Sống chân thật, ta sẽ nhận ra mình là ai.
VỀ VĂN BẢN TÁC PHẨM
Trong nền văn hóa dân gian Bắc Âu, hình ảnh con quỷ từ lâu vốn trở nên quen thuộc trong tâm thức mỗi người dân nơi đây. Với họ, hình ảnh con quỷ tương tự như những loài yêu tinh khác, chẳng hạn chằn tinh trong truyện thần tiên của trẻ em, thần lùn giữ của sống dưới đất, hoặc ông ba bị trong các truyện cổ tích. Người ta tin rằng, con quỷ cư trú ở nông trại và nếu hài lòng, nó sẽ ban phúc cho gia chủ: có nhiều con cái, sức khỏe tốt, mùa màng bội thu, giàu có. Người ta sẽ nói nông gia này giàu sang là do có một con quỷ vui vẻ sống ở đó. Đáp lại, con quỷ chỉ mong được thết đãi một tô cháo đặc thật ngon (có rắc đường, bột quế, và một miếng bơ béo ngậy bên trên) vào đêm trước Giáng sinh. Điều đặc biệt là, những người trong nhà không được phép nhìn trộm nó, nếu không, nó sẽ nổi giận và trả đũa.
Hình ảnh con quỷ được mô tả giống như bác nông dân thời kỳ Trung cổ - bộ râu xám, quần áo xám, đội mũ trùm bằng tất dài màu đỏ. Con quỷ lớn tuổi, thấp người, hút ống điếu. Nó rất có ích đối với gia súc, giúp cho gia chủ phát tài nhanh, ngoài ra còn biết ăn cắp gia súc từ các nông trại lân cận. Dễ nổi cáu, con quỷ thường nổi giận mỗi khi bị công kích. Nếu để điều này xảy ra, gia súc trong nông trại sẽ bị bệnh, sữa sẽ bị chua, và mùa màng sẽ thất bát.
Sử sách ghi chép về con quỷ có từ năm 981 ở Iceland, khi nó bị lời nguyền và nước thánh xua đuổi. Nhưng mãi đến thế kỷ 16 và 17, các giáo sĩ vẫn phải đối phó với “cư dân sống ở nông trại” này. Dường như những tín đồ Cơ đốc giáo một mặt vẫn cầu nguyện, nhưng mặt khác lại muốn chăm sóc con quỷ của mình để có được cuộc sống sung túc.
Đến thế kỷ 19, hình ảnh con quỷ một lần nữa lại có sự cải biến. Sự việc bắt đầu khi giới văn nghệ sĩ người Đan Mạch sinh sống ở Rome dùng những hình cắt con quỷ để trang hoàng vào dịp Giáng sinh. Chỉ vài năm sau, hình tượng mới của con quỷ chiếm được sự mến mộ của công chúng. Người ta khắc họa về nó lùn hơn, mập hơn, dễ thương hơn, thậm chí còn cưới cả vợ cho nó. Nó được mang ra khỏi nông trang và được đặt trong phòng khách, trở thành biểu tượng giống như là Santa Claus - ông già Noel - trong những dịp Giáng sinh.
Từ hình tượng con quỷ trong văn hóa dân gian, Andersen đã vận dụng để sáng tạo ra một biểu tượng mới, mang màu sắc riêng trong tác phẩm của ông. Con quỷ trong câu chuyện rất trung thành với chủ, ham hiểu biết và tinh ranh. Một mặt, nó rất thực tế, nhưng mặt khác lại luôn khao khát được bước chân vào thế giới nghệ thuật và tri thức nhân loại. Đằng sau hình ảnh ấy là rất nhiều điều đáng để người đọc suy ngẫm.
CON QUỶ Ở CỬA HÀNG TẠP HÓA
Có một chàng sinh viên nghèo, chân thật, sống trên căn gác xép, chẳng có lấy một tí tài sản gì. Cũng trong nhà ấy có ông chủ cửa hàng tạp hóa lương thiện sống ở tầng trệt và là chủ nhà. Con quỷ nhỏ chọn sống trong cửa hàng với ông. Vào mỗi đêm trước Giáng sinh, ông đãi nó một tô cháo đặc có một mẩu bơ to tướng bên trên! Con quỷ sống trong cửa hàng và nó cho đó là nơi lý tưởng nhất để tiếp thu kiến thức từ mọi người.
Một buổi tối, chàng sinh viên đi cửa sau vào mua nến và pho-mát. Vợ chồng chủ cửa hàng gật đầu chào chàng, chàng gật đầu đáp lễ và chăm chú đọc tờ giấy gói miếng pho-mát. Đó là một trang bị xé ra từ quyển sách cũ mà lẽ ra không nên làm thế vì đó là một tập thơ.
- Cuốn sách ấy còn lại nhiều lắm. Có một bà lão đem đổi cho tôi lấy một gói cà-phê nhỏ đấy. Nếu anh đưa tôi tám si-lin, tôi sẽ đưa nốt phần còn lại cho anh.
- Cám ơn, nhưng cho tôi đổi miếng pho-mát lấy quyển sách này vậy! Tôi có thể ăn bánh mì với bơ thôi cũng được. Xé một cuốn sách như thế thật phí phạm. Bác là người khôn ngoan và thực tế, nhưng đối với thơ ca, bác cũng chỉ hiểu biết đại khái như cái sọt đựng báo cũ kia mà thôi!
Nói như thế cũng khá vô lễ, nhất là đối với cái sọt. Nhưng ông chủ cửa hàng vẫn cười, và chàng sinh viên cũng cười... Họ đùa nhau. Con quỷ thấy có người nói như vậy thì tức lắm, vì ông chủ hiệu tạp hóa bán loại bơ ngon nhất là chủ của nó mà.
Đến đêm, khi cửa hàng đóng cửa, mọi người đi ngủ cả, trừ chàng sinh viên, con quỷ bèn lẻn vào phòng bà chủ và mượn tài ăn nói của bà - dù sao bà cũng chẳng sử dụng lúc ngủ. Khi đặt tài ăn nói ấy lên bất cứ đồ đạc nào trong phòng, vật đó sẽ nói được và tự phát biểu cảm tưởng như bà chủ vậy. Chỉ có điều nó không thể nào nói cùng một lúc với bà chủ, thế cũng hay vì nếu không, cả hai sẽ phải tranh nhau mà nói.
Đầu tiên, con quỷ đặt tài ăn nói trong cái sọt đựng đầy báo cũ và hỏi:
- Có đúng là anh không biết thơ ca là gì, có phải không?
- Biết lắm chứ! Thơ ca là cái ta vẫn thấy ở cuối trang báo và thường được người ta cắt ra ấy mà! Tôi nghĩ tôi còn chứa nhiều thơ ca hơn cả anh chàng sinh viên kia ấy chứ, nhưng so với ông chủ thì tôi kém xa!
Con quỷ đặt tài ăn nói lên cối xay cà phê, rồi lên hũ đựng bơ và ngăn kéo đựng tiền. Tất cả đều có cùng quan điểm như cái sọt. Phải tôn trọng ý kiến của đa số!
“Bây giờ đến lượt tên sinh viên đó!”, con quỷ vừa nghĩ vừa trèo thật nhanh lên gác xép. Đèn sáng. Nó nhòm qua lỗ khóa thấy chàng sinh viên đang đọc những trang sách nát trong cuốn sách đổi được ở cửa hàng. Nhưng sao căn phòng lại sáng đến thế! Từ cuốn sách phát ra vầng hào quang, tỏa rộng như một bóng cây cổ thụ, vươn cao và xòe cành lá xum xê bao phủ lấy chàng sinh viên. Chiếc lá nào cũng xanh tươi, mỗi bông hoa là một thiếu nữ khả ái với đôi mắt huyền lóng lánh, hoặc đôi mắt xanh trong trẻo. Mỗi quả là một vì sao lấp lánh. Căn phòng vang lên tiếng hát du dương.
Con quỷ chưa bao giờ hình dung nổi một cảnh tượng tuyệt vời như thế. Nó đứng kiễng chân, đực người ra, mắt nhìn chằm chằm cho đến khi ánh sáng trong phòng vụt tắt. Chắc hẳn chàng sinh viên đã đi ngủ. Nhưng con quỷ nhỏ vẫn đứng đó, không nhúc nhích vì tiếng hát vẫn ngân vang êm ái, dịu dàng như bài hát ru ngọt ngào...
Con quỷ nhỏ lầm bầm:
- Thật đáng kinh ngạc! Mình thật không ngờ! Mình nghĩ mình nên ở với anh ấy!
Suy nghĩ hồi lâu, nó lại thở dài tự nhủ:
- Nhưng anh ta lấy đâu ra món cháo đặc ngọt ngào và béo ngậy cho mình ăn?
Nghĩ thế, nó quyết định quay trở xuống với ông chủ tiệm tạp hóa. Nó về đúng lúc cái sọt đã sử dụng gần hết tài ăn nói của bà chủ, nó lấy trả lại cho bà. Nhưng từ đó trở đi, cả cửa hàng, từ ngăn kéo đựng tiền cho tới khúc củi khô đều tán thành ý kiến của sọt, kính nể và tin tưởng sọt. Thậm chí, khi ông chủ đọc “Tin tức văn nghệ và sân khấu” đăng trên tờ báo buổi chiều, chúng cũng cứ tưởng là bài của cái sọt.
Con quỷ nhỏ không còn ngồi yên được lấy một lúc, khoa học và đạo lý thu lượm được trong cửa hàng tạp hóa không đủ đối với nó. Ngay khi ánh đèn từ căn gác tỏa sáng - những tia sáng giống như sợi dây neo bền chắc kéo con quỷ lên đó - nó buộc phải nhìn qua lỗ khóa. Và rồi lòng nó tràn ngập cảm giác kính sợ. Chẳng hiểu sao nó òa khóc. Nước mắt khiến tâm hồn nó nhẹ nhõm hơn. “Giá được ngồi bên gốc cây cùng chàng sinh viên thì tuyệt vời biết bao! Nhưng, không được rồi!”, nó tự nhủ và chấp nhận đứng đó nhìn qua lỗ khóa.
Gió bắt đầu luồn qua khe cửa trên mái nhà, con quỷ nhỏ vẫn đứng đó trong dãy hành lang giá lạnh. Trời về đêm trở rét, nhưng nó chẳng cảm thấy gì cho đến khi ánh đèn trên gác xép tắt đi và tiếng nhạc du dương mất dần trong gió. Phù... u... Lúc đó, nó mới cảm thấy lạnh cóng, run rẩy trở về góc tiệm ấm áp của mình - một nơi thật dễ chịu và thoải mái.
Giáng sinh đến, con quỷ lại được thưởng thức món cháo đặc có mẩu bơ to tướng bên trên, lúc đó, đối với nó, ông chủ cửa hàng là quan trọng nhất.
Một đêm kia, vào lúc nửa đêm, tiếng huyên náo khủng khiếp vang lên từ những ô cửa khiến con quỷ giật mình tỉnh giấc. Ngoài kia người ta đang chạy rầm rập! Tiếng còi báo động của người tuần tra đêm vang lên ầm ĩ! Một đám cháy lớn, sáng rực cả khu phố! Ở đâu vậy? Cửa hàng tạp hóa hay nhà bên cạnh đang cháy? Thật kinh khủng! Đầu óc bà chủ mụ mị đến nỗi bà vội tháo đôi bông tai bằng vàng bỏ ngay vào túi, nghĩ mình cũng vớt vát được chút đỉnh. Ông chủ tiệm chạy lại khiêng két bạc, chị giúp việc đi lấy chiếc khăn choàng bằng lụa mới vừa mua cho mình. Tất cả đều cuống cuồng, ai cũng muốn cứu lấy phần tài sản quý nhất của mình. Con quỷ nhỏ cũng vậy.
Chỉ vài cú nhảy, nó tót lên buồng chàng sinh viên. Anh đang đứng lặng lẽ bên cửa sổ nhìn ngọn lửa cháy bên kia đường. Con quỷ nhỏ nhào đến chụp lấy quyển sách trên bàn, nhét vào cái mũ trùm đỏ. Hai tay khư khư ôm chặt lấy cái mũ, nó tự nhủ thế là báu vật duy nhất trong nhà đã được cứu! Và rồi nó lao lên mái nhà, leo một mạch lên tận ống khói chót vót. Nó ngồi đó, dưới ánh lửa bập bùng của ngôi nhà đang cháy bên kia đường, hai tay vẫn không thôi ôm chặt lấy cái mũ trùm màu đỏ. Bây giờ, nó biết chắc tâm hồn nó hướng về đâu và con người nó thuộc về ai.
Nhưng khi đám cháy tắt, nó trấn tĩnh trở lại, lý trí bắt đầu thắng thế. Nó tuyên bố:
- Ta sẽ sống san sẻ với cả hai người! Ta không thể bỏ đứt ông chủ cửa hàng tạp hóa được vì món cháo đặc béo ngậy thật là ngon!
Và điều đó hoàn toàn thích hợp với cách ứng xử của con người!
Chúng ta cũng thế thôi, chúng ta cũng sẽ quay về với chủ vì món cháo đặc thơm ngon!
NHỮNH VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Ngay từ mở đầu truyện, ta đã bắt gặp hai lối sống hoàn toàn khác biệt - giữa ông chủ cửa hàng tạp hóa và chàng sinh viên nghèo. Nếu người đàn ông chọn cuộc sống trao đổi, buôn bán, gặp gỡ với khách hàng, thì chàng thanh niên lại thích cuộc sống cô đơn trên gác xép, thích làm bạn với sách vở. Giữa hai lối sống hoàn toàn khác biệt ấy là sự day dứt băn khoăn của con quỷ nhỏ, không biết đâu là cuộc sống thích hợp với bản thân nó, đâu là điều nó vẫn kiếm tìm?
Lựa chọn
“... có ông chủ cửa hàng tạp hóa lương thiện sống ở tầng trệt và là chủ nhà. Con quỷ nhỏ chọn sống trong cửa hàng với ông.”
Cuộc sống mở ra cho ta rất nhiều chọn lựa. Có những người thích theo đuổi con đường học vấn, nghiên cứu, lại cũng có người thích bươn chải và tự đúc rút kinh nghiệm cho bản thân. Dù chọn lựa con đường nào, điều quan trọng nhất vẫn là ta được làm chủ cuộc sống của mình, được làm những gì mình yêu thích và đam mê.
Với tôi, một thời gian dài, tôi từng chọn lựa cuộc sống lăn lộn chốn thương trường tại một thành phố hoa lệ. Khi ấy, cuộc sống của tôi nhìn chung rất ổn, kinh tế gia đình vững chắc, tương lai đầy hứa hẹn. Tuy nhiên, đôi lúc tôi không tránh khỏi cảm giác quá tải và mệt mỏi. Tôi băn khoăn về con đường mình đi, tự hỏi mình đang đi theo tiếng gọi của trái tim hay chỉ tuân thủ những khuôn mẫu được lập trình sẵn - đi theo con đường mà cha mẹ mình đã đi?
Rồi đột nhiên, việc kinh doanh của chồng tôi sa sút, công ty anh ấy phải thanh toán hết tiền lương cho nhân viên rồi cho họ thôi việc. Chồng tôi nghĩ đến việc quay trở lại trường học, và có lẽ đây là thời điểm thích hợp nhất để anh ấy thực hiện dự định này. Khi anh được nhận vào trường Luật Harvard, chúng tôi nghĩ đến việc chuyển chỗ ở sao cho thuận lợi. Sau khi bán nhà và tất cả những vật dụng có giá trị khác ở California, chúng tôi băng đồng vượt suối, đến sống tại một gác xép nhỏ ở Cambridge, Massachusetts.
Thật bất ngờ, cuộc sống mới lại làm tôi yêu thích. Tôi không còn phải căng đầu với một đống công việc, cũng không phải lo dọn dẹp vườn tược, hồ bơi, hay đưa xe hơi đi bảo trì nữa. Lúc này, nếu cần phải sửa chữa gì trong căn hộ nhỏ, chúng tôi chỉ việc gọi điện cho người quản lý. Tôi cảm thấy mình không bị ràng buộc bởi bất cứ điều gì. Không những thế, tôi còn kinh ngạc nhận ra rằng, chính nỗi ám ảnh về tiền bạc trước đây đã ngốn quá nhiều thời gian của vợ chồng tôi. Thậm chí, ước mơ sở hữu một ngôi nhà với tôi lúc này bỗng trở nên thật xa lạ.
Chúng tôi trở lại cuộc sống giản dị thời sinh viên. Trước khi lập một kế hoạch gì đó cần một khoản chi tiêu lớn, chúng tôi thường hỏi nhau: “Chúng ta thích sống một cuộc sống tiện nghi hay thích không bị ràng buộc bởi tiền bạc?”. Và lần nào, câu trả lời cũng là thích sống tự do, ghét sự ràng buộc. Cũng nhờ đó, hai vợ chồng tôi có đủ thời gian cho những dự định sáng tạo của mình. Với chồng tôi, đam mê lớn nhất của anh ấy là âm nhạc, còn với tôi, đó là việc ấp ủ và cho ra đời những cuốn sách tâm huyết. Phải thừa nhận rằng, mức sống của chúng tôi chẳng có gì đặc biệt, nhưng đời sống tinh thần lại rất thoải mái và hạnh phúc.
Nói điều này để thấy rằng, đôi khi chúng ta mải mê theo đuổi những dự định lớn lao mà quên mất hạnh phúc đang nằm đâu đó ngay trong cuộc sống đời thường của mình. Cũng có khi, bị cuốn theo những lo lắng vật chất khiến ta quên mất việc làm giàu tâm hồn bằng thế giới nghệ thuật; điều này cũng chẳng khác nào việc biến những trang thơ ca thành giấy gói hàng như trong truyện.
Một đời sống sâu sắc
“- Ta sẽ sống san sẻ với cả hai người! Ta không thể bỏ đứt ông chủ cửa hàng tạp hóa được vì món cháo đặc béo ngậy thật là ngon! Và điều đó hoàn toàn thích hợp với cách ứng xử của con người! Chúng ta cũng thế thôi, chúng ta cũng sẽ quay về với chủ vì món cháo đặc thơm ngon!”
Khác với ông chủ cửa hàng tạp hóa giàu có, chàng sinh viên nghèo hầu như không một xu dính túi. Nhưng chàng cảm thấy vừa lòng với cuộc sống của mình bởi chàng được làm chủ kiến thức và sự hiểu biết. Chàng sẵn sàng đổi miếng pho-mát để lấy quyển sách nát, chấp nhận ăn bánh mì không với bơ. Không coi trọng tiền bạc, điều chàng quan tâm nhất đó là dành thời gian nghiền ngẫm sách vở, tìm hiểu thế giới thơ ca cũng như tư tưởng của nhân loại.
Khi mò lên gác xép với ý định dạy cho chàng sinh viên một bài học, con quỷ không ngờ chính nó lại bị cảm hóa. Tâm hồn nó tràn ngập niềm ngưỡng mộ và kính sợ - cảm giác mà hầu như nó không thể diễn tả bằng lời - khi bắt gặp thế giới của chàng, một thế giới hoàn toàn xa lạ với những gì nó vẫn thấy ở tiệm tạp hóa. Điều gì chi phối tâm hồn nó mạnh mẽ đến vậy? Phải chăng mầu nhiệm của tri thức, của cái đẹp khiến nó xúc động tột độ? Sau những phút giây ngỡ ngàng, con quỷ lặng im, say sưa chiêm ngưỡng thế giới huyền diệu đang diễn ra trong căn gác. Nhưng rồi, khi ánh đèn vụt tắt, nó giật mình đối diện với hiện tại và sự thật trần trụi. Nó đang lạnh, lạnh đến tê người. Nó cần trở về chốn ấm áp của cửa hàng. Thế giới của tri thức trong kia có thể truyền cảm hứng cho nó, nhưng chẳng thể cho nó một chốn che thân.
Nếu ông chủ tiệm tạp hóa chỉ quan tâm đến việc buôn bán thì chàng sinh viên lại chẳng quan tâm đến điều gì khác ngoài sách vở. Cuộc sống của chàng ngày càng xa rời thực tế và xa lạ với mọi người. Chàng dường như quên mất thế giới hiện thực đang diễn ra ngoài kia - bên ngoài căn gác nhỏ bé. Bởi vậy, khi ngọn lửa bùng cháy đe dọa cả khu phố, chàng vẫn bình thản đứng nhìn bên cửa sổ. Chàng mãi chỉ là người quan sát.
Con quỷ thuộc về cả hai thế giới. Thoạt đầu, nó cảm thấy thoải mái trong cửa hàng nhưng khi đối diện với tri thức, đầu óc được mở mang thì nó không còn ngồi yên chấp nhận cuộc sống như cũ nữa. Một mặt, nó vẫn thèm muốn món cháo béo ngậy, mặt khác, ánh đèn trên gác xép lại lôi cuốn nó, khiến nó muốn bỏ lên sống với chàng sinh viên. Suốt đám cháy, con quỷ không còn nhớ gì đến món cháo đặc. Thay vào đó, nó chạy lên gác, nhét quyển sách rách vào cái mũ trùm bằng tất màu đỏ của mình, phóng lên mái nhà và leo một mạch lên ống khói. Nó ngồi đó, hai tay khư khư ôm lấy cái mũ đựng “báu vật”. Nó biết rõ điều gì quan trọng nhất đối với nó lúc này. Nhưng khi ngọn lửa được dập tắt, con quỷ bình tâm trở lại, hình ảnh món cháo đặc thơm ngon lại hiện về. Nó nhận ra rằng, nó không cần chọn lựa đứng về phía nào, hay nên sống với ai; nó sẽ san sẻ cuộc sống với cả hai.
Việc sử dụng từ ngữ đa nghĩa của nhà văn khiến đoạn kết có vẻ mơ hồ. Trong tiếng Đan Mạch, “dele” có hai cách hiểu, một là con quỷ sẽ tự phân thân để được sống ở cả hai thế giới; cách hiểu thứ hai là nó sẽ san sẻ, dung hòa cả hai. Mỗi cách hiểu mang một sắc thái ý nghĩa khác nhau. Cách hiểu thứ nhất cho thấy mọi hiện tượng trong cuộc sống đều ẩn chứa những mâu thuẫn đối nghịch. Cách hiểu thứ hai lại cho phép một giải pháp hòa hợp có thể xảy ra.
Parker Palmer, chuyên gia trong lĩnh vực giáo dục, từng viết về sự tương phản giữa việc chìm đắm trong suy tư và việc quá mải mê với các hoạt động. Theo ông, người ta có thể giải quyết mâu thuẫn giữa hai cách sống trái ngược này bằng nhiều phương thức khác nhau. Dù bằng cách nào đi nữa thì mục đích của việc đan xen hai cách sống ấy vẫn là giúp ta có một cuộc sống hài hòa, thoải mái.
Mở đầu câu chuyện là hai thế giới hoàn toàn khác biệt giữa ông chủ tiệm tạp hóa và chàng sinh viên. Con quỷ chọn sống với ông chủ bởi ông bán loại bơ ngon nhất, hơn nữa còn cho nó thưởng thức món cháo thơm ngon. Bởi vậy, khi thấy chàng sinh viên có ý giễu cợt ông, nó tức tối tìm cách trả đũa. Nhưng thật bất ngờ, chính nó lại là người học được nhiều nhất khi nhận ra những giá trị đích thực trong cuộc sống.
Chúng ta cũng vậy, đôi lúc, thay vì chọn một trong hai quan điểm hoàn toàn trái ngược và bỏ qua cái còn lại, ta nên đi vào tìm hiểu và kết hợp chúng với nhau, tạo điều kiện để cái này bổ sung thiếu sót của cái kia. Thí dụ, sau cả tuần làm việc mệt mỏi, căng thẳng, ta nên dành một khoảng thời gian nào đó (ngày chủ nhật chẳng hạn ) để nghỉ ngơi, đi chơi lấy lại cân bằng cho bản thân. Điều này cũng giống như việc con quỷ dành thời gian ban ngày ở tiệm tạp hóa ấm áp, ban đêm lên gác xép vậy. Cả hai nơi đều quan trọng, hơn nữa, chúng lại chẳng hề đụng chạm hoặc tổn hại gì đến nhau.
Khi con quỷ nhỏ tự nhủ: “Ta sẽ sống san sẻ với cả hai người” cũng có nghĩa là nó chấp nhận cả hai như một phần thiết yếu của đời sống. Nó chân thực một cách độc đáo. Điều này khiến tôi chợt nhớ đến câu chuyện khá vui diễn ra trong gia đình tôi.
Cách đây vài tháng, trong một bữa ăn, cả nhà tôi phải bật cười khi nghe câu nói hết sức hồn nhiên, thật thà từ đứa cháu gái sáu tuổi. Hôm đó, con bé hỏi tôi:
- Tại sao cô ăn chay?
Em dâu tôi trả lời:
- Vì cô Mette cảm thấy giết hại thú vật là không tốt.
Con bé tỏ ra trầm tư suy nghĩ, trong lúc miệng vẫn nhóp nhép nhai miếng thịt gà. Rồi bất ngờ, nó nhìn tôi với ánh mắt quả quyết:
- Cháu cũng cảm thấy giết hại thú vật là không tốt... nhưng cháu rất thích thịt gà.
Đúng là kiểu lập luận trẻ con. Nhưng rõ ràng, cách lập luận ấy cho thấy việc dễ dàng chấp nhận tính chất không nhất quán của vấn đề luôn tồn tại trong mỗi chúng ta.
Trong cuộc sống, chúng ta không nên khư khư ôm giữ một quan điểm nhất định, cũng không nên tự ép buộc mình đi theo con đường mình không yêu thích. Thay vào đó, hãy thử mở lòng đón nhận những quan điểm khác biệt và dung hòa chúng với nhau. Chắc chắn, cuộc sống sẽ trở nên thú vị hơn rất nhiều.
Mỗi chúng ta cần nhận biết mình đang ở đâu trong lĩnh vực của mình. Bạn có thấy việc lý tưởng hóa cuộc sống đã cản trở tính năng động ở bạn, khiến bạn không thể thực hiện những dự định của bản thân? Bạn có khi nào rơi vào cảm giác kiệt sức và phải tìm đến thế giới mộng tưởng để lấy lại cân bằng? Đâu là những lý tưởng khơi dậy cảm xúc trong bạn?
Thực tế cho thấy, khi người ta biết kết hợp giữa thực tiễn và lý tưởng, người ta sẽ sáng tạo ra được nhiều giải pháp thích hợp và hiệu quả. Càng biết dung hợp hai cách sống này với nhau, người ta sẽ ngày càng trở nên khôn ngoan hơn.
ĐÔI ĐIỀU SUY NGẪM
Với bạn, sự năng động cần thiết như thế nào trong đời sống của môi người?
Khi nào bạn sử dụng các quy tắc đạo đức để đưa ra quyết định thực tế?
Theo bạn, thế nào là người thành công và thế nào là người sống sâu sắc?