“Trí tuệ không phải là trí tuệ nếu nó chỉ được rút ra từ sách vở.”
- Horace
Khi nhà hiền triết Hồi giáo Hasan sắp qua đời, có người hỏi ông, “Thưa ngài, xin cho tôi biết ai là thầy của ngài? Ai là người đã truyền cho ngài những kiến thức uyên thâm đến vậy?”.
Hasan mỉm cười đáp, “Thầy của ta thì nhiều vô kể. Nếu điểm lại tên tuổi của các vị ấy chắc sẽ phải mất nhiều tháng, có khi là nhiều năm. Thời gian của ta còn rất ít nên ta chỉ có thể kể cho anh nghe về ba người thầy.
Người thầy đầu tiên là một tên trộm. Có lần ta bị lạc trong sa mạc. Khi tìm đến được một ngôi làng thì trời đã rất khuya nên mọi nhà đều đã đóng cửa ngủ cả. Cuối cùng, ta tình cờ bắt gặp người đàn ông đang hì hục khoét vách một căn nhà trong làng. Ta hỏi về chỗ tá túc qua đêm thì ông ấy trả lời, ‘Khuya khoắt thế này khó tìm chỗ nghỉ chân lắm, nhưng nếu không ngại ở chung với một tên trộm thì ông có thể đến chỗ tôi’.
Vì quá đói khát và mệt mỏi, ta quyết định theo ông ta về chỗ trú chân và nán lại đấy hẳn một tháng. Mỗi đêm, trước khi đi, ông ấy đều lặp lại câu nói quen thuộc, ‘Tôi đi làm đây. Ông ở nhà đợi tôi nhé’. Và lần nào ông ấy trở về nhà, đáp lại ánh mắt tò mò của ta luôn là câu trả lời, ‘Hôm nay chẳng trộm được gì, nhưng ngày mai tôi sẽ làm được. Có thể lắm chứ’.
Bỏ qua việc làm bất chính của người đàn ông kia, rõ ràng ông ta có niềm tin rất mạnh mẽ vào bản thân. Ta cũng từng có lúc rơi vào bế tắc, tâm trí liên tục suy nghĩ nhưng chẳng nghiệm ra chân lý nào. Điều đó khiến ta tuyệt vọng đến mức nghĩ rằng mình nên chấm dứt quá trình tìm kiếm vô vọng. Nhưng ngay sau đó, ta chợt nhớ đến tên trộm - kẻ mà hàng đêm vẫn quả quyết, ‘Ngày mai tôi sẽ làm được. Có thể lắm chứ’ - và cố gắng thêm lần nữa.
Người thầy thứ hai của ta là một chú chó. Lần đó, ta đang đi dọc bờ sông thì một chú chó xuất hiện. Chú chó đó đang khát nước nhưng vừa nhìn xuống dòng nước thì nó liền hoảng sợ bỏ chạy. Hẳn nó đã tưởng cái bóng của mình là một con chó khác. Nhưng có lẽ vì quá khát nên vừa chạy được một đoạn là nó quay lại bờ sông. Dù sợ, nó vẫn nhảy ùm xuống sông và cái bóng kia biến mất. Qua đó ta nghiệm ra rằng cũng như chú chó kia, phần lớn nỗi sợ bên trong chúng ta đều do tưởng tượng mà ra và cách duy nhất để chiến thắng nỗi sợ của bản thân là hành động.
Người thầy cuối cùng của ta là một đứa trẻ. Lần nọ, ta đến một thành phố lớn và thấy đứa bé cầm trên tay một ngọn nến đang cháy để đặt trong đền thờ. Ta hỏi đứa bé, ‘Con tự thắp sáng cây nến này phải không?’. Đứa bé đáp, ‘Thưa phải’. Đoạn ta hỏi tiếp, ‘Lúc nãy ta còn thấy cây nến chưa được thắp nhưng chỉ một thoáng sau nó đã cháy sáng. Vậy con có biết ánh sáng từ đâu đến không?’.
Đứa bé bật cười rồi thổi tắt ngọn nến và nói, ‘Lúc nãy cây nến còn cháy sáng nhưng bây giờ ánh sáng đã biến mất. Vậy ngài có biết ánh sáng đã đi đâu không?’.
Cái tôi ngạo nghễ của ta hoàn toàn đổ sụp và pho kiến thức cổ kim của ta cũng sụp đổ theo. Lúc ấy, ta nhận ra sự dốt nát của bản thân. Từ đó trở đi, ta không bao giờ dám tự cao tự đại về kiến thức của mình nữa.
Có thể nói ta xem vạn vật là thầy. Ta học hỏi từ mọi người và mọi vật, từ cành cây, ngọn cỏ đến đám mây trên trời. Ta không chỉ có một người thầy mà có hàng triệu người thầy. Sống ở đời, quan trọng là mỗi người phải luôn sẵn sàng làm học trò và học hỏi từ những con người bình dị cũng như những điều nhỏ bé nhất”.