến tìm cháu, cho dù trời có sập đi chăng nữa, cháu cũng phải giúp thím cho bằng được!
Ngay trong đêm ấy, tôi cắn chặt răng, mím chặt môi cầm hai tút thuốc lá, hai chai rượu đến nhà Trưởng phòng Hách. Tôi muốn cầu xin ông ta ra tay cứu giúp để cho “con của chú” đỗ đại học, cứ xem là qua chuyện này, tôi đã làm được một điều tốt cho người trong thôn. Đêm ấy, trước tiên là tôi thăm dò các ngả đường dẫn về nhà Trưởng phòng Hách, sau đó “men theo dây mà hái được dưa”, tôi tìm ra căn nhà tập thể số 302 trên tầng ba của khu nhà số 2 nằm trong một khu hành chính của tỉnh (nghe đâu là Trưởng phòng Hách có một người dì ruột đang làm việc trong khu ấy, ở đó có một căn phòng trống và ông ta xin trốn vào đó). Đèn trong phòng đang sáng, chứng tỏ tôi đã tìm đúng chỗ cần tìm. Đây là lần đầu tiên tôi đơn thương độc mã đến tìm người ta để nhờ vả, hầu như không có kinh nghiệm gì nên hình như có một con thỏ đang nhảy nhót trong lồng ngực tôi, sợ nhất là có ai đó nhìn thấy. Tôi đứng rất lâu ở chân cầu thang, ba lần đi lên tầng ba rồi lại đi xuống, mỗi khi tôi thu hết can đảm tiến lên tầng ba, đi về phía cánh cửa định đưa tay lên gõ thì lại có một ai đó đi từ trên lầu xuống hoặc từ dưới đi lên… Trong bóng đêm tôi chợt phát hiện ra rằng, người ta tìm đến chỗ này quả nhiên không phải là ít và có lẽ, họ đều là người “đi tìm lối thoát” giống như tôi. Tôi nấp trong bóng tối phía sau các bậc cầu thang nghe thấy lời qua tiếng lại của một đôi nam nữ từ tầng trên đi xuống, tiếng của người đàn bà: Một nghìn có đủ không? Có ít quá không? Tiếng người đàn ông: Đủ rồi, đủ rồi. Mình còn có tờ giấy viết tay của Cục trưởng. Toàn người quen cả mà. Cầu thang rất tối, tôi chỉ nghe tiếng giày tiếng guốc lộp cộp và mờ mờ nhân ảnh, không thể nhìn rõ mặt nhưng tôi biết, họ với tôi lúc này hoàn toàn giống nhau… Chờ cho người lên xuống vắng dần, tôi mới bắt đầu leo lên cầu thang.
Sau tiếng gõ cửa của tôi, Trưởng phòng Hách xuất hiện trước cửa và vẻ sững sờ hiện rõ trên mặt ông ta:
- Ngô Chí Bằng, sao cậu lại đến đây?
Đúng là một Trưởng phòng không tồi chút nào. Học viện lớn đến thế, người đông đến vậy, tôi với ông ta chỉ thoáng gặp nhau có vài lần nhưng ông ta vẫn nhớ chính xác tên của tôi! Sau một thoáng kích động, tôi nói:
- Chào thầy Trưởng phòng…
Trưởng phòng Hách lắc lắc đầu, hình như không cho tôi nói thêm, đưa tay ra và nói với vẻ miễn cưỡng:
- Vào đi… Vào trong rồi hãy nói…
Tôi nhanh chóng tuồn vào phòng. Sau khi đóng cửa, Trưởng phòng Hách mới nhìn thấy trong tay tôi có một chiếc túi…
- Chí Bằng, bài giảng không hề tồi chút nào… - Ông ta nói với vẻ không bằng lòng – Sao lại học theo cái kiểu này?
- Trưởng phòng à, chú tôi có một đứa con…
Không chờ tôi nói hết câu, Trưởng phòng Hách đã mỉm cười, lại lắc lắc đầu hình như đã hiểu vấn đề nhưng hình như cũng có chút khó xử, bất giác đưa tay lên vuốt tóc. Tóc ông ta không còn nhiều, những sợi lơ thơ phía trước trán đã được bôi keo để dán chặt lên đỉnh đầu, nhìn rất bóng loáng. Sau khi vuốt tóc xong, Trưởng phòng Hách mới lên tiếng một cách hết sức nhẹ nhàng:
- Ngồi xuống đi.
Tôi ngồi xuống chiếc ghế salon, tâm trạng bất an, ngọ ngoạy cái mông giây lâu rồi mới đặt cái túi lên khay đựng trà có sẵn trên bàn.
Không thể ngờ được rằng, thái độ của Trưởng phòng Hách đột nhiên thay đổi. Ông ta lừ lừ đưa mắt nhìn tôi, thái độ cực kỳ nghiêm túc, hơi sẵng giọng:
- Tiểu Ngô à, không phải là tôi phê bình cậu. Cậu vẫn đang còn trẻ lắm, không nên như thế này. Sao cậu lại thế này… - Tiếp theo, không hề tiếc lời, ông ta cao giọng – Nói để cậu biết, tôi không gặm nhấm được những thứ này. Cầm lấy đem về. Có việc gì cứ nói, còn mấy thứ này nhất thiết phải mang về…
Những câu chì chiết của ông ta còn nhiều nữa khiến tôi phát run, phát hoảng. Tôi biết, thuốc lá và rượu của tôi là đồ chua đồ lạnh (tức là không phải rượu quý thuốc ngon, tôi không có đủ tiền để mua loại quý nhất, ngon nhất). Tôi cũng là hạng người “chua lạnh” nên trong tay tôi không hề có mảnh giấy viết tay của lãnh đạo nào đó.
Tôi đã khóc, khóc trong lòng. Tôi không biết rồi mình sẽ phải ăn nói thế nào với thím Ba…
Tiếp sau đó, chuông điện thoại reo càng lúc càng nhiều, dăm bảy phút lại réo lên lảnh lót. Lòng tôi đau quặn từng trận, từng đợt chẳng khác nào đang bị nướng trên ngọn lửa. Tôi biết mình đang mắc nợ họ, mắc nợ quá nhiều nhưng không biết phải nói như thế nào… Trong lòng tôi nghĩ, tại sao mình không phải là tỉnh trưởng nhỉ? Nếu là tỉnh trưởng, tôi sẽ làm hết cho họ. Tôi rất muốn làm điều gì đó, cho dù là thối nát, nhưng tôi không có điều kiện để làm những điều thối nát!
Cuộc điện thoại thứ hai trăm hai mươi bảy mà tôi nhận được gọi đến từ Cục Công an Khu Đông thành phố. Tôi cầm lấy ống nghe, trong điện thoại là tiếng một người đàn ông:
- Anh họ Ngô phải không?
- Vâng.
- Ngô Chí Bằng?
- Đúng rồi.
- Mang tiền đến. Mang tiền đến để nhận người.
- Sao lại có chuyện này?
- Anh hỏi tại sao à? Làm anh trai như anh mà được sao? Em gái của anh đã làm chuyện gì mà anh không biết sao?
Mang đến tám trăm đồng để nhận người về, mang về nhà lo mà giáo dục.
- Ông là ai? Tôi không có em gái, dựa vào đâu mà tôi phải mang đến đó tám trăm đồng?
- Tôi ở Đồn Công an Khu Đông. Cô gái này tên Thái Vĩ Hương, anh có biết không?
Chần chừ giây lát, tôi nói:
- Biết, nhưng nó làm sao?
- Anh hỏi làm sao à? Trong phòng mát xa chân, cô ta đã đập vỡ cửa kính của người ta… Anh đến nhận người không? Anh không nhận, chúng tôi tống cô ta vào trại cải tạo lao động ngay.
- Chờ chút, chờ chút… Có thể giảm bớt cho một ít không?
- Anh đang đi mua khoai hay sao mà còn trả giá? Đây là tiền phạt!
- Thế… thế thì… Đồn Công an ở chỗ nào?
- Đồn Công an ở chỗ nào à? Anh nói thử xem, nó ở chỗ nào? Anh không được hỏi!
“Cạch!” một tiếng gãy gọn, điện thoại tắt ngấm.
Trời ạ! Ngày ấy lương tháng của tôi bảy mươi chín đồng, nhưng trước đó chỉ là năm mươi hai đồng, vừa được tăng trong tháng này, há mồm ra là anh ta nói tám trăm đồng, tôi lấy đâu ra tiền? Nhưng nó là con gái của dượng tôi, tôi đã tìm con bé hơn hai năm nay, không thể không cứu nó.
Trên đường đạp chiếc xe đạp cà tàng đến Đồn Công an Khu Đông, những tiếng kêu ong ong cứ vang lên trong đầu tôi, toàn thân chẳng khác nào một thùng thuốc nổ, suýt chút nữa đâm phải người đi bộ trên đường. Tôi muốn chửi ai đó, thậm chí còn muốn giết người! Thật không dễ dàng gì để xây dựng được những quan hệ ở cái thành phố này và với những gì đã thiết lập được, tôi đã dùng đến cạn kiệt, tôi đã mượn tiền khắp nơi để lo chuyện của người khác. Tôi không còn cơ hội mượn được tiền của ai nữa rồi, đồng nghiệp nhác thấy bóng tôi là đã vội vàng lảng tránh vì sợ tôi lại tiếp tục hỏi mượn tiền. Nhưng không còn cách nào khác, tôi đành phải tiếp tục mượn thôi…
Đường đường là một giảng viên đại học nhưng khi đặt chân đến trụ sở đồn công an, trông tôi chẳng khác nào một đứa trẻ con, gặp bất kỳ ai cũng khúm na khúm núm cúi đầu chào, sau đó là hỏi thăm đường và cuối cùng cũng tìm được phòng làm việc của Đội Trị an. Một cảnh sát béo mập hỏi:
- Cậu là Ngô Chí Bằng? Có mang tiền đến không?
- Có ạ.
- Không phải là em ruột của cậu à?
- Chẳng qua chỉ là người cùng thôn.
- Ồ! Cậu đợi tí nhé – Bước đi được vài bước, anh ta quay đầu lại, nói tiếp – Cô gái này thuộc loại có hạng rồi đấy. Tôi đã bắt cô ta hai lần, đã giáo dục nhiều mà không sửa đổi. Nếu không biết cô ta đang mang thai, tôi đã cho cô ta vào trại cải tạo lao động rồi.
Tôi hoảng kinh, lắp bắp hỏi:
- Nó… nó đang mang thai sao?
Khi nhìn thấy Thái Vĩ Hương, cái đập vào mắt tôi trước tiên là con bé ăn mặc quá thiếu vải, hở hang đến độ người ta không dám nhìn thẳng vào nó. Phần thân trên, con bé mặc chiếc áo thun ngắn màu vàng nhạt hở cả nửa khuôn ngực, phần bên dưới là một cái quần chẳng ra quần, váy chẳng ra váy cũng màu vàng nhạt và rất ngắn, ngắn đến độ không thể ngắn hơn được nữa, đầu tóc thì trông chẳng khác nào một cái tổ quạ, chân mang đôi dép lê màu đỏ… Nói chung, con bé giống một con gà hơn là một đứa con gái. Tuy đang là mùa hè nhưng hình như nó đang đóng băng, hai vai co rúm, toàn thân như cong lại… Thoạt đầu, tôi không hề nhận ra đó lại là Vĩ Hương. Đứng trước mặt viên cảnh sát, con bé còn cất giọng rất ai oán:
- Anh à, sao bây giờ anh mới đến?
Rời khỏi trụ sở công an, tôi muốn gọi điện cho dượng với dự định là yêu cầu ông ấy lên thành phố để đưa con bé về nhà. Nhưng hình như đoán được ý định của tôi, Vĩ Hương trợn mắt, hỏi cộc lốc:
- Nộp bao nhiêu?
- Tám trăm.
- Được rồi, tôi sẽ trả cho anh – Tiếng của nó như rít qua kẽ răng - Nhưng đừng như lần trước, không cho phép anh nói chuyện này với bố tôi, không được nói một lời nào với mọi người trong thôn về chuyện đã gặp tôi. Nếu không, tôi sẽ công bố rằng, cái thai trong bụng tôi là của anh, anh có tin là tôi dám làm vậy không…
Tôi không có lời nào để đáp trả cả. Cách nói năng này có khác nào ngôn ngữ của bọn lưu manh thành phố? Cố nén những suy nghĩ của mình, tôi mềm giọng:
- Hương à, anh mua cho em một vé tàu, em về nhà nhé.
- Tôi không về. Chừng nào chưa thành một cái thá gì ở đây, tôi quyết không về.
- Hương, dượng đã phát điên…
- Đừng nói đến ông ấy, đừng đụng chạm đến bố tôi!
- Thế em… cứ thế này à…?
- Anh nói câu này liệu có ý tứ gì không? Anh đã chiếm hết những gì tốt nhất rồi. Bố tôi đã cho anh tất cả những gì tốt nhất rồi. Mọi cơ hội đều đã bị anh chiếm dụng hết rồi, anh hãy còn muốn gì nữa nào?
- Nghe anh nói đã… Em… đã bị bắt đến hai lần rồi, nói đi, em sẽ…
- Cơ hội của anh không phải là do đút lót mà có được hay sao? Bố tôi và anh bán cái gì được cứ bán, còn tôi, tôi bán chính tôi, tôi không bán đứng anh. À, đau lòng vì tiền chứ gì, tôi nói rồi, tôi sẽ trả lại cho anh.
- Anh đau lòng vì em…
- Đừng như thế, anh Tiêu. Anh là người có tiếng tăm, tôi là kẻ loạn tặc, đường ai nấy đi thôi.
Đó đã là lần thứ hai tôi gặp Vĩ Hương. Sau khi được điều động về thành phố, đó là lần duy nhất trong đời tôi bước vào một tiệm mát xa chân, mà người rửa chân cho tôi lại chính là đứa em họ của mình… Tôi biết con bé rất hận tôi, nó cũng hận bố của nó. Nó là một hạt giống mang trong lòng một sự hận thù và trong mắt nó, thế gian này đầy rẫy loài kiến dữ. Từ nhỏ tôi đã rất thông thạo với các loài kiến, không ngờ rằng các loài kiến này đang chất đầy, thậm chí là làm tổ trong mắt Vĩ Hương. Mắt của các loài kiến có màu đen!
- Trong bụng em…
- Việc này không mượn anh phải lo. Tôi đã có cách.
- Thế thì…?
- Anh đi đường anh, tôi đi đường tôi. Tiền, tôi sẽ trả cho anh nhưng hãy nhớ kỹ điều này, không được nói gì với bố tôi!
Nói xong, con bé nhập vào dòng người đang xuôi ngược trên đường, thoáng cái đã mất tăm.
Tôi dắt chiếc xe đạp đứng thẫn thờ trên vỉa hè. Tất cả như đang tan vỡ, đổ sụp dưới chân tôi.
Cái “gánh nặng” trên vai tôi quả nhiên là quá nặng, một đứa con gái thôn Vô Lương cũng đã đánh gục được tôi. Tôi rất muốn mình có thể nhẹ nhàng hất cái “gánh nặng” ấy xuống đất và đứng ở một nơi thật cao để quan sát mọi việc diễn ra trước mắt mình. Tôi muốn nói: Tôi chỉ là một đứa con mồ côi, tôi với các người có quan hệ gì? Nhưng tôi không thể làm được như thế.
Tôi rất sợ phải nghe những cú điện thoại gọi đến. Hễ mỗi lần tiếng chuông điện thoại reo lên là da thịt tôi ớn lạnh, phát run, toàn thân tê dại! Cho đến lúc này tôi cũng chưa thể tìm ra ai là người nói số điện thoại nơi làm việc của tôi ở đơn vị cho người thôn Vô Lương nữa. Tôi đã từng nghi là do Du Thái và trong lòng, tôi thầm chửi anh chàng Ngô Hữu Tài kia không biết bao nhiêu lần. Không phải là tôi cũng chỉ tạm trú ở chỗ anh có một đêm hay sao? Sao anh lại bán đứng tôi như thế?...
Nghĩ vậy nhưng trong thâm tâm tôi vẫn biết, chuyện này không quan hệ gì lắm với Du Thái. Từ khi chia tay, hầu như Du Thái chưa bao giờ tìm đến tôi. Tôi nghĩ, đại khái là mình đã trở thành một cọng rơm của thôn Vô Lương, nhưng lại là một cọng rơm có thể nắm được trong tay… Một ngày nào đó, họ gặp phải chuyện khó khăn nào đó, quá bức thiết phải cần đến một sự trợ giúp nào đó của một “quan lớn”. Nhưng tôi nào có phải là “quan lớn”!
Mỗi khi có điện thoại gọi đến tìm tôi, tôi bèn túm chặt lấy ống nghe rồi xổ một tràng tiếng Bắc Kinh: A lô! Ông/bà là ai? Ai?... Ông/bà tìm ai… A lô! Tìm người họ Ngô à? Cái gì? Chữ Ngô có “khẩu” ở trên chữ “thiên” ở dưới à? À, anh ấy không có ở đây, không có. Đi công tác rồi… À, lúc nào thì về à? Rất khó nói… Hay như: A lô! Tìm ai ạ? Vương? Ở đây không có ai họ Vương cả. Hồ à? Cũng không có người này. Gọi nhầm số rồi. Đây là cơ quan nhà nước… Hay như: A lô! Thỏ? Làm gì có thỏ ở đây? Ai là thỏ? Ông? Ông/bà tìm… Tiêu à? Ai mất đồ đạc thế? Tìm đến công an nhé!... Kẹt lắm thì thế này: A lô! Tìm Ngô à, khẩu trên thiên dưới, Ngô Chí Bằng, đúng không? À, hình như… có người này. Nhưng anh ấy đi rồi… Đúng rồi! Đã rời khỏi nơi này rồi, được cấp trên điều động đi nơi khác rồi?... Đơn vị nào à? À, chuyện đó thì tôi không biết… Thậm chí tôi còn cố tình nói với giọng rất lưu manh với người gọi đến, đại khái là: A lô! Tôi là ai à?... Tôi là Quốc vụ viện, Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa… Tôi điều động ông/bà mười nghìn tấn tiểu mạch… Ông/bà là ai… Tôi là ông nội của ông/bà…
Không ai tự nguyện sống trong nỗi hổ thẹn giày vò đến như vậy. Mỗi lần buông ống nghe xuống, tôi cố gắng để cho nước mắt lặn sâu vào trong lòng mình. Tôi nhìn thấy cánh đồng lau sậy vô biên, tôi trông thấy những chiếc chuồng nhốt gia súc, tôi còn trông thấy con trâu già đang trừng mắt chửi tôi đến độ nước bọt vung tung tóe: Ngô Chí Bằng! Mày bú sữa người ta nhưng chẳng khác nào ăn phải phân heo, uống phải nước đái lừa! Đúng là không phải con người!
Tôi chạy trốn các cuộc điện thoại như chạy trốn một bệnh dịch. Cũng có đôi lần, tôi cố tình xem ống nghe điện thoại là một phương tiện để biểu diễn những trò chơi ác độc. Mỗi khi chuông điện thoại reo và khi biết đang có người tìm tôi, tôi cầm ống nghe lên rồi kiên quyết không thèm nói những ngôn ngữ của con người, cũng không nói tiếng Trung Quốc mà hét vào trong ống nghe một tràng những âm thanh quái gở chợt nghĩ ra được: first, second, third, forth… Nghe những thanh âm này, người đang ở cách xa tôi hàng vài trăm cây số kia cứ đinh ninh là đang nghe tiếng gầm rú của thiên lôi thổ địa nào đó.
Cũng có khi, tôi không thể trốn tránh được mãi. Có một lần, một nữ đồng nghiệp gọi tên tôi đến để nghe điện thoại, tôi không thể không nhận lấy ống nghe… Nhưng sau khi nghe xong, tôi đâm ra hối hận. Cuộc gọi ấy là của dượng tôi, tôi không dám nói xằng nói bậy hoặc chối từ. Dượng tôi nói:
- Tiêu à, có chuyện rồi…
Vừa nghe đến đây, tim tôi đã lặng ngắt, cố gắng lấy hết can đảm hỏi:
- Chuyện gì ạ?
- Thím Sáu của cháu, cũng chính là dâu nhà họ Ấn, cháu còn nhớ không? Cháu cũng đã từng bú sữa của bà ấy. Cháu nội bà ấy, con gái, ba tuổi, năm ngoái rơi xuống sông chết đuối…
Tôi chỉ ậm ừ cho xong chuyện, không dám nói chêm vào câu gì. Dượng tôi nói tiếp:
- Cháu đang nghe đấy chứ?
- Dạ, điện thoại bị tạp âm nhiều quá, nhưng cháu đang nghe, đang nghe đây…
- May mà con dâu của bà ấy lại mang thai, hai vợ chồng Khôn Sinh lén lút đưa nhau đến bệnh viện huyện khám thai, té ra là “thai rồng thai phượng” …
Nói gì thì nói, đây cũng là một tin buồn nhưng liền theo đó là một tin vui. Tôi nhẹ nhàng thở ra một hơi thật dài… Nhưng liền sau đó, tiếng dượng tôi rất rành rọt vang lên trong ống nghe:
- Lần này họ đang lên thành phố đấy…
Ngay lập tức, tim tôi như nhảy dựng lên, giọng của tôi đã có sự thay đổi rõ rệt, bắt đầu run:
- Sao vậy hả? Tại sao thế?
- Đẻ khó, bác sĩ bảo phải mổ… Tiêu à, dượng nhờ con tìm một bệnh viện nào tốt một chút để hai đứa nhỏ được sinh ra bình an, mẹ tròn con vuông, nếu không thì trời sẽ sụp xuống nhà họ cho mà xem.
- Được ạ, được ạ – Tôi cố lấy giọng cứng cáp.
Nói vậy nhưng trong lòng tôi đang vang lên một âm thanh: Mày lại cần đến quan hệ nữa rồi. Phải tìm ai bây giờ? Nhất thiết phải tìm, không thể không tìm. Đôi khi tôi có cảm giác rằng ai đó đã khắc lên mặt mình hai chữ “bán mặt” và thôn Vô Lương đã phái tôi lên thành phố để tôi “bán cái mặt” của chính tôi… Sau khi bôn ba chạy khắp nơi để cầu cứu, nhờ người trên, xin người dưới để đưa được sản phụ vào bệnh viện, tôi mới thở phào một cái nhẹ nhõm cả người, tự thưởng cho mình một cảm giác là đã giúp được người trong thôn một việc tốt.
Có điều, chỉ mấy ngày sau, một sự việc khác lại phát sinh. Chiều hôm ấy, khi tôi vừa rời khỏi giảng đường, Khôn Sinh – con trai của thím Sáu đến tận học viện để tìm tôi. Anh ta đứng ngoài giảng đường, gương mặt khổ não nhăm nhúm trông chẳng khác nào một trái dưa non bị đứt cuống lâu ngày, đôi lông mày nhíu lại chẳng khác nào một lát gừng bị phơi dưới nắng khô cong lại. Lòng nặng trình trịch, tôi hỏi:
- Sinh rồi à?
- Sinh rồi.
- Là thai rồng thai phượng chứ?
- Vâng, là rồng… là phượng…
- Đại hỷ rồi!
Thật không ngờ, Khôn Sinh từ từ quỳ xuống đất, ngay bên ngoài giảng đường, ngay trước mặt tôi, nước mắt ướt nhòe cả khuôn mặt.
- Anh Khôn Sinh… Anh làm gì thế?
- Tôi đã nhìn thấy Diêm Vương… - Khôn Sinh nói như mê mê sảng sảng.
- Ai? Thấy ai?... Chuyện gì thế?
- Diêm Vương đang giơ cái móc câu lôi hồn lôi phách lôi cả con người đến rồi… – Khôn Sinh nói lí nhí.
- Anh đứng dậy, đứng dậy rồi nói. Cuối cùng là đã có chuyện gì?
- Người anh em à, cậu là quý nhân, học vấn nhiều, anh cho hai đứa con của tôi một cách để sống...
- Đứng dậy đi! – Tôi nói gần như quát.
Rất đột ngột, anh ta nhào đến ôm lấy đôi chân tôi:
- Liệt não! Bác sĩ nói liệt não!... Người anh em, cứu con tôi với!
Như bị nện một búa vào đầu, não tôi tạm thời tê liệt. Tôi phải làm gì bây giờ? Khôn Sinh vẫn ôm chặt lấy chân tôi:
- Người anh em à, đứa con gái bị liệt não nặng tôi không dám nói. Nhưng thằng cu bị nhẹ hơn, cậu phải giúp tôi, giúp nó. Tôi cầu xin cậu.
Tôi nắm lấy tay anh ta lôi đứng dậy, có điều chính hồn phách của tôi cũng bay ra khỏi cơ thể tôi, chỉ biết lúng búng:
- Đừng vội vàng, đừng quá lo lắng, nghĩ cách…, chúng ta cùng nghĩ cách gì đó…
Trong lúc nói những câu vô thưởng vô phạt này, đột nhiên tôi phát hiện được một điều, trước mắt tôi là một cái động không đáy mà chính anh ta là người đẩy tôi xuống cái động ấy. Tôi sợ hãi và trong đầu ngay lập tức thoáng qua một ý nghĩ: Chạy trốn!
Lúc ấy, Khôn Sinh gần như đã mê man, cứ túm chặt lấy tay tôi như một kẻ điên, luôn miệng nói:
- Tiêu à, người anh em à, tôi không còn cánh cửa nào để cầu xin cả, chỉ biết đến tìm cậu. Chị dâu của cậu đã bị mổ bụng vẫn đang nằm ngửa trên giường, cả ba người lớn lẫn trẻ con vẫn còn đang nằm trong phòng hồi sức cấp cứu… Một đêm nằm ở đó phải nộp năm nghìn bảy, tôi mang theo được ba nghìn, tất cả đều gom góp từ bà con dưới quê… Người ta nói tôi phải nộp đủ hai mươi nghìn, nếu không nộp thì họ sẽ cắt thuốc! Người anh em à, con gái thì tôi không cần, tôi không cầu xin cậu, nhưng thằng cu này nhất định phải cứu. Cậu cứu nó…
Nói chưa dứt câu, Khôn Sinh lại chuẩn bị quỳ xuống. Tôi đưa tay chặn lại không cho anh ta quỳ, lặp lại câu hỏi:
- Liệt não?
- Đúng, liệt não – Anh ta đáp lại như một cỗ máy.
- Anh đừng quỳ trước mặt tôi như thế - Tôi nói với giọng vỗ về - Đi, tôi đưa anh đến chỗ này…
Trước mặt tôi là một cái động không đáy. Tôi không thể tiếp tục hỏi mượn tiền nữa, mà dẫu có hỏi cũng chẳng có để mà mượn nữa. Tôi tự nhủ thầm, mình không cần cái bản mặt của chính mình nữa, cái mặt của mình đã biến thành một tờ giấy mỏng tang, tôi không thể tiếp tục mắc nợ nhân tình. Tôi đưa Khôn Sinh ra đường phố và chúng tôi đi giữa biển người mênh mông mà không có đích đến. Màn đêm đã buông xuống, khắp nơi toàn là ánh đèn, đèn màu, đèn neon… lấp loáng, ánh sáng của nó làm lòng tôi thêm hoảng sợ. Tôi ngước nhìn trời cao và chợt mơ ước có một túi tiền từ trên cao rơi xuống lúc này thì hay biết chừng nào mặc dù vẫn biết chắc rằng, trời chẳng cho ai đồng tiền nào cả… Khôn Sinh đi sát sau tôi, lầm lũi, đầu cúi gằm. Tôi muốn chạy trốn khỏi anh ta, vừa đi vừa nghĩ cách làm thế nào để có thể rời khỏi anh ta. Nhưng nói một cách thành thật nhất, vào lúc ấy tôi có thể co giò chạy biến vào đám đông bất cứ lúc nào, nhưng tôi không làm chuyện ấy.
Trong những bước chân nặng nề, đột nhiên tôi đã tìm ra một cách để thoát khỏi Khôn Sinh. Tôi đưa anh ta đến trước cổng một tòa soạn báo, đưa tay chỉ vào trong, nói:
- Anh Khôn Sinh à, không phải là tôi không muốn giúp anh, người anh em của anh lương tháng chỉ vỏn vẹn bảy mươi chín đồng, người trong thôn Vô Lương không ngày nào không tìm đến tôi, từ sáng đến tối, tôi đã mắc nợ người ta quá nhiều rồi, bây giờ có đập chết tôi cũng chẳng mượn được số tiền quá lớn như thế - Dừng một lát, tôi tiếp lời - Bây giờ, tôi bày cho anh một cách…
Thần sắc Khôn Sinh hình như càng tối tăm hơn, đôi mắt nhìn tôi ngây ngây dại dại:
- … Cậu bảo tôi đi cướp ngân hàng chăng?
Cướp ngân hàng! Một tia chớp thoáng qua trong đầu tôi và tia chớp ấy khiến tôi đứng lặng người. Tôi cũng đã từng thấy ngân hàng, tôi cũng đã thấy tấm bảng hiệu to tướng “Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa”… Đúng rồi! Người gặp phải đường cùng, tiến không được mà lùi cũng không xongthì suy nghĩ sẽ hướng về những điều xằng bậy, âu đó cũng làđiều tự nhiên thôi.
- Anh tìm đến cái chết à? Ai bảo anh đi cướp ngân hàng! Anh thấy cái gì phía đối diện kia chưa? Một tòa soạn báo. Anh đừng quỳ trước tôi, quỳ cũng chẳng có tác dụng gì. Tôi sẽ viết cho anh mấy chữ, anh đến ngay trước cổng tòa soạn báo, quỳ xuống đất, cầm trang giấy ấy giơ lên cao, chỉ cần bên trong có người bước ra, anh cần nói với người ấy, vừa nói vừa khóc… Chỉ cần báo đăng chuyện này lên, không chừng sẽ có rất nhiều người quan tâm.
Đôi mắt thất thần nhìn thẳng vào tôi, hỏi:
- Còn cậu, người anh em?
- Ngay bây giờ tôi sẽ đi mượn tiền cho anh, mượn được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Nhớ kỹ điều này, nếu người ta không quan tâm đến anh, anh đừng bao giờ đứng dậy.
Nói xong tôi quay gót bỏ đi.
Tôi đúng là một gã lưu manh chính hiệu. Tôi đã vất Khôn Sinh bơ vơ trên đường phố, lương tâm tôi đã hóa thành lang sói, đi mà chẳng khác nào đang chạy, chạy thẳng. Tôi tự nhủ trong lòng: Đừng bao giờ ngoái đầu nhìn lại, cho dù bất cứ lý do gì cũng đừng ngoái đầu, chỉ cần ngoái đầu, trái tim mày sẽ mềm nhũn ra thôi. Chạy được một đoạn, chuẩn bị rẽ qua một ngã tư, tôi mới lặng lẽ nhìn về phía tòa soạn báo và quả nhiên, Khôn Sinh đang quỳ trước bậc thềm của tòa soạn, hai tay đang giơ cao quá đầu tờ giấy mà tôi đã viết lung tung trên đó… Trông anh ta thật thảm hại, thi thoảng lại ngước đầu lên nhìn nhớn nhác chung quanh, tôi đoan chắc là anh ta đang tìm kiếm hình bóng của tôi. Không hiểu tự bao giờ, nước mắt đã trào ra ướt đẫm khuôn mặt của chính tôi.
Nói thẳng ra là, tôi chưa hề có ý định đi mượn tiền cho anh ta. Tôi đã là một kẻ “cháu chắt” (ở quê tôi người ta gọi những kẻ chuyên mượn tiền người khác là “cháu chắt”), đồng nghĩa với “mạt hạng”. Đường đường là một giảng viên đại học nhưng mỗi khi gặp ai đó, tôi đều phải mở miệng hỏi mượn tiền, tại sao lại như thế? Tủi nhục quá, vô sỉ quá. Tôi biết mình đã trở thành một kẻ vô liêm sỉ. Thuở ấu thơ, tôi có bú sữa, đã từng ăn miến có trộn lá vừng của thím Sáu, cũng đã từng ăn cà rốt nướng của chú Ấn. Tôi còn nhớ trong những ngày tuyết rơi đầy trời, chú Ấn đã tìm thấy tôi trong một đống rơm, cõng tôi về nhà và nhét vào miệng tôi một củ cà rốt nướng. Khi tôi chuẩn bị lên thành phố học đại học, thím Sáu đã nhét vào tay tôi sáu hào năm xu… Những việc ấy tôi còn nhớ rất rõ. Tục ngữ nói, một giọt nước ân nghĩa phải báo đáp bằng cả một dòng suối, tôi đang báo đáp như thế này hay sao?
Tôi đau xót lắm, tôi hận mình lắm…, năm bảy trạng thái tình cảm trộn lẫn trong lòng, đấu tranh với nhau, chỉ muốn đâm đầu vào tường. Tại sao tôi lại sống một cách hèn mọn đến như thế, tủi nhục đến như thế nhỉ? Tại sao tôi lại không thể đoạn tuyệt được với những mối quan hệ phức tạp này? Tại sao tôi lại không vất bỏ được cái vỏ ngoài “nông dân” của mình? Tôi hạ quyết tâm, cần phải vất bỏ, cần phải khai tử những vấn đề này, tôi không thể cứ tiếp tục sống như thế nữa!
Buổi sáng, tôi đã cãi nhau một trận ra trò với chủ nhiệm khoa. Thầy Ngụy là người tốt, từ trước đến nay vẫn rất coi trọng, quan tâm đến tôi. Ngay cả chức danh giảng viên của tôi cũng nhờ ông ấy mà có được. Để được công nhận là giảng viên cần phải có ba bài báo khoa học đăng trên các tạp chí nghiên cứu chuyên ngành mang tầm quốc gia, nhưng đến lúc ấy tôi chỉ đăng được hai bài, mà chỉ hai bài thì vẫn đang ở “trên đường phấn đấu”… Chính thầy Ngụy đã có những ý kiến bảo vệ tôi trước hội đồng bình chọn, đấu tranh để tôi được hưởng tiêu chuẩn “đặc cách”. Nhưng rồi cũng từ đó, thầy Ngụy bắt đầu có nhiều ý kiến về tôi. Mỗi lần tâm lý bị kích động là ông ấy thường dùng những ngón tay gõ gõ liên tục xuống mặt bàn và lần ấy, thầy Ngụy gõ ngón tay xuống mặt bàn, nói:
- Chí Bằng! Làm một giảng viên đại học, một nhà khoa học nhất thiết không được toan tính vụ lợi! Không lên tiếng thì thôi, một khi đã lên tiếng thì phải làm cho người ta kinh sợ! Không bay thì thôi, đã vỗ cánh thì phải xông thẳng lên trời cao! Cậu nói xem, cậu đã làm những chuyện gì?
- Em làm sao ạ?
Thầy Ngụy dí ngón tay lên mũi tôi, nói như quát:
- Cậu! Trụy lạc! Cậu… sao lại như vậy! Một người có học thức mà không làm khoa học, không đường đường chính chính theo đuổi con đường học thuật, cả ngày đi câu câu kết kết, tạo dựng các mối quan hệ, chỗ nào cũng có thể ngửa tay mở miệng hỏi mượn tiền! Một phần tử tri thức cần phải coi tiền bạc là đồ giẻ rách mới đúng chứ! Cậu xem lại mình đi, lúc này bộ dạng cậu đã trở thành cái gì rồi? Toàn thân cậu vẫn còn bốc lên cái mùi nông dân!
Nói thực lòng, trong khoảnh khắc ấy tôi rất bình tĩnh, nhưng bốn tiếng “cái mùi nông dân” là những âm thanh mà tôi căm hận nhất, xát muối vào tâm can tôi nhất. Và, giống như một người phải làm công việc bóc ghẻ lở trên đầu cho người khác, như người dẫm phải xác chuột chết thối rữa, ngay lập tức đầu tôi bốc hỏa. Tôi đập mạnh cuốn sách đang cầm trong tay xuống mặt bàn:
- Nông dân cục cứt! Nhưng nông dân thì sao nào? Ai không phải là nông dân? Cứ điều tra đi, điều tra đến ba đời đi, ai dám nói mình không phải là nông dân?
Thầy Ngụy tức đến độ bọt mép sùi cả ra ngoài. Hình như ông ấy chưa hề nghĩ rằng, tôi dám to tiếng, dám nói những điều ấy, quan trọng hơn là dám đương đầu với ông ấy. Nhưng đột nhiên, ông ấy hạ giọng với vẻ mặt vô cùng thất vọng:
- Được rồi, tôi sẽ không nói gì với cậu nữa. Cậu đi đi!
Tôi sững người, chết lặng giây lâu, sau đó cố níu kéo tình hình:
- Thưa thầy chủ nhiệm à, xin lỗi thầy, em thực sự không có ý…
Chủ nhiệm Ngụy phẩy tay:
- Không nói gì thêm, không cần phải nói nữa!
Bây giờ nghĩ lại, những lời thầy Ngụy không hề sai chút nào. Tôi là người có học vấn, đang theo đuổi con đường học thuật, thật chẳng dễ dàng gì ngoi lên được như bây giờ từ trong đất đá bùn lầy. Việc gì tôi phải như thế? Tôi cần phải đoạn tuyệt tất cả quan hệ với thôn Vô Lương, nếu không, suốt quãng đời còn lại của mình, tôi chẳng thể tìm được một phút giây an nhàn nào cả.
Tôi tự nhủ lòng: Chạy thôi!
Ngay trong đêm ấy, như một kẻ trộm, tôi lén lút lẻn vào bệnh viện nhi đồng. Trong lòng tôi trống rỗng, hầu như chẳng có một cảm xúc gì, chỉ đến đó với một ý định là xem “cục nợ” ấy đã ra làm sao rồi mà thôi. Trước cổng bệnh viên nhi đồng khá nhộn nhịp, khắp nơi là những người đàn bà đang ôm con, kẻ ngồi người đứng. Tiếng khóc của những đứa trẻ hòa quyện vào nhau loạn xị, nhói buốt, ánh mắt của những người đàn bà lại càng đáng sợ hơn, tất cả đều như những lưỡi dao… Tôi cố gắng hết sức để trốn tránh những tia nhìn ấy rọi vào mình, quay người cắm đầu cắm cổ đi một mạch. Ngay cả chút dũng khí để tiếp nhận ánh mắt của người khác cũng đã không còn tồn tại trong tôi.
Tôi lặng lẽ đi đến phía sau bệnh viện. Đó là nơi dành cho những đứa trẻ sơ sinh, men theo hành lang đi qua các phòng bệnh, ban đầu là những phòng trẻ sơ sinh thông thường, sau đó là phòng chăm sóc dành cho những đứa trẻ mang bệnh tật bẩm sinh đặc biệt. Tôi không thể nhận ra trong số những đứa trẻ sơ sinh đang nằm trong lồng kính kia, đứa nào là “cháu rồng thai phượng” của thím Sáu. Nó chẳng phải là kim đồng ngọc nữ giáng trần gì cả mà là “tiểu phán quan” được Diêm Vương phái lên trần gian để làm nhiệm vụ trừng phạt. Tôi không dám đến quá gần vì sợ sẽ có người nhận ra mình. Nếu trong lúc ấy mà có ai đó lên tiếng gọi tôi: “Tiêu ơi!” thì e là tôi sẽ đổ sụp xuống và hồn phách sẽ bay lên trời.
Tôi ép mặt vào cửa kính nhìn vào bên trong. Dưới ánh đèn, tiếng u u của những dòng điện lưu trong vang lên nghe rất rõ, tôi nhìn thấy những đứa trẻ đang mắc bệnh hiểm nghèo, từng đứa từng đứa nằm trong các lồng kính… Cháu à, cháu còn bé thế mà đã mang nợ trần gian rồi sao? Ai bảo cháu bị sinh ra trong nhà của bá tánh bình dân? Cháu ơi, nếu trong tâm hồn non trẻ của cháu có điều gì oán hận, cháu hãy tìm đến lão Diêm Vương mà tố cáo, đừng bao giờ đổ lên đầu chú, chú gánh vác không nổi đâu! Chú không phải là loài lang sói, chí ít là đến lúc này chú chưa rùng mình để biến thành chó sói. Chú chỉ là một con chồn, con chồn đang chạy trốn. Cũng có thể là ngày mai hay ngày kia, dượng của chú sẽ dẫn người Vô Lương đến đây, cũng có thể là họ sẽ “ăn tươi nuốt sống” chú. Cũng có thể là từng người từng người trong số đông ấy sẽ dí ngón tay vào mũi chú mà hét lên rằng: Đồ vong ân bội nghĩa!
Oan uổng cho tôi quá! Nỗi oan này còn tệ hơn cả cái chết! Khi còn đang mang trên người một cục nợ to tướng, thậm chí tôi chẳng dám vác cái mặt đến nhà ăn để ăn cơm nữa, tôi sợ mọi người sẽ nhận ra sự cùng khổ của mình. Lúc nào tôi cũng chờ đến khi nhà ăn đã vắng hẳn người mới lò dò đến đấy và với năm hào, tôi cũng chỉ có một bát cơm đạm bạc với một vài cọng rau… Tôi còn biết là cô nữ sinh có tên là Mai Thôn ấy cũng đã bắt đầu có chút ý tứ với mình, tôi nhận ra điều đó. Nhưng tôi đã không còn đủ sức để mà quan tâm đến nhiều chuyện như vậy. Hoa tươi là của nhà người ta, người đẹp cũng là của nhà người ta, mày là một cục phân chó thối inh, không có quyền mơ tưởng đến!
Ôi dào! Trước đây tôi vẫn nghĩ rằng, cố gắng lăn lộn trong mấy năm, sau khi được bình xét là giáo sư, biết đâu được rằng tôi sẽ là người hướng dẫn nghiên cứu sinh. Có điều, ngay cả những sự việc có liên quan đến mình, tôi vẫn không thể giải quyết được, nói chi đến chuyện giúp cho người khác “giải quyết vấn đề”?
Tôi chính là một “vấn đề”, một “dấu hỏi” quá lớn! Đêm ấy, tôi lang thang suốt cả đêm trên đường phố.
Tôi đang suy nghĩ, nên hay không nên đập vỡ cái “bát ăn cơm bằng sắt” không dễ gì giành được ấy?
Mấy năm nay, tôi đã lần lượt đăng được chín bài báo khoa học, chuẩn bị xuất bản một cuốn sách vừa viết xong và có thể, rất nhanh chóng chỉ một thời gian nữa thôi, tôi sẽ được bình xét là phó giáo sư. Lại còn ánh mắt mơ mơ màng màng, ươn ướt, ẩn chứa nhiều hàm ý của cô nữ sinh có tên là Mai Thôn kia nữa… Tôi không hề muốn vất bỏ tất cả những điều ấy.
Tươi tắn mơn mởn, diễm lệ tuyệt trần… Tất cả tính từ được hình dung thành những âm thanh này lúc nào cũng nhảy múa trong đầu óc tôi, trơn tuồn tuột, nóng hôi hổi khiến tôi khó lòng điều khiển được những ham muốn cháy bỏng trong lòng. Tôi đã từng cảnh báo chính mình: Cần phải dằn lòng, nhẫn nại, cần phải kiên trì. Cái gì quý giá thì không được ăn tươi nuốt sống một cách vội vàng. Có điều, tôi không thể kềm chế được lòng mình nên thi thoảng cũng tìm cách nào đó tiếp cận Mai Thôn để len lén nhìn cô ấy một tí. Tôi đã nói rồi thì phải, tôi đã hạ cho chính mình một quyết tâm là không chạy bộ nữa, mặc dù tôi phải cắn răng chịu đựng… Nhưng kể từ khi tôi không chạy nữa thì Mai Thôn thi thoảng lại tìm đến cửa phòng tôi với một vài “vấn đề” cần thầy Ngô giải đáp… Cũng có mấy lần, tôi chạm mặt Mai Thôn ở nhà ăn, cô ấy thường mở miệng bằng câu: Thầy Ngô, sao thầy đi ăn muộn thế, hết thức ăn cả rồi! Lúc ấy tôi chỉ ậm ừ: À, à…
Có chút việc… Tôi đã kềm chế, không nhìn cô ấy, cố ý không nhìn cô ấy… Nhưng rồi, từ đó về sau tôi vẫn lại tiếp tục gặp Mai Thôn trên con đường nhỏ dẫn vào nhà ăn đến mấy lần. Tôi nhận ra, Mai Thôn đã cố ý để được gặp tôi và lần nào cũng thế, quần áo lúc nào cũng đã được thay đổi, thời điểm gặp lúc nào cũng ngoài dự kiến của tôi. Sự tình là thế này, đôi khi anh đang cố gắng không quan tâm đến một ai đó thì người đó lại quan tâm đến anh, đó chính là hiệu ứng ngược của quan hệ. Đôi khi, khoảng cách bị kéo dài ra thì lực hướng tâm lại càng lớn. Tôi có cách nào khác nữa không?
Cô nữ sinh Mai Thôn nói với tôi rằng, tôi nên uống sữa chua, sữa chua rất tốt cho bao tử, cho đường tiêu hóa. Tôi gật đầu hưởng ứng. Cô ấy lại nói, buổi sáng nên ăn một quả trứng gà, buổi tối tốt nhất nên uống một cốc sữa, ăn một quả táo. Tôi gật đầu, ậm ừ liên tục… nhưng vấn đề cơ bản vẫn là: Tiền lấy đâu ra? Cô ấy còn nói: Thầy có nghe nhạc không? Ngôi sao ca nhạc Nhật Bản Kirato với những ca khúc mênh mông, thê thiết, thầy nhất định phải thưởng thức…
Cô ấy không biết rằng, trên lưng tôi còn đang có cả một quả núi. Tôi không thể nói cho cô ấy biết rằng, đúng hơn là không dám nói, suy cho cùng thì tôi là ai? Tôi vẫn cứ muốn nhìn Mai Thôn nhưng phải nhìn từ phía xa xa… Con nhà nông như tôi, muốn sống đâu có dễ.
Trước mặt Mai Thôn, tôi phải ngụy trang những gì?
Ở thời gian này, tôi vẫn phải ngụy trang bao lâu nữa?
Xe cộ đã bắt đầu vắng dần trên đường phố, tiếng còi cũng đã thưa thớt hơn, một vành trăng tàn tật, khuyết thiếu, trắng bệch đang mở cái miệng rộng hoác treo trên bầu trời. Tôi nhìn những căn nhà lầu, tôi ngắm những bóng đèn và nhận ra rằng, cho đến bây giờ, tất cả những thứ mà tôi thấy trước mắt vẫn hoàn toàn không thuộc về tôi. Tôi vẫn còn phải vật vã bao nhiêu năm nữa mới có thể tìm thấy được một “ô vuông” và một ngọn đèn thực sự thuộc về mình? Nếu được những điều ấy, tôi sẽ “vật vã” một cách hoàn toàn tự nguyện. Tôi, vốn là một kẻ xuất thân từ tầng lớp cùng khổ nên tôi chẳng sợ gì cái khổ, vả lại, so với trước đây thì lúc này, cuộc sống của tôi cũng đã tốt hơn rất nhiều… Có điều, những cuộc gọi điện thoại đã làm đảo lộn giấc mộng chuyên gia của tôi, thực tế là tôi không còn chờ đợi được nữa.
Trong đầu tôi đột nhiên xuất hiện một ý định: Đi! Ý định này sao mà mãnh liệt, sao mà thôi thúc. Tôi tự nhủ: Cần phải đi, cần phải rời khỏi nơi này, nếu không…
Như một kẻ mất hồn, tôi cứ lang thang hết đường này đến phố khác, trong đầu quẩn quanh với ý nghĩ “đi” và “từ chức”. Không còn cách nào khác. Mày nhìn thấy người sắp chết mà mày không ra tay cứu giúp, mà có cứu đi nữa thì mày cũng không cứu được… Đã như thế thì mày không còn mặt mũi nào mà ngồi trong cái thành phố này để chờ đợi nữa.
Cả đêm ấy, đầu óc, tâm trạng tôi rối bời, tôi vẫn cứ phải bị phân tâm bởi những gì đang diễn ra trong thực tế và những hy vọng trong tương lai. Khi trời hừng sáng, những quầy bán điểm tâm đã rục rịch bày ra hè phố, tôi mua một chút thức ăn sáng và ghé vào sạp báo mua một tờ nhật báo. Mở tờ báo ra, chỉ cần nhìn lướt qua là tôi đã thấy Khôn Sinh. Ảnh của anh ta đã được lên mặt báo, ngay vị trí đầu tiên ở trang hai! Anh ta vẫn quỳ ở đó, hai tay đưa cao tờ giấy lên quá đầu… Cũng ngay đầu trang hai có một cái tít màu đen thật đậm: “Hãy cứu trẻ em!”.
Tôi thở ra một hơi dài nhẹ nhõm, tự nhủ thầm: Đứa bé đã được cứu rồi, mày có thể đi rồi đấy.
Nói thực lòng, tôi có đủ dũng khí để từ bỏ công việc hiện tại, tự đập vỡ cái cần câu cơm của mình cũng có lý do của nó.
Trong những năm sống ở thành phố, tôi vẫn giữ được mối liên hệ thư từ với người có cái biệt danh là “Lạc Đà” ấy, anh ta vốn là một bạn học trước đây của tôi. Anh ta luôn luôn hấp dẫn tôi, nói chính xác hơn là một câu nói của anh ta đã đánh động suy nghĩ của tôi từ lâu. Anh ta nói: Một thời đại vĩ đại sắp đến rồi - Anh ta còn dùng cả một từ tiếng Anh là “newmoney” – Chúng ta sẽ trở thành người của thời đại newmoney!
Trước khi đi, tôi vẫn muốn được gặp Mai Thôn một lần cuối.
Tôi đã tự dặn lòng: Chấm dứt thôi!
Nói thì nói vậy nhưng thực tâm, tôi vẫn còn một niềm hy vọng giấu kín trong lòng là, Mai Thôn có thể chờ tôi, chờ tôi năm năm. Năm năm sau, tôi sẽ trở về cưới cô ấy. Người xưa đã từng có những câu thơ bất hủ là: “Hoa đã nở cần hái thì hái ngay. Đừng chờ chẳng còn hoa nữa mà bẻ cành không”. Anh đào đã nở rộ, nếu để chờ năm năm nữa thì có còn là hoa anh đào nữa không? Chỉ e rằng nó đã sớm biến thành “quả đào” mất rồi. Tôi cũng biết, một người con gái xinh đẹp như thế, người có ý đồ theo đuổi chắc chắn là đang và sẽ sắp một hàng thật dài… Nhưng Mai Thôn lại là người con gái mang lại những cảm xúc yêu đương đầu đời của tôi. Tôi không ôm ấp nhiều hy vọng, tôi chỉ nghĩ thế thôi. Đúng là vọng tưởng!
Trước khi đi, tự dưng tôi biến thành một kẻ dũng cảm. Đúng vào buổi tối ngày thứ hai sau khi nộp đơn xin nghỉ việc, tôi hẹn gặp Mai Thôn trên khu thể dục thể thao của học viện. Khu vực này rất rộng, dưới ánh trăng, thân thể con người sẽ trở nên mờ hơn, hình ảnh cũng trở nên nhạt nhòa hơn, bóng đêm sẽ che lấp cái “mùi vị cùng khổ” trên cơ thể tôi. Tôi không có gì trong tay cả, nhưng tôi đã có “vũ khí”.
- Tôi sắp ra đi rồi, chỉ gặp em để từ biệt.
- Đi? Thầy đi đâu? – Giọng nói đầy vẻ kinh ngạc.
- Nộp đơn xin nghỉ việc rồi, rời khỏi học viện…
- Thầy điên à? Không phải thế chứ?
- Cũng sắp điên rồi, nhưng thật đáng tiếc, chưa điên.
- Không sốt đấy chứ? – Mai Thôn cười nhẹ.
- Ba mươi bảy độ. Rất bình thường – Tôi chuyển hướng câu chuyện – Em biết không, tôi là một đứa trẻ mồ côi.
Rồi bằng một giọng đều đều, không chất chứa quá nhiều cảm xúc, tôi nói với Mai Thôn về hoàn cảnh xuất thân, những ngày thơ ấu, quá trình trưởng thành… Đó chính là “vũ khí” của tôi, tôi đã chuẩn bị “vũ khí” này từ lâu lắm rồi. Quan sát đôi mắt của đối phương, tôi đã nhận thức được rằng, sự thành thật cũng có thể trở thành một “vũ khí”.
Trời đêm rất tối, nhưng mỹ nhân thì vẫn cứ là mỹ nhân. Trong bóng tối mông mông lung lung, Mai Thôn trông chẳng khác nào tiên nữ, mơ mơ màng màng ẩn hiện nét phiêu lãng, phóng túng, những chỗ cần nhô cao thì nhô cao lên, những chỗ cần lõm xuống thì lõm xuống trên cơ thể cô ấy dường như hư ảo và toát lên vẻ đẹp thanh đạm, trang nhã. Hơi thở của Mai Thôn làm người ta muốn say, tiếng guốc gõ đều đều xuống đất có tiết tấu nhịp nhàng, đều đặn khiến tôi tưởng đó là lời ai điếu cho một cuộc chia ly giữa người tiên và người phàm… Tôi say rồi! Tôi hít một hơi thở thật sâu, tôi vẫn biết mình chẳng có chút hy vọng nào. Nhưng tôi vẫn muốn thể hiện một sự nỗ lực cuối cùng. Tôi đã nghĩ kỹ rồi, cho dù có thể không chiếm lĩnh được người con gái này nhưng ít nhất, tôi vẫn lưu giữ được những ký ức đẹp về cô ấy trong những ngày còn lại.
Dưới ánh trăng, chúng tôi đi chầm chậm trong khu thể dục thể thao. Rất bình tĩnh, tôi kể về chính mình nhưng chẳng khác nào đang kể chuyện về một ai đó. Mai Thôn cũng lắng nghe một cách lặng lẽ, thi thoảng quay người lại nhìn tôi một cách đột ngột đầy vẻ kinh ngạc, hình như muốn hỏi: Người mà thầy đang kể có phải là chính thầy sao? Đúng là thầy đấy chứ? Cũng đôi khi, trên miệng cô ấy thoảng một nụ cười, nụ cười đầy hàm ý, rất đồng tình, ánh mắt biểu lộ những ánh nhìn đầy mẫu tính.
Tôi khẳng định lại với ông điều này, theo sự quan sát của tôi, đối với những đứa con gái có gia cảnh tốt, hoàn cảnh xuất thân tương đối thuận tiện thì “thành thật” có khi cũng trở thành một thứ vũ khí tốt nhất dùng để đánh động trái tim.
- Thời niên thiếu, thầy làm bài tập về nhà trên vỏ bao thuốc lá?
- Đúng thế!
- Những ngày tuyết rơi đầy trời, thầy ngủ một mình trong đống rơm?
- Đúng thế!
- Trong ba ngày, thầy chỉ ăn có mỗi củ cà rốt nướng?
- Đúng thế!
- Thầy ôm một cục gạch nóng trong khi ngủ?
- Đúng thế!
- Thầy nói với cục gạch: Mẹ ơi, cho con chút hơi ấm?
- Đúng thế!
Mặc dù không gian khá tối nhưng tôi nhận ra có hai dòng nước mắt đang lăn trên gò má cô ấy…
- Tôi thành thật để nói cho em biết rằng, tôi là một thằng cùng khổ… Cùng khổ đến độ chỉ còn những suy nghĩ là trở nên thừa thãi.
- Thầy muốn em chờ. Chờ ba năm?
- Đúng thế!
Tôi không dám nói là cô ấy cần chờ tôi năm năm. Thời gian năm năm là quá dài, tôi e là cô ấy không thể chấp nhận được. Cũng có thể, đến một thời điểm thích hợp nào đó, tôi sẽ nói thêm với cô ấy rằng, chờ tôi thêm hai năm nữa. Ngày ấy, nếu cô ấy đã chờ tôi được ba năm thì chờ thêm hai năm nữa cũng chẳng có gì là ghê gớm, ông nghĩ có đúng không?
- Thầy nói, sau ba năm nữa thầy sẽ về đón em, cưới em làm vợ? Thầy nói là lúc ấy sẽ ôm chín mươi chín đóa hoa hồng Abyssinia tặng em? Hoa hồng Abyssinia là gì vậy?
- Là loại hoa hồng đẹp nhất thế giới.
Nói thực, lúc ấy tôi cũng chẳng biết thế nào là hoa hồng Abyssinia. Tôi chỉ đọc thấy cái tên này từ trong một cuốn tiểu thuyết nước ngoài. Hoa hồng Abyssinia biểu thị ý nghĩa: Tôi yêu Mai Thôn. Có thể đó cũng là do trí tưởng tượng của tôi có giới hạn. Ba năm, cũng có thể là năm năm sau, tôi cũng chưa biết chắc được là mình có quay về hay không? Có hay không năng lực ấy? Nếu quay về, nếu cô ấy chờ tôi… Nhất định trong tay tôi phải là chín mươi chín đóa hoa hồng Abyssinia.
Nhưng Mai Thôn chưa vội vàng đồng ý:
- Thầy để em suy nghĩ đã. Em phải suy nghĩ thật chắc chắn.
Dước ánh trăng, tôi ngắm nhìn cô ấy thật kỹ. Đôi mắt của tôi không thể rời khỏi thân hình Mai Thôn, mỗi khi hai luồng ánh mắt gặp nhau, cơ thể tôi hầu như tê dại, một sự tê dại trong tuyệt vọng. Cuối cùng, rất dứt khoát, sau khi lấy hết tinh thần, tôi nói:
- Được rồi, tạm biệt!
Nói xong, tôi quay người đi thẳng. Tôi tự lên tiếng cảnh báo mình: Đi, đi ngay! Những gì cần nói thì mày đã nói xong, nếu không đi ngay, mày sẽ sai lầm đấy!
Lúc này, tôi cũng thành thật nói với ông điều này, những gì tôi “chân thực” nói với Mai Thôn trong đêm ấy chỉ là “sự chân thực mang tính cục bộ” mà thôi. Tuy tôi xuất thân từ tầng lớp cùng khổ nhưng không phải là không có ai chăm sóc. Cho nên, trong sự chân thành của tôi, nhất định có gì đó gian trá.
Đêm ấy, sau khi trở về, tôi nằm dài trên giường nhưng không hề cảm thấy buồn ngủ tí nào. Căn phòng trống hoác, nguyên là có ba người ở nhưng lúc này thì đã có một người dọn đi nơi khác, một người về nhà, chỉ còn lại duy nhất mình tôi. Ngày mai, trước khi mặt trời lên tôi cũng phải ra đi. Lòng tôi rối như tơ vò, tôi nghĩ đến Mai Thôn, nghĩ đến bà con trong thôn, nghĩ đến Khôn Sinh…, rồi tiếp tục nghĩ đến đứa bé đang nằm trong lồng kính tại bệnh viện, miên man trong những ý tưởng về tương lai… Tất cả đều “bất khả tri”, không thể hình dung được một điều gì rõ ràng cả. Sắp rời khỏi thành phố này rồi và tôi đã từng khẳng định là phải cắt đứt toàn bộ quan hệ, trong đó bao gồm cả với… Mai Thôn. Nhưng đến nửa đêm, đột nhiên tôi nghe thấy tiếng gõ cửa, tuy nhẹ nhàng nhưng rất cấp thiết.
Khi cánh cửa được mở ra, cùng với ánh trăng là một mùi thơm ngọt ngào của da thịt ùa vào lòng tôi, ùa vào phòng. Đó là Mai Thôn. Mai Thôn đã nằm gọn trong lòng tôi, kèm theo là một lời thổn thức:
- Em không ngủ được… Em muốn… sưởi ấm cho anh… Một tiếng “Ầm!” vang lên trong đầu óc tôi và hình như nó đã nổ tung!
Những gì sau đó, tôi không thể kể cho ông nghe được. Tôi đã sụp đổ hoàn toàn. Tôi lại thất bại thêm một lần nữa, chính xác hơn là thảm bại. Không còn ngôn ngữ nào có thể diễn tả được sự thống khổ của tôi. Tôi bật khóc, nước mắt đầm đìa trên mặt. Tôi ấm ức, tôi nhục nhã. Tôi đã ôm trong tay một cơ thể nõn nà nhưng… Mai Thôn nhẹ nhàng an ủi:
- Anh sao thế? Anh đừng khóc, không thể trách được anh. Là em không đúng, em không tốt…
Chẳng có ngôn từ nào để tôi đối đáp lại, trong trường hợp này tôi chẳng biết phải nói thế nào. Chưa từng có ai đó nói với tôi như thế. Tôi đã ngần ấy tuổi nhưng từ trước đến nay chưa ai nói với tôi câu này: Em muốn sưởi ấm cho anh… Câu nói này có thể khiến tôi nhớ đến hết cuộc đời.
Đêm ấy, tôi và Mai Thôn chỉ nằm dài bên nhau trên giường, trần truồng, trông thấy từng phân từng ly da thịt của nhau, nhưng lại… Đó là một nỗi sỉ nhục. Có lẽ, đúng lúc cần phải làm những điều cần làm thì hai đứa trẻ “thai rồng thai phượng” đã ám ảnh tôi, đã hại tôi. Đôi “rồng phượng” này nằm trong lồng kính đang giương hai cặp mắt đờ đẫn không hồn nhìn tôi và hình như chúng đang cười nhạo, báng bổ tôi…
- Em… tốt quá.
- Rất thành thật để nói cho anh biết, em không còn là trinh nữ.
- Thuở niên thiếu của anh cũng không hạnh phúc.
- Năm bảy tuổi, em đã theo mẹ đến nhà dượng ghẻ. Dượng ghẻ là một kẻ bại hoại…
Đúng là một tâm hồn thiện lương. Chính sự thành thật cùng với sự thất bại của tôi, mà cũng có thể là để an ủi tôi, Mai Thôn đã bình thản kể về thân thế của mình. Những thanh âm thoát ra từ miệng Mai Thôn như tiếng lạo xạo của những hạt bắp ngô, từng hạt từng hạt, lúc liên tục lúc ngắt quãng rót vào tai tôi. Có điều lúc ấy, tôi chẳng khác nào một con cá chết khô cong queo và đang bị một nỗi thống khổ cắn rỉa, kèm theo đó là một nỗi hận lòng dày vò, những âm thanh u u như gió thổi qua lau lách bám riết lấy đầu óc tôi, về cơ bản là tôi không nghe, không nhớ những gì cô ấy đã nói. Tôi là một thằng đàn ông bất lực! Tôi thực sự tuyệt vọng rồi.
Trời hừng sáng, tôi nghe thấy tiếng kéo nhè nhẹ cửa phòng. Mai Thôn đã đi. Cô ấy không hề oán trách tôi, chỉ lẳng lặng mặc quần áo rồi không một lời từ biệt, cũng lẳng lặng ra khỏi phòng.
Tôi cũng không đủ sức để nói lời tạm biệt cô ấy nữa. Mai Thôn, người con gái tôi yêu duy nhất trong đời mình đã chia tay tôi mà không có lấy một lời giã biệt!
Hình như tôi đã nói là sẽ tặng cô ấy chín mươi chín đóa hoa hồng Abyssinia.
Nhưng hình như đó cũng chỉ là một lời hứa hoang đường. Hoa hồng Abyssinia ở đâu?
Mãi cho đến rất nhiều năm sau này, sau khi trong túi đã nhét đầy tiền, khi tôi đã thừa sức mua được bất kỳ một loại hoa hồng nào đó, tôi mới biết rằng hoa hồng Abyssinia không phải là loại hoa hồng đẹp nhất thế giới. Loại hồng này chỉ có ưu điểm là hoa tươi khá lâu, hoa lại rất to, thế thôi. Nói chung nó cũng chỉ là một loại đẹp trong số rất nhiều loại hoa hồng đẹp và quý phái.
Đúng thế, lúc tôi đã có tiền, khi tôi đủ quyền để mua bất kỳ loại hoa hồng nào danh tiếng nhất thì tôi hầu như không còn có cảm xúc yêu đương nữa. Tôi có tiền để mua hoa nhưng lại không có người để mà tặng hoa.
Cho đến khi gặp lại Mai Thôn, cô ấy đã là một người đàn bà đã có đến hai lần ly hôn và đang chuẩn bị nộp đơn ly hôn lần thứ ba đến tòa án. Trông Mai Thôn thật tiều tụy, tiều tụy đến độ không còn bộ dạng gì nữa. Khi tôi gặp lại Mai Thôn là một ngày gió thổi rất lớn, cô ấy đang trùm khăn kín mít trên đầu và đang vội vã bước trên đường phố, tay dắt theo một đứa bé… Cho đến tận lúc này, tôi vẫn cho rằng Mai Thôn là một người thiện lương. Trên ý nghĩa này mà nói, thiện lương không đồng nghĩa với hạnh phúc. Người thiện lương rất dễ tin người, cũng rất dễ dàng bị người khác mê hoặc. Nhưng đấy là chuyện sau này.
Tôi không có nhiều kiến thức lắm đối với các loài hoa cỏ. Nhưng có một điều cần phải nói, tôi đã từng trông thấy một cái cây, cái cây này khiến người ta phải kinh sợ đến độ hồn xiêu phách lạc. Đó là chậu cây cảnh “Thạch lựu máu và nước mắt”.