• ShareSach.comTham gia cộng đồng chia sẻ sách miễn phí để trải nghiệm thế giới sách đa dạng và phong phú. Tải và đọc sách mọi lúc, mọi nơi!
Danh mục
  1. Trang chủ
  2. Người Ai Cập - Quyền lực và Tình yêu - Tập 2
  3. Trang 4

Mười lăm sách kể về cuộc đời danh y Sinuhe vào những năm 1390-1335 trước Công lịch

Sách thứ mườiThành phố thiên đường

att

1

Horemheb từ xứ Kush trở về vào dịp hè nóng như thiêu như đốt. Những con én không còn bay liệng mà đã từ lâu giúi mình vào bùn, nước bốc mùi thối rữa trong các ao quanh thành phố, châu chấu và bọ nhảy tàn phá mùa màng. Nhưng các vườn cây ở khu giàu có của Thebes vẫn xanh rì, mát mẻ và các vườn hoa nở rộ, khoe màu sắc sặc sỡ dọc hai bên Đại lộ Nhân Sư, bởi ở Thebes chỉ người nghèo mới thiếu nước ngọt và chỉ thức ăn của họ mới bị bụi làm mất ngon, vì bụi rơi xuống như tấm màn vải phủ khắp nơi, phủ đầy lá keo, lá si trong khu phố của họ. Còn bên bờ nam của sông, cung điện vàng của Pharaon nhô lên trên những bức tường và vườn cây như một giấc mơ sáng chói, đỏ rực và xanh nhạt trong màn bụi xám mờ, nóng bỏng của ban ngày. Mặc dù đây là thời gian nóng nhất của mùa hè, song Pharaon không đi đến cung điện mùa hè của mình nơi miền Hạ mà vẫn ở lại Thebes. Do vậy, dân chúng đoán rằng sắp có điều gì đó xảy ra và nỗi lo lắng như bầu trời đen kịt trước cơn bão cát đè nặng trái tim mọi người.

Không ai ngạc nhiên khi thấy binh lính bắt đầu hành quân trên các con đường phía nam Thebes từ sáng sớm. Những người lính đen đúa khiên bám đầy bụi, những ngọn giáo đồng lấp lánh, những cánh cung giương căng đi dọc các con phố, miệng há hốc, mắt tò mò liếc nhìn xung quanh khiến lòng trắng chao đảo rất đáng sợ trên khuôn mặt ướt đẫm mồ hôi. Họ mang theo các biểu tượng chiến tranh tàn bạo vào các trại lính trống vắng, chẳng mấy chốc lửa bếp bắt đầu được nhóm lên và đá được nung nóng để đặt trong những chảo đất sét lớn. Cũng lúc đó, hạm đội thuyền chiến cập bến, chiến xa của các chỉ huy và những con ngựa bờm bóng mượt được đưa lên bờ từ các thuyền chở hàng hóa. Trong các đội quân này không thấy người Ai Cập mà chủ yếu là người da đen từ phía nam và người Shardana từ các sa mạc phía tây bắc. Họ chiếm lĩnh thành phố, đốt lửa canh gác ở các góc phố và chốt chặn trên sông. Dần dần, công việc bị ngưng trệ trong các nhà xưởng, cửa hiệu và nhà kho. Thương nhân thu dọn hàng hóa bên đường phố vào trong nhà và chèn đóng các cửa sổ, các chủ quán rượu và nhà vui vội vàng thuê những người đàn ông lực lưỡng bảo vệ. Mọi người ăn vận đồ trắng, cả người nghèo lẫn người giàu từ khắp nơi trong thành phố bắt đầu đổ xô về ngôi đền lớn của Amon cho đến khi sân đền ken kín người và bên ngoài tường thành cũng đông nghịt.

Cùng lúc đó có tin đồn đền thờ Aton đã bị bôi bẩn và làm ô uế trong đêm. Một xác chó thối rữa đã được ném vào nơi bệ thờ và thi thể người coi đền được tìm thấy với cổ họng bị cắt một vệt đến tai. Khi nghe tin này, nhiều người sợ hãi nhìn ngó xung quanh, nhưng cũng có những người không giấu được niềm vui.

- Ông chủ ơi, xin ông tẩy trùng đồ nghề của mình, - Kaptah nghiêm giọng nói. - Tôi nghĩ ông có rất nhiều việc phải làm trước khi trời tối, thậm chí nếu tôi không nhầm, có thể ông phải khoan sọ.

Tuy nhiên, cho đến tối không có gì đáng chú ý xảy ra ngoài việc mấy người lính da đen say xỉn cướp đồ của một vài cửa hiệu và hãm hiếp mấy người đàn bà, song lính canh đã bắt và đánh họ trước mặt mọi người, dẫu điều đó không an ủi các chủ cửa hiệu và những nạn nhân được nhiều. Nghe nói Horemheb ở trên thuyền chỉ huy nên tôi đi đến cảng để gặp anh ấy, mặc dù tôi không tin có thể gặp được. Tôi hết sức ngạc nhiên khi lính gác, sau khi lơ đãng nghe tôi hỏi, đã đi trình báo và quay lại rất nhanh, mời tôi lên lều của thuyền trưởng ở trên thuyền. Vậy là lần đầu tiên tôi bước lên một thuyền chiến và không khỏi tò mò nhìn khắp xung quanh, nhưng chỉ thấy các loại vũ khí và số lượng đông thủy thủ là khác biệt với các thuyền khác, bởi vì ngay cả thuyền buôn trên biển cũng có đầu mũi được mạ vàng và cánh buồm sặc sỡ.

Vậy là tôi gặp lại Horemheb. Trong mắt tôi, anh ấy cao hơn và thật oai vệ, hai vai nở rộng, hai cánh tay rắn chắc, nhưng mặt hằn đầy nếp nhăn, mắt đầy tia máu và ẩn chứa nỗi phiền muộn. Tôi cúi đầu thấp trước mặt anh ấy và buông hai tay xuống ngang đầu gối, khiến anh cười và hét lên giọng đau khổ:

- Ôi, này Sinuhe, Con Trai Lừa Hoang, bạn của tôi! Cậu đến thật đúng lúc.

Nhưng vì địa vị của mình, anh ấy không ôm tôi mà quay sang viên chỉ huy phó thấp bé và béo tốt, hai mắt thô lố và thở hổn hển vì nóng đang bối rối đứng cạnh anh. Horemheb đưa cho người này chiếc roi vàng chỉ huy của mình và nói:

- Hãy nhận trách nhiệm và làm thật tốt!

Anh ấy cởi tấm áo choàng chỉ huy thêu chỉ vàng của mình ra quàng quanh cổ viên chỉ huy phó rồi nói:

- Hãy choàng lên mình chức vị chỉ huy và hãy để máu người dân ướt đẫm bàn tay bẩn thỉu của ngươi.

Sau đó, anh ấy mới quay lại phía tôi và nói:

- Sinuhe, bạn của tôi! Tôi được tự do theo bạn đến nơi nào bạn muốn và hy vọng trong nhà bạn có thảm để tôi có thể giãn xương cốt, vì nhân danh thần Seth và tất cả ác quỷ, tôi đã rất mệt mỏi và chán ngán khi tranh cãi với những kẻ điên rồ.

Anh ấy còn quàng cánh tay qua vai viên chỉ huy phó nhỏ bé, đầu chỉ chạm tới vai anh, và nói:

- Hãy nhìn kỹ, Sinuhe, bạn của tôi, và hãy nhớ những gì cậu thấy, vì ngày hôm nay cậu thấy ở đây người đàn ông nắm trong tay số phận của Thebes và có lẽ số phận của cả Ai Cập. Anh ta được lệnh Pharaon thay tôi sau khi tôi nói thẳng với Pharaon rằng ngài là kẻ điên. Nhưng khi nhìn anh ta, cậu sẽ đoán được rằng Pharaon sẽ lại sớm cần đến tôi thôi.

Horemheb cười rất lâu và đưa tay đập đập vào đầu gối, nhưng tiếng cười của anh không hề có chút niềm vui nào mà nó khiến tôi sợ hãi.

Viên chỉ huy nhỏ bé khúm núm nhìn anh ấy, mắt lồi tròn vì nóng, mồ hôi chảy dài trên mặt qua cổ xuống giữa bộ ngực béo ụ của ông ta.

- Đừng tức giận tôi, ngài Horemheb, - ông ta nói với giọng the thé. - Ngài biết là tôi không muốn cầm roi chỉ huy của ngài, tôi yêu thích sự yên bình ở khu vườn nhà mình và những con mèo của mình hơn là tiếng gầm rú nơi chiến trận. Nhưng tôi là ai mà dám chống lại lệnh của Pharaon, và ngài truyền rằng sẽ không có trận chiến nào cả, phải hạ bệ thần giả mà không được đổ máu, như ngài mong muốn.

- Pharaon nói điều ngài muốn, - Horemheb nói. - Trái tim ngài chạy trước lý trí ngài, giống như con chim bay vút qua con ốc sên. Vì vậy, lời nói của ngài chẳng có ý nghĩa gì, mà ngươi phải tự mình suy nghĩ và cân nhắc thấu đáo khi phải để máu chảy, cho dù đó là máu của người Ai Cập. Thề có chim ưng của ta, ta sẽ tự tay đánh ngươi nếu ngươi bỏ quên lý trí và tài năng của mình trong lồng của những con mèo giống của ngươi, vì ngươi vốn là một chiến binh dũng mãnh dưới thời Pharaon trước, như ta từng được nghe kể, nên ngài mới bổ dụng ngươi vào nhiệm vụ đáng ghét này.

Anh ấy vỗ vào lưng tân chỉ huy quân đội hoàng gia khiến người đàn ông nhỏ bé há hốc mồm thở dốc và những lời ông ta định nói nghẹn lại nơi lồng ngực. Horemheb sải mấy bước dài lên sàn thuyền và quân lính đứng dậy, tươi cười giơ cao ngọn giáo chào đón anh ấy. Anh vẫy tay chào họ và hét to:

- Tạm biệt lũ bọ bẩn thỉu thân yêu của ta! Hãy tuân lệnh con mèo giống nhỏ thó, béo ú đang cầm chiếc roi vàng chỉ huy theo ý muốn của Pharaon. Hãy tuân lệnh anh ta như thể anh ta là đứa con chưa hiểu gì của các ngươi và giữ cho anh ta không ngã khỏi chiến mã hoặc bị thương bởi con dao của chính anh ta.

Quân lính cười và hét lên những lời ca ngợi anh ấy, nhưng Horemheb chỉ buồn rầu hơn, giơ nắm tay về phía họ và gào to:

- Ta không từ giã mà chỉ tạm chia tay các ngươi một thời gian ngắn, bởi ta nhìn thấy sự cuồng nhiệt trong mắt các ngươi. Vì vậy, hãy kiềm chế tay mình và ghi nhớ những lời ta dặn, nếu không lưng của các ngươi sẽ bị rách toạc khi ta trở lại.

Anh ấy hỏi tôi ở đâu và báo địa chỉ cho viên cai đội cận vệ, nhưng cấm tay này đưa đồ đạc của mình đến nhà tôi vì anh nghĩ để trên thuyền chiến an toàn hơn. Sau đó, anh ấy quàng tay qua cổ tôi như đôi khi từng làm trước đây và thở dài nói:

- Nói thật lòng, Sinuhe, tôi, chứ không phải ai khác, phải được một bữa say mèm tối nay.

Tôi nhớ đến quán Đuôi Cá Sấu và kể cho anh ấy về nó, anh tỏ ra thích thú nên tôi mạnh dạn xin anh ấy cho một đội lính canh đến bảo vệ quán rượu của Kaptah. Anh ấy ra lệnh cho viên cai đội cận vệ và người này tuân lệnh, cứ như thể anh ấy vẫn giữ roi tổng chỉ huy, và hứa sẽ chọn ra một số lính lớn tuổi, đáng tin cẩn đến canh quán rượu. Với việc này, tôi có thể giúp Kaptah mà không mất gì.

Tôi biết trong Đuôi Cá Sấu có nhiều phòng nhỏ kín đáo, nơi các thương lái và những kẻ trộm mộ mặc cả, mua bán đồ trộm cắp và cũng là nơi những mệnh phụ quý phái hẹn hò với các phu khuân vác lực lưỡng ngoài bến cảng. Tôi đưa Horemheb vào một trong những phòng ấy và Merit mang ra, đặt vào lòng bàn tay anh ấy một đuôi cá sấu trong cốc vỏ sò. Anh ấy liền uống một hơi cạn sạch và ho nhẹ rồi thốt lên “Ồ”. Sau đó anh ấy gọi một cốc nữa và khi Merit đi lấy thêm, anh khen Merit là một thiếu nữ xinh đẹp và hỏi tôi đã làm gì với nàng. Tôi cam đoan rằng giữa tôi và nàng chưa có gì cả, nhưng tôi mừng vì Merit vẫn chưa kịp mua bộ váy áo kiểu mới mà vẫn mặc áo che kín bụng. Tuy nhiên, Horemheb không động vào Merit mà kính trọng cảm ơn nàng và cầm lấy chiếc cốc vào lòng bàn tay, vừa thận trọng nếm nó vừa thở dài. Sau đó anh ấy bảo:

- Sinuhe, ngày mai máu sẽ chảy trên đường phố Thebes, nhưng tôi không thể làm gì được, vì Pharaon là bạn tôi và tôi yêu ngài, dù ngài điên khùng; tôi đã từng lấy tấm choàng vai của mình đắp cho ngài và chim ưng của tôi đã ràng buộc số phận của chúng tôi với nhau. Có lẽ chính vì sự điên rồ của ngài mà tôi yêu ngài, nhưng tôi không nhúng tay vào việc này vì tôi phải nghĩ về tương lai và tôi không muốn dân chúng căm thù mình. Ôi, Sinuhe, bạn của tôi, rất nhiều nước đã chảy xuôi sông Nile và bao mùa lũ đã qua kể từ ngày chúng ta gặp nhau lần cuối ở Syria hôi hám. Bây giờ tôi từ xứ Kush trở về và đã giải binh tất cả các đơn vị đồn trú ở đó theo lệnh của Pharaon, tôi cũng đã rút các đội quân da đen về Thebes, nên vùng phía nam hoàn toàn không được bảo vệ. Sinuhe, bạn của tôi, trại lính trong các thành phố lớn sẽ trống vắng một thời gian dài. Chim sẽ làm tổ trong các chảo nấu ở đó và lính lang thang khắp các làng quê, dùng gậy đánh những người nông dân và cướp đi những tấm da bò mà đáng lẽ họ dành để nộp thuế cho Pharaon. Nhưng tôi cũng không thể làm gì được với việc này, vì tôi đã từng lấy tấm choàng vai của mình che cho Pharaon và bảo vệ ngài khi ngài ốm yếu, số phận của tôi đã gắn liền với số phận của ngài. Nhưng không ai có thể bảo vệ ngài ngoài chính bản thân ngài, do đó tôi lo sợ cho Ai Cập vì Ai Cập là tổ quốc của tôi.

Tôi kể với anh ấy rằng cuối cùng Pharaon đã cấm không cho thuyền bè đến xứ Punt và tôi cũng nói đến tâm trạng của người Syria. Anh ấy không ngạc nhiên, mà chỉ gật đầu, ánh mắt buồn buồn, rồi anh thưởng thức đuôi cá sấu trong cốc vỏ sò và nói:

- Nếu điều này tiếp tục, bạo loạn ở Syria chỉ còn là vấn đề thời gian. Có lẽ nó sẽ giúp ngài tỉnh ngộ, nhưng chưa đến lúc đó thì nó đã đẩy đất nước vào cảnh nghèo đói. Bây giờ không thể tính đến việc buôn bán ở xứ Punt nữa. Các hầm mỏ trên núi cũng thiếu nhân công và hoạt động cầm chừng kể từ khi ngài đăng quang, vì những kẻ lười không còn bị phạt bằng gậy mà chỉ bị giảm khẩu phần ăn. Tim tôi thật sự run lên vì lợi ích của ngài, vì lợi ích của Ai Cập và vì thần của ngài, mặc dù tôi không hiểu gì về thần linh và cũng không muốn hiểu, bởi tôi là một người lính. Tôi chỉ nói là nhiều người, rất nhiều, vẫn phải chết vì thần của ngài và điều đó thật vô lý, bởi tôi nghĩ thần linh hiện hữu để giữ cho dân chúng bình yên chứ không gieo rắc sự hỗn loạn trong họ.

Anh ấy còn nói thêm:

- Ngày mai Amon sẽ bị phế truất và tôi hoàn toàn không thương tiếc gì vị thần này, vì Amon đã quá quyền thế để đứng cạnh Pharaon. Lật đổ Amon là việc khôn ngoan mà Pharaon làm, vì ngài sẽ thừa hưởng từ Amon sự thịnh vượng có thể cứu được ngài. Ngài cũng có thể lôi kéo tất cả thần khác về phe mình nếu ngài hành động khôn khéo. Vì giáo sĩ của các thần khác chỉ như cái bóng bên cạnh Amon và rất ghét thần này, nên ngài có thể cai trị họ bằng cách phân tán quyền lực Ai Cập vào nhiều vị thần nhỏ. Nhưng cũng không giáo sĩ nào tôn kính thần Aton của ngài, mà các giáo sĩ, nhất là các giáo sĩ của Amon, chế ngự trái tim của dân chúng. Bởi thế, tất cả sẽ trở nên hỗn loạn.

- Nhưng, - tôi nói, - Amon là một vị thần đáng ghét và các giáo sĩ của thần đã giam hãm dân chúng trong bóng tối quá lâu, bóp nghẹt mọi suy nghĩ của người sống đến nỗi không ai dám nói một lời nếu không được Amon cho phép. Trong khi đó, Aton đem lại ánh sáng và cuộc sống tự do, một cuộc sống không sợ hãi, đó là một điều lớn lao, vô cùng lớn lao, bạn Horemheb của tôi ạ.

- Tôi không hiểu cậu nói sợ hãi với nghĩa gì, - anh ấy nói, - phải chăng cần giữ người dân trong khuôn phép bằng nỗi sợ hãi và nếu thần linh làm được điều đó thì không cần đến vũ khí để hỗ trợ vương triều. Về mặt đó, Amon đã làm rất tốt và nếu Amon bằng lòng với việc phục vụ Pharaon, thần sẽ hoàn toàn xứng đáng với vị trí của mình, vì từ xửa xưa các dân tộc đã được cai trị bằng nỗi sợ hãi và sau này sự sợ hãi cũng sẽ cai trị tất cả mọi dân tộc. Bởi vậy Aton này, với vẻ thân thương qua thánh giá tình yêu của thần, là một vị thần rất nguy hiểm.

- Ngài là một vị thần vĩ đại hơn anh nghĩ, - tôi khẽ nói, dường như chính mình cũng không hiểu tại sao lại nói điều này với anh ấy. - Có lẽ ngài cũng có ở trong anh mà anh không hay biết và cả trong tôi, ngoài tầm hiểu biết của tôi. Nếu mọi người hiểu ngài, ngài có thể giải phóng tất cả các dân tộc khỏi quyền lực của sợ hãi và bóng tối. Nhưng rất có thể nhiều người sẽ phải chết vì ngài, như anh nói, vì chỉ dùng vũ lực mới có thể ép buộc những gì vĩnh cửu lên người bình thường.

Horemheb sốt ruột nhìn tôi như nhìn một đứa trẻ đang nói đủ mọi điều nhảm nhí với mẹ mình. Mặt anh ấy tối sầm lại và anh định lấy chiếc roi chỉ huy bên hông đập vào chân mình, vì đuôi cá sấu bắt đầu ngấm và điều khiển anh. Khi sờ không thấy roi, anh ấy hơi lúng túng và nói rành rọt:

- Chừng nào con người vẫn là con người, vẫn còn có khát vọng sở hữu, đam mê, sợ hãi và hận thù, chừng nào còn có màu da, ngôn ngữ và sắc tộc khác nhau, chừng nào người giàu vẫn giàu có và kẻ nghèo vẫn nghèo hèn, thì kẻ mạnh thống trị kẻ yếu và người thông minh thống trị kẻ mạnh. Nhưng Aton này lại muốn cào bằng tất cả, để trước mặt ngài kẻ nô lệ ngang hàng với người giàu có. Cách suy nghĩ thông thường đó là ngu xuẩn và điều này rõ ràng, hiển nhiên đến mức tôi không muốn tranh luận với cậu chút nào, vì nó làm phiền tôi và ảnh hưởng không tốt đến suy nghĩ của tôi.

- Người Babylon khẳng định theo chiêm tinh rằng năm thế giới mới sắp bắt đầu, - tôi đuối lý nói, - có lẽ Aton sẽ nắm quyền và quyền uy của ngài sẽ kéo dài cho đến khi lông quạ đổi màu trắng và nước sông bắt đầu chảy ngược, như các giáo sĩ của ngài hát trong đền thờ Aton.

Tôi nói vậy, nhưng chính tôi cũng không tin lời mình nói.

Horemheb uống cạn cốc và nhìn tôi với vẻ thương hại, nhưng đuôi cá sấu đã làm anh ấy sảng khoái khiến anh vui vẻ trở lại và nói:

- Ít nhất chúng ta có chung suy nghĩ là đã đến lúc phải lật đổ Amon, nhưng nếu điều đó cần phải xảy ra, nó nên xảy ra trong bí mật và bất ngờ, trong bóng đêm, cùng lúc trên khắp vương quốc và phải hành quyết các giáo sĩ tối cao ngay lập tức, đồng thời phải đưa các giáo sĩ khác đến hầm lò và mỏ đá. Nhưng trong cơn điên loạn của mình, Pharaon muốn làm tất cả công khai, trước sự hay biết của dân chúng và trong ánh sáng thần của ngài, vì vầng hào quang chính là thần của ngài, chẳng phải chuyện này chẳng có gì mới cả hay sao? Dù sao, điều này vẫn điên rồ, sẽ khiến nhiều máu đổ và tôi sẽ không chịu làm điều đó nếu tôi không được biết trước những gì ngài dự định. Thề với thần Seth và tất cả quỷ dữ, nếu biết trước việc này, tôi sẽ lên kế hoạch chu đáo và bất ngờ lật đổ Amon khiến ngài khó có thể biết được chuyện gì xảy ra. Nhưng bây giờ, cả đứa cù bơ cù bất ở Thebes cũng đã biết chuyện và các giáo sĩ đã xúi giục dân chúng tụ tập trong sân đền, lũ đàn ông chặt cành cây làm vũ khí, còn đám đàn bà đi vào đền thờ với chày đập vải giấu dưới váy áo. Thề có chim ưng của mình, tôi chỉ muốn khóc khi nghĩ đến sự điên rồ của Pharaon.

Anh ấy gục đầu xuống cánh tay chống trên đầu gối, khóc cho nỗi khổ hình sắp tới của Thebes khi Merit mang tới cho anh ấy đuôi cá sấu thứ ba và ngưỡng mộ nhìn tấm lưng cường tráng, cơ bắp nổi cuộn của anh ấy, khiến tôi vội vàng bảo nàng rời đi để chúng tôi yên. Tôi cố gắng kể cho Horemheb nghe những gì tôi đã thấy và đã nghe ở Babylon, ở Hatti và Crete theo lệnh của anh ấy, cho đến khi tôi nhận thấy quả thật cá sấu đã đập đuôi vào anh ấy và anh ngủ say sưa, đầu gối giữa hai tay. Thế là đêm hôm đó anh ấy ngủ cạnh tôi, còn tôi thức canh cho anh ấy, nghe tiếng binh lính hò hét trong quán rượu suốt đêm, vì chủ quán và Kaptah thấy có nghĩa vụ giúp họ giải trí, để họ chú tâm bảo vệ quán hơn khi bạo loạn bắt đầu. Bởi vậy, tiếng ồn ào không ngớt suốt đêm, các nhạc công mù và vũ nữ được gọi vào quán, nên tôi nghĩ binh lính rất vui. Nhưng tôi không thấy vui khi nghĩ rằng dao và liềm đang được mài sắc, gậy gỗ được vót nhọn, chày bếp được gắn thêm đồng trong mọi ngôi nhà ở Thebes. Tôi cũng tin không mấy người ở Thebes, kể cả Pharaon, ngủ được vào đêm đó, nhưng Horemheb thì ngủ rất say, có lẽ do anh ấy sinh ra để làm lính.

2

Suốt đêm ấy, nhiều nhóm người thức trong sân và trước đền Amon, dân nghèo nằm nghỉ qua đêm trên bãi cỏ mát mẻ giữa các luống hoa, các giáo sĩ dâng cúng vô số đồ lễ xa hoa lên tất cả bàn thờ của Amon và phân phát thịt, bánh và rượu cúng cho dân chúng. Họ the thé gào tên Amon, hứa hẹn cuộc sống vĩnh cửu cho những ai tin vào Amon và sẵn sàng hy sinh mạng sống cho thần.

Các giáo sĩ đã có thể tránh được đổ máu nếu họ muốn, chỉ cần từ bỏ thần của mình, Pharaon sẽ để họ ra đi trong hòa bình, không ngược đãi họ, vì thần của ngài căm ghét ngược đãi và thù hận. Nhưng quyền lực và giàu sang đã khiến họ tối mắt nên cái chết không còn làm họ sợ hãi và nhiều người còn tin trong đêm cuối cùng này có thể cầu xin Amon giúp đỡ, vì thế họ không sợ chết. Bởi họ biết quá rõ rằng cả dân chúng và lính canh của Amon với số lượng ít ỏi đều không thể chống lại đội quân có vũ khí và dạn dày trận mạc, đội quân sẽ quét sạch tất cả như dòng nước lũ cuốn dạt đám rơm khô. Nhưng họ muốn có sự đổ máu giữa Amon và Aton, để biến Pharaon thành kẻ giết người và tội phạm, kẻ đã cho đám da đen bẩn thỉu lấy máu đào của Ai Cập. Họ muốn dâng cúng cho Amon của mình để Amon sẽ sống mãi muôn đời nhờ hơi máu của những người bị hiến tế, ngay cả khi ảnh tượng của ngài bị lật đổ và đền thờ bị đóng cửa.

Cuối cùng sau một đêm dài, vầng hào quang của Aton nhô lên sau ba ngọn núi phía đông, và cái nóng như thiêu đốt của ngày hè lập tức xua đi cái mát mẻ của đêm đen. Lúc đó, tiếng tù và vang lên từ tất cả các góc phố và bãi chợ, các tín sứ của Pharaon đọc chiếu của ngài, tuyên bố Amon là thần giả, bị phế truất và nguyền rủa đến muôn đời, đến mức cái tên đáng nguyền rủa của thần phải bị đục bỏ khỏi tất cả các bia ký, đài tưởng niệm và cả lăng mộ. Tất cả các đền của Amon ở miền Thượng và miền Hạ, tất cả của cải từ đất đai, nhà cửa, gia súc, nô lệ, đến vàng, bạc và đồng của Amon đều thuộc về Pharaon và thần của ngài. Pharaon hứa sẽ chuyển các giáo đường Amon thành nơi cho mọi người tản bộ, chuyển các vườn cây, các hồ thiêng của ngài thành nơi công cộng cho người nghèo được dạo chơi, bơi lội trong những ngày nắng nóng và được múc bao nhiêu nước tùy ý. Pharaon hứa sẽ chia tất cả đất của Amon cho những người không có ruộng để họ canh tác, gieo trồng dưới tên Aton.

Lúc đầu, dân chúng lặng im nghe tuyên cáo của Pharaon theo như truyền thống, nhưng từ tất cả các góc phố, bãi chợ và đền miếu ầm vang tiếng gào thét của muôn dân: “Amon, Amon”. Tiếng gào thét vang to đến mức nghe như cả đá lát đường và tường nhà cũng đang gào thét. Khi ấy, lính da đen bắt đầu lưỡng lự, khuôn mặt được kẻ vẽ những đường trắng, đỏ của họ tái dần; họ nhìn xung quanh, mắt đảo đi đảo lại trắng nhợt trên khuôn mặt xám xịt, và nhận ra số lượng tưởng như đông đảo của họ chẳng là bao trong thành phố rộng lớn mà họ nhìn thấy lần đầu tiên trong đời. Trong tiếng gào thét của dân chúng, nhiều người không nghe thấy Pharaon đã đổi tên mình thành Ekhnaton, người được Aton ân sủng, để có thể loại bỏ cái tên Amon đáng nguyền rủa ra khỏi tên mình.

Tiếng gào thét cũng làm Horemheb bừng tỉnh trong phòng sau của Đuôi Cá Sấu, anh duỗi chân tay và mỉm cười nói với tôi khi mắt vẫn còn nhắm:

- Nàng đó ư, Baket, tình yêu của Amon, công chúa của ta? Có phải nàng gọi ta không?

Nhưng khi bị tôi hích vào bên mạn sườn, anh ấy mở mắt và nụ cười rơi ra khỏi khuôn mặt như chiếc áo cũ, rồi anh để tay lên đầu và nói:

- Thề với thần Seth và tất cả ác quỷ, đồ uống của anh thật mạnh quá, Sinuhe, và chắc chắn là tôi đã mơ.

Tôi nói với anh ấy:

- Dân chúng hét gọi Amon.

Lúc đó anh ấy nhớ ra mọi chuyện, vội vàng bật dậy rồi chúng tôi đi sang phòng rượu và vấp phải những cặp đùi trần của binh lính đang nằm cùng các cô gái. Horemheb giật nhanh cái bánh mì treo trên tường và nốc cạn hũ bia, rồi chúng tôi vội vã ra ngoài và lao về phía ngôi đền theo những con phố chưa bao giờ vắng vẻ như thế. Trên đường đi, Horemheb rửa ráy nơi đài phun nước ở hẻm Nhân Sư, nhúng đầu xuống nước rồi khó nhọc phun nước ra, vì đuôi cá sấu chắc vẫn còn đập thình thình trong đầu anh.

Trong khi đó mèo nhỏ thó béo ú tên Pepitamon đã dàn binh và chiến xa trước ngôi đền. Khi tất cả đã sẵn sàng và mỗi đội quân đều đã biết nhiệm vụ của mình, ông ta đứng lên trên chiếc kiệu vàng và the thé gào lên:

- Hỡi những người lính Ai Cập, những người đàn ông dũng cảm của Kush và những lính Shardana gan dạ! Hãy tiến lên và lật đổ hình tượng Amon bị nguyền rủa theo lệnh của Pharaon, các ngươi sẽ được trọng thưởng.

Nói xong điều này, ông ta nghĩ mình đã làm tất cả theo lệnh và hài lòng ngồi xuống tấm đệm mềm trong kiệu, bắt nô lệ quạt xung quanh mình vì trời rất nóng.

Nhưng phía trước đền tụ tập cơ man nào là người với trang phục trắng xóa, đàn ông lẫn đàn bà, người già và trẻ em, không ai chịu tránh đi khi binh lính với chiến xa dẫn đường bắt đầu tiến vào đền. Lính da đen dùng mũi giáo đẩy họ ra khỏi đường đi và lấy chùy đập một vài người, nhưng đám đông không chịu tránh ra. Đột nhiên, tất cả đều hét gọi Amon và ngã sấp xuống đất trước các chiến xa khiến ngựa giẫm lên họ và bánh chiến xa lăn qua người họ. Khi các chỉ huy nhận ra họ không thể tiến về phía trước nếu không gây đổ máu, họ lệnh cho binh lính rút về để chờ lệnh mới vì Pharaon cấm đổ máu. Nhưng máu đã chảy xuống đá lát quảng trường, những người bị đánh rên rỉ, gào thét và đám đông dân chúng như mê muội đi vì phấn khích khi họ nhìn thấy binh lính rút lui và nghĩ mình đã thắng.

Lúc đó, Pepitamon nhớ ra trong chiếu của ngài, Pharaon đã cải tên mình thành Ekhnaton. Thế là ông ta vội vàng đổi tên mình theo để mong được ân sủng từ Pharaon và khi các viên vệ úy mồ hôi đầm đìa, bối rối đến gặp ông ta để nhận lệnh mới, ông ta làm ra vẻ không nghe thấy họ nói, trừng mắt quát:

- Ta không quen biết ai là Pepitamon. Ta là Pepitaton, Pepi được Aton ban phước.

Các viên vệ úy, mỗi người một ngàn lính với chiếc roi bện vàng, hết sức phẫn nộ về điều đó và viên vệ úy đội chiến xa nói:

- Hãy tống Aton xuống địa ngục! Nhưng trò ngu xuẩn này là gì và ông cần lệnh cho chúng tôi phải làm gì để mở đường vào đền thờ?

Pepitaton chế nhạo lại họ:

- Các người là chiến binh hay những mụ đàn bà? Hãy giải tán dân chúng nhưng đừng gây đổ máu, vì Pharaon cấm điều đó.

Nghe thế, các viên vệ úy nhìn nhau và nhổ nước bọt xuống đất, nhưng rồi họ quay trở lại với quân lính của mình vì không thể làm gì khác.

Trong lúc các viên chỉ huy này đang dàn trận, sự cuồng tín đã lan khắp biển người và dân chúng tràn lên phía sau đội lính da đen đang rút lui, cạy đá lát đường dưới chân lên ném vào lính da đen và vừa vung cao chày bếp, gậy nhọn vừa hét rõ to. Dân chúng rất đông và họ khích lệ nhau bằng tiếng gào thét của mình, nhiều lính da đen trúng đá lát đường, đổ máu và ngã gục xuống đất, bầy ngựa kéo chiến xa hí vang điên dại và cố lồng lên trước tiếng gào thét của đám đông, buộc lính đánh xe phải cố hết sức để ghìm chúng lại.

Khi viên vệ úy chiến xa trở lại đoàn xe của mình, anh ta thấy con ngựa tốt nhất và đắt giá nhất của mình bị xuyên thủng một mắt, chân khập khiễng vì bị đá ném trúng. Anh ta cảm thấy đau đớn đến nỗi bật khóc vì tức giận và hét lên:

- Ôi mũi tên vàng của ta, con hoẵng nhanh nhẹn của ta, tia nắng của ta, chúng đã đâm thủng mắt và chém vào chân con nhưng chắc chắn trong lòng ta, con là con vật yêu quý hơn tất cả đám dân này với tất cả thần linh cộng lại. Vì thế ta muốn trả thù, nhưng chúng ta không được gây đổ máu, vì Pharaon đã cấm.

Anh ta dẫn đầu đội chiến xa, đánh xe lao thẳng vào đám đông và từng lính chiến xa kéo những kẻ la hét hăng hái nhất lên xe, ngựa giẫm đạp lên người già và trẻ em và tiếng hét của dân chúng chuyển thành tiếng gào khóc. Những người bị lôi lên chiến xa bị lính lấy dây cương thít cổ để máu họ không chảy ra rồi kéo xác họ sau xe để uy hiếp dân chúng. Lính da đen cũng tháo dây cung và nhào vào giữa đám đông, dùng dây cung siết cổ từng người. Họ siết cổ cả trẻ em, lấy khiên đỡ những cú đá và đánh bằng gậy để tự vệ. Nhưng bất cứ lính da đen vẽ mặt nào bị lạc khỏi hàng ngũ, lẫn vào đám đông đều bị đám đông thịnh nộ giẫm đạp, xé ra từng mảnh; họ kéo được một lính đánh xe khỏi chiến xa, đập đầu anh ta xuống đá lát đường đến nát bét và hét lên đầy phẫn nộ.

Cả Horemheb và tôi theo dõi tất cả những việc này từ Đại lộ Nhân Sư nhưng sau đó mới biết rõ mọi chuyện, vì sự hỗn loạn, tiếng hò hét, gào la ầm ào trước ngôi đền quá khác thường khiến chúng tôi không biết được chuyện gì đang xảy ra. Horemheb nói:

- Tôi không có quyền can thiệp vào chuyện này, nhưng tôi nghĩ mình sẽ học được nhiều điều khi chứng kiến tất cả.

Vì vậy, anh ấy trèo lên lưng con nhân sư và từ đó quan sát, miệng nhai chiếc bánh mì mà anh ấy giật được khi rời quán rượu.

Nhưng Thống lĩnh hoàng gia Pepitaton thấy lo lắng khi thời gian trôi qua, chiếc đồng hồ nước róc rách uổng phí bên cạnh và tiếng gào của dân chúng vẫn vọng đến tai ông ta như tiếng gầm gào của một cơn lũ hung dữ. Ông ta lại triệu các viên vệ úy đến, trách mắng họ thậm tệ vì sự chậm trễ và nói:

- Hôm nay mèo Mimo giống Sudan của ta sẽ đẻ và ta rất lo lắng khi không ở cạnh để giúp nó. Hãy đi đi và nhân danh Aton vứt bỏ ảnh tượng bị nguyền rủa, để tất cả chúng ta có thể về nhà; còn nếu không, nhân danh Seth và tất cả ác quỷ, ta sẽ giật vòng khỏi cổ các ngươi và bẻ roi của các ngươi, ta thề đấy.

Nghe thế, các viên vệ úy biết rằng dù thế nào họ cũng đã bị bán đứng. Họ hội ý với nhau, cầu xin tất cả thần linh nơi địa ngục cứu giúp, và quyết định ít nhất phải cứu vớt danh dự quân nhân của mình. Vì vậy, họ bố trí lại lực lượng và bắt đầu đồng loạt tấn công quét sạch dân chúng ra khỏi đường đi của mình như cơn lũ quét sạch rơm khô; ngọn giáo của lính da đen nhuộm đỏ máu và máu chảy khắp quảng trường. Rất nhiều đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã chết trước đền thờ sáng hôm đó vì Aton, bởi khi thấy quân lính thật sự tấn công, các giáo sĩ đã cho đóng các cổng đền, khiến dân chúng sợ hãi chạy tán loạn khắp nơi như một bầy cừu hoảng loạn và lính da đen, điên dại vì máu chảy, đuổi theo giết họ bằng tên; chiến xa chạy dọc các đường phố và dùng giáo đâm bất cứ ai chạy trốn. Nhưng trong khi chạy trốn, dân chúng xông vào đền thờ Aton, đập phá bàn thờ, giết các giáo sĩ sa vào tay họ trong khi các chiến xa đuổi theo sau họ. Thế là chẳng mấy chốc nền lát đá của đền Aton loang đầy máu và la liệt xác người.

Nhưng những bức tường của đền Amon đã chặn đường tiến của quân Pepitaton, vì lính da đen không quen công phá tường thành và những súc gỗ của họ không đủ chắc để phá cổng đồng của đền, cho dù chúng có thể dễ dàng phá cổng các làng nhà sàn ở xứ sở hươu cao cổ trong những khu rừng rậm phía nam. Quân lính không thể làm gì khác hơn là bao vây đền và các giáo sĩ từ trên tường thành chửi mắng họ, lính gác đền bắn tên và ném giáo vào họ, khiến nhiều lính da đen vẽ mặt đã gục ngã vô ích trước tường thành của đền. Mùi máu tanh từ quảng trường trước đền bốc lên nồng nặc, ruồi nhặng từ khắp nơi trong thành phố dồn về thành từng đám dày đặc. Pepitaton ra lệnh đưa mình đến quảng trường trong chiếc kiệu vàng, mùi hôi thối khủng khiếp khiến mặt ông ta xám ngoét; ông ta sai nô lệ đốt hương xung quanh mình rồi khóc và xé rách quần áo khi nhìn thấy quá nhiều xác người. Nhưng trong lòng ông ta, nỗi lo lắng về con mèo mẹ Mimo gốc Sudan cứ ám ảnh, nên ông ta nói với các viên vệ úy:

- Ta sợ cơn giận của Pharaon sẽ giáng xuống đầu các ngươi, vì các ngươi chưa giật bỏ được ảnh tượng của Amon mà máu đã chảy đầy các rãnh thoát nước ở quảng trường. Nhưng việc đã rồi nên ta phải chầu kiến Pharaon ngay để tâu cho ngài biết những gì đã xảy ra và ta sẽ cố nói đỡ cho các ngươi. Nhân đó, ta tranh thủ ghé qua nhà để xem mèo mẹ và thay quần áo mới, vì mùi ở đây khủng khiếp quá, ám hết vào da thịt ta. Trong khi chờ đợi, các ngươi hãy trấn an lính da đen, cho họ thức ăn và bia uống, vì hôm nay chúng ta không thể làm gì với tường thành của đền. Ta biết thế bởi vì ta là một chỉ huy giàu kinh nghiệm và chúng ta không có phương tiện để phá vỡ các bức tường. Nhưng đó không phải là lỗi của ta, vì Pharaon đã không nói một lời nào về việc vây hãm đền. Vì vậy, bây giờ hãy chờ lệnh Pharaon.

Không có gì khác xảy ra hôm đó nữa, các viên vệ úy đưa binh lính ra xa tường thành và các đống xác, đồng thời cho đánh các xe tải lương đến để lính da đen có đồ ăn. Lính Shardana, vốn khôn ngoan hơn lính da đen và không thích ánh nắng mặt trời, đã chiếm lấy tất cả các ngôi nhà gần đền thờ, đuổi chủ nhà và cướp các hầm rượu của họ, vì đó là nhà của những người giàu có và quyền quý. Trong khi đó, những cái xác trương phình trên quảng trường; những con quạ và diều hâu rỉa xác đầu tiên từ vùng núi cao bay đến Thebes, nơi chúng chưa bao giờ được nhìn thấy kể từ thời người ta có thể nhớ.

Lúc đó tôi bỏ Horemheb lại một lúc lâu, vì một cậu bé mũi đầy máu đi ngang qua chúng tôi, cố sức kéo theo người cha đang rên rỉ vì bị cỗ chiến xa đè qua nghiến đứt chân. Tôi đã giúp cậu bé, sau đó giúp những người bị thương khác và lại nghe thấy tiếng mũi tên bay vèo vèo qua tai, nhưng tôi không sợ, vì tôi là thầy thuốc, và trái tim tôi run lên vì tất cả những gì sắp xảy ra, bởi tôi đã thấy Aton giành quyền lực về mình. Vì vậy, tôi thà chết khi nghĩ đến đám dân chúng đã quá mù quáng, không thấy điều tốt đẹp mà Pharaon sẽ vì thần của mình đem đến cho họ. Nhưng các mũi tên đã tránh tôi và suốt ngày hôm đó, tôi hết xé quần áo lại quấn băng, tối đến tôi tiếp bệnh nhân tại nhà mình, vì ở khu nghèo khổ này không có mấy nhà không có người bị thương. Khi rửa và khâu vết thương cho họ, tôi trách:

- Chẳng phải các ông dại dột sao, vì Pharaon muốn làm điều tốt cho các ông và ngài đã hứa sẽ chia tất cả đất Amon cho những ai không một tấc đất cắm dùi? Kể từ ngày này, các công viên của Amon sẽ là công viên của các ông, các ông có thể câu những con cá béo từ ao thánh của Amon.

Nhưng họ nói:

- Pharaon giả muốn đuổi chúng tôi ra khỏi ngôi nhà nghèo khó nhưng quý giá của mình, bắt chúng tôi làm việc đồng áng và làm nô lệ của đất đai, mặc dù chúng tôi không sinh ra với phân giữa các ngón chân. Ông cũng biết rõ là cá của Amon có xương nhọn và xương có thể mắc vào họng người, làm người đó hóc và chết vì chúng là cá thánh.

Họ bắt đầu nhìn tôi với vẻ nghi ngờ và nói thêm:

- Chắc ông không phải là người của Aton đó chứ, Sinuhe, người mà chúng tôi kính trọng? Còn nếu phải thì chúng tôi không cần sự giúp đỡ của ông, vì khi đó dao của ông sẽ đầu độc vết thương của chúng tôi, băng của ông sẽ dính vào da chúng tôi và đốt nó như lửa.

Vì vậy, tôi thấy tốt hơn là không nói gì mà chỉ giúp đỡ họ, bởi sự cuồng tín Amon đã làm họ mù quáng.

Người ta cũng khiêng vào sân một thanh niên tóc chải dầu thơm bóng mượt, nhưng cổ họng cậu ta có một vết thương khiến cậu không thể uống vì nước cứ từ đó chảy ra. Tôi có thể chữa lành cho cậu ta, nhưng những bệnh nhân bị thương đã được tôi băng bó nhìn thấy trên cổ áo dính đầy bụi và máu của cậu có thêu những dấu thánh giá nên họ nhào đến và giết cậu ta trước khi tôi kịp ngăn họ lại. Họ hoàn toàn không hiểu tại sao tôi lại khóc và nguyền rủa họ, vì họ nghĩ mọi điều ác độc đều đến từ Aton và họ chỉ muốn loại trừ điều ác.

- Trước khi có Aton, chúng tôi nghèo nhưng hạnh phúc, - họ nói, - vì trong đói nghèo và khốn khó, Amon vẫn ban phước lành cho chúng tôi và chúng tôi có cơ hội đến miền tây với sự giúp đỡ của ngài. Nhưng vì Aton đáng nguyền rủa này mà Pharaon sẽ tước đi phước lành Amon của chúng tôi và chúng tôi vẫn nghèo khổ và bất hạnh, vì lính da đen sẽ đánh chúng tôi đến trọng thương, rồi dịch bệnh và nạn đói sẽ đến theo Aton của Pharaon nếu Amon từ bỏ chúng tôi, vì Amon là vua của tất cả thần linh.

Vì thế, họ ném xác người thanh niên ra đường và đàn chó đến liếm máu và dầu thơm xức trên tóc cậu.

Trong lúc ấy, lính da đen uống bia ở chợ và các đường phố xung quanh đền; lính Shardana uống rượu trong những ngôi nhà họ đã cướp phá; các viên cai đội không thể và cũng không muốn ngăn họ mà chính họ cũng uống. Tối đến, những ngọn đèn không còn thắp sáng các con phố chính, bầu trời Thebes đen kịt, nhưng lính da đen và lính Shardana chạy ra khỏi doanh trại, đốt đuốc, phá cửa các nhà vui, cướp phá các ngôi nhà và đi từ phố này sang phố khác xét hỏi những người đi lại phía họ: “Amon hay Aton?”. Ai không trả lời sẽ bị đánh và cướp tiền trong ví. Còn ai sợ hãi trả lời “Ban phước lành cho Aton”, họ sẽ hét lên: “Dối trá, đồ chó Thebes, không lừa được chúng tao đâu!”, sau đó họ chọc thủng họng và đâm giáo vào bụng người đó, rồi trấn lột quần áo và ví của người đó. Để nhìn rõ hơn, họ đốt cháy những ngôi nhà dọc các con phố và sau nửa đêm, bầu trời Thebes lại đỏ rực khắp nơi vì những đám cháy dữ dội; vào đêm đó, đến ngay cả người quyền quý nhất ở Thebes cũng khó được an toàn. Không ai có thể trốn thoát vì cả đường bộ và đường thủy đều bị chặn, bất cứ ai muốn chạy trốn đều bị bắt phải quay lại, vì lính canh đã được lệnh không được để ai lén lút đưa vàng và những thứ quý giá của Amon ra khỏi thành phố.

Tôi không biết Pharaon đã nghĩ gì vào đêm đó khi thấy ánh lửa từ các đám cháy hừng lên trên bầu trời Thebes, nhưng tôi nghĩ người ta đã giấu ngài nhiều điều và ngài chỉ muốn tin những gì người ta kể với ngài, vì trong thâm tâm ngài không yêu Thebes, thành phố linh thiêng của Amon. Pepitaton cũng không bị mất chức thống lĩnh mà Pharaon còn ban cho ông ta một sợi dây chuyền vàng trang trí hình mèo vì ông ta là người đầu tiên theo gương Pharaon đổi tên mình để xóa bỏ dấu vết tên của Amon, cái tên bị nguyền rủa và không bao giờ còn được cao giọng nhắc đến. Không ai bị trừng phạt vì những gì đã xảy ra, Pharaon chỉ ra lệnh bao vây ngôi đền cho đến khi các giáo sĩ đầu hàng vì đói hoặc tỉnh ngộ và không ai bị giết trong giao chiến nữa. Nhưng lệnh chặn các con đường và dòng sông là mệnh lệnh điên rồ nhất, vì trong kho của đền có lúa mạch, trong vườn cây có cỏ cho gia súc ăn, và cho dù trong sân đền có hàng trăm, hàng ngàn người trung thành với Amon tụ tập thì họ cũng sẽ không bị đói, thế mà chính thành phố lại trở thành nạn nhân của nạn đói khi các con đường và dòng sông bị chặn.

Nhưng điều tồi tệ nhất là việc bỏ mặc các xác chết thối rữa ở bãi chợ trước đền, vì ai cũng làm như không biết gì về những đống xác để tránh cơn thịnh nộ của Pharaon và Pharaon được tấu trình rằng không mấy người bị giết. Cả người nhà cũng không được phép mang xác người thân của mình ra khỏi bãi chợ, và trong ngày đầu tiên lính Shardana đã bán được vài thi thể cho những người giàu có nhất nhưng ngày hôm sau, đám lính này cũng trốn chạy vì mùi xú uế. Vì vậy, mùi hôi thối của xác chết đã đầu độc thành phố, thậm chí cả nước sông, và chắc chỉ mấy ngày nữa thôi dịch bệnh sẽ bắt đầu bùng phát không kiểm soát được, vì Nhà Sống và kho thuốc nằm bên trong tường thành của đền.

Hằng đêm hỏa hoạn hoành hành trong thành phố, những ngôi nhà bị cướp bóc, lính da đen vẽ mặt uống rượu từ những chiếc cốc vàng và lính Shardana nằm trên những chiếc giường mềm êm trong khu ngủ có mái che. Nhưng cả ngày lẫn đêm từ trong các tường thành của đền, các giáo sĩ la hét nguyền rủa Pharaon giả và tất cả những ai từ bỏ Amon. Đám tội phạm và rác rưởi của thành phố rời nơi chúng ẩn náu; những kẻ trộm cắp, những kẻ đào trộm mộ và kẻ cướp đường phố, không ai sợ thần thánh lẫn Amon. Chúng ngoan ngoãn cầu nguyện cho Aton và đi đến đền thờ ngài đã được vội vàng dọn sạch, nhận thánh giá từ tay các giáo sĩ còn sống và treo nó quanh cổ mình như lá bùa hộ mệnh để có thể cướp, giết và hãm hiếp tùy thích trong đêm tối. Sau những ngày đêm này, nhiều năm sau Thebes vẫn không trở lại được như trước, mà quyền lực và sự giàu có của nó bị rò rỉ đi như máu chảy ra từ vô số vết thương trên cơ thể béo phì.

3

Horemheb ở lại nhà tôi, bồn chồn thao thức và gầy rộc đi, mắt anh ngày càng thâm quầng và anh không còn ngó ngàng đến thức ăn mà Muti cố ép anh từ sáng đến tối, vì Muti, như những người đàn bà khác, rất ngưỡng mộ Horemheb và kính trọng anh ấy hơn tôi, một người đàn ông gầy gò và yếu ớt, mặc dù tôi có nhiều kiến thức. Horemheb nói:

- Tôi mặc kệ Amon với Aton, nhưng vì họ mà binh lính của tôi trở nên rồ dại và biến thành dã thú, nên chắc chắn tôi phải cho nhiều tấm lưng ăn roi và đành để một số đầu rơi xuống trước khi họ buộc phải tỉnh ngộ lại. Đó là một điều rất đáng tiếc, vì tôi biết nhiều người trong số họ, biết công trạng của họ và họ là những người lính tốt nếu được giữ trong khuôn phép và thường xuyên bị quở trách.

Còn Kaptah ngày một giàu lên, khuôn mặt nhờn mỡ, và ông ấy ngủ lại Đuôi Cá Sấu, vì các cai đội và quản cơ của Shardana trả vàng cho đồ uống của họ và các phòng sau của quán trữ đầy của quý cướp được như đồ trang sức, rương gỗ và thảm, những thứ họ đổi lấy rượu mà không thèm hỏi giá. Không ai đụng đến quán và bọn cướp cũng tránh xa vì có lính của Horemheb canh giữ và Kaptah cho họ say sưa từ sáng đến tối, từ tối đến sáng để họ trung thành canh giữ quán, cầu khẩn các vị thần ban phước cho tên của ông ấy và treo ngược đầu một tên cướp bị bắt quả tang trên đường phố phía trên cửa ra vào như một dấu hiệu cảnh báo cho những kẻ bạo loạn.

Mới đến ngày thứ ba, tôi đã hết thuốc và không thể mua thêm kể cả bằng vàng và tài năng của tôi trở nên vô dụng đối với những bệnh do các xác chết và nguồn nước bị ô nhiễm đã lây lan đến khu phố nghèo. Tôi mệt lử, trái tim như một vết thương nơi lồng ngực và mắt tôi đỏ ngầu vì thiếu ngủ. Vì vậy, tôi cảm thấy chán ngán mọi thứ, chán người nghèo, người bị thương và chán cả Aton. Tôi đi đến quán Đuôi Cá Sấu và uống rượu pha ở đó cho đến khi ngủ thiếp đi. Sáng ra, Merit thức tôi dậy, tôi thấy mình ngủ trên thảm của nàng và nàng nằm bên cạnh. Tôi xấu hổ nói với nàng:

- Cuộc đời giống như đêm tối lạnh lẽo, nhưng nó thật sự rất ngọt ngào khi hai người cô đơn sưởi ấm cho nhau trong đêm lạnh, mặc dù tay và mắt họ lừa dối lẫn nhau.

Nàng ngái ngủ ngáp dài và nói:

- Sao ông biết tay và mắt tôi lừa dối? Nhưng thật sự là tôi đã phát chán phải đánh vào ngón tay binh lính và đá vào ống chân họ. Trong thành phố này, giờ chỉ có bên cạnh ông là nơi an toàn duy nhất, nơi không ai động vào tôi, Sinuhe ạ. Nhưng vì sao lại thế, tôi không hiểu và tôi gần như giận ông đấy, vì người ta bảo tôi không đến nỗi nào, bụng không có khiếm khuyết gì, mặc dù ông không muốn nhìn nó.

Tôi uống bia nàng mời để xua đi cơn đau đầu và không biết nói gì với nàng. Nàng nhìn thẳng vào mắt tôi, ánh mắt cười cười, dẫu nơi đáy đôi mắt nâu vẫn lắng đọng nỗi buồn như nước đen dưới đáy giếng sâu khi ta nhìn xuống. Rồi nàng nói:

- Sinuhe, tôi muốn giúp ông nếu tôi có thể và tôi biết trong thành phố này có một người đàn bà nợ ông rất nhiều. Vào những ngày này, mái nhà là sàn nhà, các cánh cửa mở ra phía ngoài và dọc theo các con phố người ta đòi nhiều món nợ cũ. Có lẽ cũng tốt cho ông nếu ông đòi được món nợ ấy để ông không còn nghi ngờ rằng bất cứ người đàn bà nào cũng là một hoang mạc thiêu đốt ông.

Tôi thổ lộ với nàng rằng tôi hoàn toàn không coi nàng là hoang mạc, nhưng tôi bỏ đi và những lời nói của nàng bắt đầu âm ỉ trong đầu tôi, vì tôi cũng chỉ là một con người và những ngày này trái tim tôi tê dại vì máu me và những vết thương, những ngày này tôi đã nếm trải sự say mê, thù hận và tôi sợ chính mình. Vì vậy, những lời nói của nàng bắt đầu rực đỏ trong tôi như lửa cháy, khiến tôi nhớ đến đền thờ thần mèo và ngôi nhà bên cạnh đền, mặc dù thời gian đã trôi đi như cát phủ lên ký ức tôi. Nhưng trong những ngày kinh hoàng này của Thebes, tất cả thi thể đều nhỏm dậy từ các nấm mồ và tôi nhớ đến bố Senmut hiền lành và mẹ Kipa nhân hậu của tôi, cảm nhận vị máu trong miệng khi nghĩ về họ, vì vào những ngày này, không người quyền quý hay giàu sang nào ở Thebes được tuyệt đối an toàn và tôi không cần làm gì hơn là trả tiền cho một vài gã lính để thực hiện ý muốn của mình. Nhưng tôi vẫn chưa biết mình muốn gì. Vì vậy tôi trở về nhà, làm những gì có thể cho người bệnh mà không cần đến thuốc men và khuyên người dân ở các khu phố nghèo tự đào giếng bên bờ sông để nước được lọc sạch khi chảy qua đất, cát.

Nhưng sang ngày thứ năm, cả các quan vệ úy dưới quyền Pepitaton cũng bắt đầu sợ, vì binh lính không còn nghe theo hiệu lệnh tù và nữa mà phỉ báng họ trên đường phố, giật roi vàng chỉ huy khỏi tay họ và bẻ gãy roi. Họ đến gặp Petitaton, cũng đã chán ngán với cuộc sống chiến binh túng thiếu và nhớ những con mèo của mình, buộc ông ta triều kiến Pharaon để tâu cho ngài biết sự thật và cởi bỏ tấm vải choàng thống lĩnh hoàng gia ra khỏi cổ. Vì vậy, vào ngày thứ năm, đội xa giá của Pharaon đến nhà tôi và vời Horemheb diện kiến Pharaon. Horemheb rời khỏi giường như một con sư tử, tắm rửa, mặc quần áo và trên đường đi gào lên với chính mình khi nghĩ xem sẽ nói những gì lúc đối diện Pharaon, vì vào ngày này cả ngai vàng của Pharaon cũng đang lung lay và không ai biết điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai. Đứng trước Pharaon, anh ấy nói:

- Tâu bệ hạ, tình hình gấp lắm rồi và thần không có thời gian để nhắc lại những gì thần đã bẩm lên ngài. Nhưng nếu ngài muốn mọi thứ trở lại như trước, xin hãy trao cho thần quyền uy của Pharaon trong ba ngày, đến ngày thứ ba thần sẽ trao lại ngài quyền lực và ngài không cần biết chuyện gì đã xảy ra.

Pharaon hỏi anh ta:

- Khanh sẽ lật đổ Amon chứ?

Horemheb đáp:

- Bệ hạ quả thật còn điên rồ hơn kẻ mộng du, nhưng sau tất cả những gì đã xảy ra thì phải hạ bệ Amon thôi, để giữ vững quyền lực cho Pharaon. Vì vậy thần sẽ phế bỏ Amon, nhưng xin ngài đừng hỏi thần sẽ làm như thế nào.

Pharaon nói:

- Khanh không được làm hại các giáo sĩ của Amon, vì họ không biết mình đang làm gì.

Horemheb nói:

- Có lẽ phải khoan sọ bệ hạ thôi vì không có cách nào khác chữa lành cho ngài, nhưng thần sẽ tuân theo lệnh ngài vì đã có lần thần lấy tấm vải choàng vai của mình che cho sự ốm yếu của ngài.

Pharaon nhỏ lệ, trao roi và trượng của mình cho anh ấy trong ba ngày. Nhưng tôi không tận mắt chứng kiến việc này mà chỉ được biết theo lời kể của Horemheb và anh ấy thường thêm thắt vào câu chuyện của mình theo thói quen của lính tráng. Dù thế nào thì anh ấy đã trở về thành phố trên xa giá vàng của Pharaon, đi từ đường phố này sang đường phố khác, hét gọi binh lính bằng tên của họ, tập hợp những người trung thành nhất quanh mình, ra lệnh thổi tù và triệu tập quân lính về quanh chim ưng và đuôi sư tử. Suốt cả đêm hôm đó, anh ấy phán xử, và tiếng khóc, tiếng kêu gào vang lên từ các trại lính, các viên quản cơ nghiêm khắc của cơ binh làm gãy hàng đống gậy cho đến khi cánh tay họ mỏi nhừ và họ kêu ca rằng chưa bao giờ vất vả như vậy trong đời binh nghiệp. Horemheb đã lệnh cho những binh lính tốt nhất của mình đi tuần tiễu khắp thành phố, bắt từng gã lính không tuân lệnh ra đánh đập, nhiều người tay chân và quần áo lấm máu, bị chặt đầu trước những người lính khác. Đến gần sáng, đám tội phạm của Thebes như đàn chuột đã lủi vào nơi ẩn náu của chúng, vì bất cứ ai bị phát hiện đã lấy cắp hay đột nhập vào nhà bên cạnh đều bị giáo đâm tại chỗ. Bởi vậy, chúng vừa chạy trốn vừa run rẩy giật đứt thánh giá của Aton trên cổ và quần áo vì sợ sẽ bị nhận ra.

Nhưng Horemheb cũng triệu tất cả thợ xây của thành phố lại, lệnh cho họ dỡ nhà và phá thuyền của những người giàu có lấy gỗ và bắt họ làm thang, làm dụng cụ để phá tường, phá cổng và tháp bảo vệ, khiến đêm đêm Thebes đắm chìm trong tiếng búa và tiếng ầm ầm của gỗ. Nhưng âm thanh vang vọng làm hài lòng người dân Thebes nhất là tiếng kêu khóc của đám lính da đen và Shardana bị đánh bằng roi. Vì thế họ tha thứ cho tất cả những việc Horemheb làm và yêu quý anh ấy, bởi những người khôn ngoan nhất đã quá chán ngán và mệt mỏi với các thảm họa vì Amon và hy vọng Amon sẽ nhanh chóng bị lật đổ để thành phố thoát khỏi binh lính.

Horemheb cũng không phí thời gian đàm phán với các giáo sĩ, mà ngay khi trời vừa mờ sáng, anh ấy đã lệnh cho các quan vệ úy và cho gọi các cai cơ đến chỗ mình và giao nhiệm vụ cho họ. Rồi binh lính đẩy các tháp bao vây đến năm vị trí quanh tường để bảo vệ đền, cùng lúc ấy lính phá cổng bắt đầu đập rầm rầm vào các cánh cổng thành. Không ai bị thương, vì binh lính đã làm những mái khiên để che chắn, còn các giáo sĩ và đội gác đền nghĩ cuộc bao vây chỉ tiếp tục kéo dài như trước nên không đun nước sôi và nấu chảy hắc ín mang lên tường thành để đẩy lùi quân tấn công. Thế nên họ đã không thể chống lại được cuộc công kích dứt khoát, đồng loạt tại các điểm theo kế hoạch mà lực lượng bị phân tán, chạy tán loạn trên tường thành, còn dân chúng bắt đầu sợ hãi gào thét lên trong các sân đền. Vì vậy, khi thấy cánh cổng bị phá và lính da đen trèo tường, các giáo sĩ thượng phẩm bèn cho thổi kèn để kết thúc trận chiến và cứu dân chúng, vì họ nghĩ Amon đã nhận đủ vật hiến tế và họ muốn giữ mạng sống cho các tín đồ trung thành của Amon, để dành lực lượng cho sau này. Thế là các cánh cổng được mở và theo lệnh Horemheb, quân lính cho phép dân chúng vốn đã dồn vào các sân đền được thoát ra ngoài. Dân chúng vừa chạy vừa cầu cứu Amon đến giúp; họ chỉ muốn về nhà, vì sự mê muội đã tạm lắng và họ đã quá mệt mỏi khi phải ở trong sân đền chật chội dưới cái nắng như thiêu đốt.

Bằng cách này Horemheb đã chiếm sân trước, nhà kho, trại ngựa và xưởng của đền mà không gây thương vong lớn. Anh ấy cũng nắm quyền kiểm soát Nhà Sống lẫn Nhà Chết và cử các danh y của Nhà Sống đem thuốc vào thành phố để chữa cho người bệnh, song không hề động đến Nhà Chết, vì Nhà Chết nằm ngoài cuộc sống dù trên thế giới có chuyện gì xảy ra đi nữa. Nhưng các giáo sĩ và lính canh đã dồn vào cố thủ trong đền lớn để bảo vệ nơi linh thiêng nhất, các giáo sĩ mê hoặc lính canh, cho họ uống các loại thuốc mê để họ chiến đấu đến chết mà không cảm thấy đau đớn.

Trận chiến trong đền lớn kéo dài đến chập tối, rồi tất cả lính canh bị bỏ bùa mê và các giáo sĩ có vũ khí trong tay đều bị giết, chỉ còn lại những giáo sĩ bậc cao nhất đã dồn về quanh thần của họ ở nơi linh thiêng nhất. Lúc đó, Horemheb truyền thổi tù và, ra lệnh dừng tấn công, sai binh lính thu gom xác chết và ném xuống sông, còn anh ấy một mình đến gặp các giáo sĩ của Amon và nói:

- Ta không hận thù Amon, vì ta phụng sự Horus, chim ưng của ta. Nhưng ta phải làm theo chiếu chỉ của Pharaon và lật đổ Amon. Tuy nhiên, có lẽ cả các vị và ta sẽ thoải mái hơn nếu không còn tượng nào ở nơi linh thiêng nhất, để quân lính không nhục mạ tượng, bởi ta không muốn mình trở thành kẻ xúc phạm thần linh, mặc dù ta phải phụng sự Pharaon theo lời tuyên thệ của mình. Hãy cân nhắc lời ta và ta cho các vị một giờ đồng hồ nước để làm việc đó. Sau đó, các vị có thể an toàn rời đi và không ai động vào các vị, vì ta không có ý hại các vị.

Lời anh ấy nói rất thuận tai các giáo sĩ vốn đã sẵn sàng chết cho Amon. Họ nán lại sau bức màn che nơi linh thiêng nhất cho đến khi một lượng nước rỉ ra từ đồng hồ nước. Khi ấy Horemheb tự tay giật màn che và cho các giáo sĩ thoát ra. Họ bỏ đi, để lại nơi linh thiêng nhất trống không, không còn thấy tượng của Amon đâu nữa, vì các giáo sĩ đã nhanh chóng đập tượng ra thành từng mảnh và giấu trong áo mang đi, để có thể nói rằng phép lạ đã xảy ra và Amon vẫn còn sống. Nhưng Horemheb đã ra lệnh niêm phong tất cả các kho bằng ấn triện của Pharaon, còn anh tự mình niêm phong các hầm cất giữ vàng và bạc. Tối hôm đó, những người thợ đá bắt đầu công việc của mình dưới ánh đuốc, đục bỏ tên của Amon khỏi mọi bức tượng và bia ký; cũng trong đêm đó, Horemheb ra lệnh tẩy sạch những gì còn sót lại của xác chết trên bãi chợ và dập tắt những đám lửa còn âm ỉ cháy đó đây trong thành phố.

Khi hay tin Amon đã bị hạ bệ, hòa bình và trật tự được lập lại, những người giàu có và quyền quý mặc lên người bộ đồ đẹp nhất, thắp đèn trước nhà và kéo ra đường phố mừng chiến thắng của Aton. Các triều thần đã chạy đến trốn trong hoàng cung của Pharaon trước đó cũng sai thuyền đưa mình qua sông trở lại thành phố và chẳng mấy chốc, bầu trời Thebes lại rực sáng ánh đỏ từ các ngọn đuốc, đèn lồng và hoa được rải đầy trên đường phố, dân chúng hò hét, ôm nhau cười nói. Đến Horemheb cũng không ngăn được họ chuốc rượu cho lính Shardana, cũng như không thể ngăn các phụ nữ quyền quý ôm những người lính da đen giơ mũi giáo khoe những cái đầu trọc của các giáo sĩ đã bị giết chết. Vì đêm nay Thebes vui mừng nhân danh Aton và nhân danh Aton mọi thứ đều được phép, không có sự phân biệt giữa người Ai Cập và người da đen. Minh chứng cho điều này là các phụ nữ quyền quý đã mời người da đen đến nhà mình, cởi bộ xiêm áo mới mùa hè, tận hưởng sức mạnh và mùi máu tanh nồng trên cơ thể họ. Và khi một người canh đền bị thương từ bóng tối của bức tường thành bò ra quảng trường hét gọi Amon trong cơn mê sảng, họ dùng đá đập nát đầu ông ta xuống đường và các phụ nữ quý tộc vui mừng nhảy múa quanh thi thể ông ta.

Tận mắt chứng kiến tất cả những cảnh này, tôi phải đưa hai tay ôm đầu và nhận ra không còn gì quan trọng với mình nữa ngoài suy nghĩ không thần linh nào có thể chữa cho con người khỏi căn bệnh điên khùng của họ. Đêm đó, không còn quan tâm đến bất cứ điều gì, tôi chạy đến Đuôi Cá Sấu, những lời của Merit cháy bùng thành ngọn lửa trong tim tôi và tôi rủ mấy gã lính đang gác quán rượu đi cùng, họ nghe lời tôi vì đã từng nhìn thấy tôi đi cùng với Horemheb. Tôi dẫn họ đi qua cái đêm hân hoan và điên cuồng đó, qua con phố có những người đang nhảy múa đến đền thần mèo, trước nhà của Nefernefernefer. Nơi đó, đèn và đuốc cũng cháy sáng, ngôi nhà không bị cướp phá và tiếng ồn ào hoan hỉ của những người say xỉn vọng ra khắp đường phố. Nhưng khi sắp đến gần, đầu gối tôi bắt đầu run lên, bụng tôi thắt lại và tôi nói với đám lính:

- Đây là lệnh của Horemheb, Thống lĩnh hoàng gia, bạn của ta. Hãy vào nhà, ở đó có một phụ nữ luôn ngẩng cao đầu, mắt xanh như đá. Hãy dẫn người đó đến với ta, nếu cô ta chống lại, hãy dùng cán giáo đánh vào đầu, nhưng không được làm cô ta bị thương.

Toán lính vui vẻ đi vào, ngay lập tức khách khứa bắt đầu sợ hãi chạy ra ngoài, chân run rẩy, những người hầu bắt đầu hét gọi bảo vệ. Nhưng toán lính đã nhanh chóng trở lại cùng với trái cây, bánh mì, mật ong, hũ rượu trong tay và cả Nefernefernefer. Vì ả ta chống cự nên đã bị giáo đánh vào đầu, khiến cái đầu nhẵn thín chảy máu và mái tóc giả rơi xuống. Tôi đặt tay vào ngực ả ta, làn da của ả mịn như thủy tinh và ấm nhưng tôi cảm thấy như tay mình đặt lên da một con rắn. Tôi nhận thấy tim ả còn đập và trên người không có vết thương nào, nhưng vẫn quấn ả trong bộ váy áo đen như quấn một cái xác rồi nhấc ả lên kiệu; lính canh không cản khi thấy tôi có những người lính đi cùng. Toán lính hộ tống tôi đến cổng Nhà Chết và tôi ngồi trong chiếc kiệu rung rinh, tay ôm thân thể Nefernefernefer bất tỉnh. Ả ta vẫn xinh đẹp nhưng tôi thấy ả còn kinh tởm hơn một con rắn trong tay mình. Thế là chúng tôi được khênh qua đêm náo nhiệt của Thebes đến Nhà Chết. Ở cổng Nhà Chết, tôi cho toán lính vàng, bảo họ đi và gửi kiệu lại. Tôi ôm Nefernefernefer trên tay đi vào Nhà Chết và nói với những người ngâm tẩm xác đang tiến lại gần mình:

- Tôi mang đến cho các ông thi thể của một phụ nữ tôi bắt gặp trên đường. Tôi không biết tên cũng như người thân của cô ta, nhưng tôi nghĩ đồ trang sức trên người cô ta đủ trả công cho các ông nếu các ông giữ xác cô ta mãi mãi.

Những người ngâm ướp xác mắng tôi:

- Đồ khùng, mi nghĩ những ngày này chúng ta không có nhiều xác chết lắm sao và ai sẽ trả công cho chúng ta?

Nhưng khi giở tấm áo choàng đen ra, họ thấy thi thể vẫn còn ấm và khi cởi quần áo và đồ trang sức trên người ả ra, họ thấy ả thật xinh đẹp, đẹp hơn bất kỳ người đàn bà nào từng được đưa vào Nhà Chết. Họ không nói gì với tôi nữa mà đặt tay lên ngực ả ta và nhận thấy tim ả vẫn còn đập. Khi ấy, họ vội vàng quấn ả lại trong chiếc áo choàng đen rồi nháy mắt với nhau, nhăn nhở cười phá lên vì mừng và nói với tôi:

- Đi đi, người lạ mặt, cầu xin thần linh ban phước lành cho việc làm của ngươi, chắc chắn chúng ta sẽ cố gắng hết sức để gìn giữ thi thể của cô ta mãi mãi, và nếu chỉ tùy thuộc vào mình, chúng ta sẽ giữ cô ta ở đây bảy mươi lần bảy mươi ngày, để đảm bảo thi thể của cô ta chắc chắn được gìn giữ.

Bằng cách đó, tôi đã đòi Nefernefernefer trả món nợ mà vì ả tôi mang nợ bố tôi và mẹ tôi. Tôi băn khoăn không biết ả ta sẽ nghĩ gì khi tỉnh dậy trong hang của Nhà Chết, bị tước hết của cải và sức mạnh dưới bàn tay của những người ngâm ướp thi thể vì theo như tôi biết, những người này sẽ không bao giờ để ả ta trở lại với ánh sáng ban ngày nữa. Đây là sự trả thù của tôi với ả, vì ả đã đưa tôi đến Nhà Chết, nhưng sự trả thù này thật trẻ con, như sau này tôi mới biết và bây giờ chưa đến lúc kể về nó. Tôi chỉ muốn nói rằng có lẽ sự trả thù mê hoặc con người và vị của nó ngọt ngào, nhưng trong tất cả những bông hoa của cuộc sống, hoa trả thù nở bung rồi tàn nhanh nhất và đầu lâu người chết nhăn nhở cười, nhạo báng ta từ bên dưới cơn thèm khát trả thù. Bởi lẽ nếu sự trả thù đối với tôi là men say và sự mê hoặc của nó đã lan khắp cơ thể tôi từ đầu đến chân vào giây phút mãn nguyện, thì khi tôi rời khỏi Nhà Chết, men say biến mất, thay vào đó là cơn lạnh buốt và cảm giác vô nghĩa khiến đầu tôi như vỏ trứng rỗng. Tôi cũng không còn mãn nguyện với ý nghĩ rằng có lẽ bằng việc làm của mình, tôi đã cứu nhiều người trẻ khác khỏi sự nhục nhã và chết trẻ, vì mỗi bước chân của Nefernefernefer mang theo sự hủy hoại, nhục nhã và chết chóc. Không, ý nghĩ đó không làm tôi thỏa mãn, vì nếu tất cả mọi điều đều có mục đích thì sự hiện diện của Nefernefernefer cũng có mục đích và những người đàn bà như ả phải ở trên thế gian này để trái tim con người được thử thách. Còn nếu không có điều gì có mục đích thì việc làm của tôi cũng phù phiếm và vô nghĩa như mọi việc làm khác của con người, vì niềm vui của tôi đã lập tức tan biến. Và nếu không việc làm nào có mục đích thì thà trầm mình xuống dòng sông để cho nước cuốn xác trôi đi.

Tôi đến Đuôi Cá Sấu gặp Merit và nói với nàng:

- Tôi đã đòi được món nợ của mình, tôi đã trả thù bằng cách khủng khiếp hơn bất kỳ ai có thể nghĩ ra. Nhưng sự trả thù đó không mang lại cho tôi niềm vui và trái tim tôi còn trống trải hơn trước, chân tay tôi lạnh buốt cho dù đêm nóng nực.

Tôi uống rượu, rượu như cát bụi trong miệng tôi, và tôi nói với nàng:

- Tôi thề nếu một lúc nào đó tôi lại ôm ấp đàn bà, cơ thể tôi hãy khô quắt đi, vì càng nghĩ đến một người đàn bà nào đó, tôi càng sợ, vì thân thể cô ta là một sa mạc khô khốc và trái tim cô ta là một cái bẫy giết người.

Nàng chạm tay vào tay tôi, cặp mắt nâu nhìn thẳng vào mắt tôi và nói:

- Sinuhe, anh chưa bao giờ biết người phụ nữ nào chỉ muốn điều tốt cho anh.

Nghe thế, tôi nói:

- Xin tất cả thần linh Ai Cập bảo vệ tôi khỏi người phụ nữ muốn điều tốt cho tôi, vì Pharaon cũng chỉ muốn điều tốt cho mọi người, vậy mà dòng sông đầy xác chết vì lòng tốt của ngài.

Tôi nhấp ngụm rượu, rồi vừa khóc vừa nói:

- Merit, má em mịn màng như thủy tinh, tay em ấm nồng như lửa. Hãy cho môi anh đêm nay áp vào má em và hãy giữ đôi tay lạnh giá của anh trong bàn tay ấm áp của em để anh ngủ không mộng mị, anh sẽ đem đến cho em bất cứ điều gì em muốn.

Nàng cười buồn và nói:

- Em ngờ rằng đuôi cá sấu nói bằng lưỡi của anh, nhưng em đã quen và không coi điều đó là xấu. Anh biết đấy, Sinuhe, em không đòi hỏi ở anh bất cứ điều gì và trong đời mình, em chưa hề đòi hỏi bất cứ người đàn ông nào điều gì cũng như em chưa nhận của bất cứ ai món quà gì có giá trị, nhưng nếu em muốn cho đi một cái gì đó, em sẽ cho đi bằng trái tim mình và em sẽ rất vui được trao cho anh thứ anh muốn, vì em cũng cô đơn như anh.

Nàng đỡ lấy cốc rượu từ bàn tay run rẩy của tôi, trải thảm của mình cho tôi nằm rồi nằm xuống cạnh tôi và sưởi ấm đôi bàn tay lạnh giá của tôi trong tay nàng. Tôi áp môi mình vào đôi má mịn màng của nàng, hít ngửi mùi hương tuyết tùng trên làn da nàng và âu yếm vui vẻ cùng nàng. Nàng đối với tôi như bố tôi, mẹ tôi, với tôi nàng như nồi than cho người đang rét trong đêm đông giá buốt và như ngọn đèn biển dẫn thủy thủ về nhà trong đêm dông tố. Khi tôi chìm vào giấc ngủ, nàng cũng giống như Minea với tôi, Minea, người mà tôi đã vĩnh viễn mất đi, và tôi đã ngủ yên bên cạnh nàng như ở cạnh Minea dưới đáy biển, không còn thấy những giấc mơ ghê sợ nữa mà ngủ say sưa khi nàng thì thầm vào tai tôi những lời người mẹ thì thầm lúc con thơ sợ bóng tối. Từ đêm đó trở đi nàng là bạn tôi, vì trong vòng tay nàng tôi lại tin rằng có điều gì đó lớn hơn tôi và ngoài hiểu biết của tôi mà vì điều đó ta sống.

Sáng hôm sau, tôi nói với nàng:

- Merit, anh đã đập vỡ vò với một phụ nữ nhưng cô ấy đã chết, song anh vẫn còn giữ sợi dây bạc từng buộc mái tóc dài của cô ấy. Tuy nhiên, vì tình bạn của chúng ta, anh sẵn sàng đập vỡ vò với em, nếu em muốn, Merit ạ.

Nhưng nàng ngáp và đưa mu bàn tay lên che miệng rồi nói:

- Anh không bao giờ được uống đuôi cá sấu nữa, Sinuhe ạ, vì anh lại nói những điều ngớ ngẩn như thế vào ngày hôm sau. Anh nên nhớ là em lớn lên trong một quán rượu nên không còn là một cô bé ngây thơ có thể tin vào lời nói của anh để rồi lại thất vọng.

- Merit ạ, khi nhìn vào mắt em, anh tin trên thế gian này cũng có những phụ nữ tốt, - tôi nói với nàng và đưa tay áp vào đôi má mịn màng của nàng. - Vì thế, anh chỉ nói điều đó với em để em hiểu em cần thiết với anh đến nhường nào.

Nàng mỉm cười và nói:

- Anh thấy đó, em cấm anh không được uống thêm đuôi cá sấu, vì để thể hiện lòng yêu quý với một người đàn ông, trước tiên người phụ nữ cấm anh ta một điều gì đó để chứng tỏ quyền lực của mình. Chúng ta hãy khoan nói về vò, Sinuhe ạ. Anh biết rõ là tấm thảm bên cạnh em thuộc về anh bất cứ khi nào anh cảm thấy cô đơn và buồn chán. Nhưng đừng bực tức, Sinuhe, nếu đôi khi anh thấy trên thế gian này cũng có những người đàn ông khác cô đơn và buồn bã như anh, vì là con người, em cũng tự do lựa chọn bạn cho mình như anh, và em không muốn dùng bất cứ cách gì ràng buộc anh. Vì vậy, em bỏ qua tất cả và mời anh thêm một đuôi cá sấu do chính tay em pha.

Đúng là tâm trạng con người thật kỳ lạ và rất ít người hiểu được trái tim mình, vào ngay lúc ấy tâm hồn tôi trở lại sảng khoái và nhẹ nhàng như chim, không nhớ gì đến điều ác độc vừa xảy ra. Tôi thấy hài lòng và hôm ấy không uống thêm đuôi cá sấu nào nữa. Điều này thật tốt, vì cũng ngày hôm đó, tôi gặp lại Pharaon Ekhnaton.

4

Hôm đó Horemheb trả lại cho Pharaon roi với trượng của ngài và tâu rằng anh đã lật đổ Amon và lập lại trật tự cho thành phố. Pharaon khoác lại cho anh ấy tấm vải choàng thống lĩnh quân đội hoàng gia và đặt vào tay anh chiếc roi vàng tổng chỉ huy vẫn còn sặc mùi mèo của Pepitaton. Pharaon định hôm sau sẽ ngự giá trong đoàn diễu hành dọc Đại lộ Nhân Sư đến đền thờ Aton để mừng chiến thắng của thần, nhưng ngài muốn tổ chức dạ tiệc cho triều thần trong hoàng cung vào tối hôm trước. Horemheb kể cho Pharaon nghe về tôi, nhờ thế tôi cũng được mời đến cung điện của ngài. Vì Horemheb đã phóng đại rất nhiều khi kể về tài năng và công việc của tôi ở Thebes với tư cách là thầy thuốc của người nghèo và về tất cả những gì tôi đã làm khi băng bó vết thương cho những người bất hạnh và lau khô nước mắt cho những đứa trẻ mồ côi.

Thế là tôi vận trang phục lanh hoàng gia và theo Horemheb đến cung điện của Pharaon. Nhưng khi ở trên thuyền, Horemheb vừa vung roi vàng vừa nói:

- Tôi chợt nhớ nên nhắc cậu luôn, Sinuhe, từ giờ về sau chớ có lôi kéo lính của tôi vào những chuyện đàn bà của mình, vì giới quyền quý đang bàn tán ầm lên rằng đêm hôm qua cậu đã cướp ai đó từ chính nhà cô ta. Cô ta có nhiều người tình giàu có, họ kêu khóc và mè nheo như mèo bị thương. Phui, tởm quá, sao cái roi này của ta hôi thế! Phải, họ đi tìm người tình của mình nhưng lính của tôi không nói ra, thôi cậu cứ giấu cô ta và vui vẻ với cô ta tới chừng nào cậu muốn, mặc dù tôi không tin cậu có thể làm những điều dữ dằn như vậy với một người đàn bà. Nhưng cá lớn đẻ trứng ở vùng nước sâu và lính của tôi có lẽ đã đúng khi một lần trong trận chiến đã gọi cậu là Con Trai Lừa Hoang vì lòng dũng cảm của cậu.

Ở cung điện, lần đầu tiên tôi nhìn thấy những bộ váy hè kiểu mới của phụ nữ cung đình mà lâu nay được bàn tán râm ran trong thành phố, và tôi công nhận rằng tuy lạ mắt nhưng chúng rất đẹp và mát mẻ, dù không cho cánh đàn ông bất cứ cớ gì để tò mò. Tôi cũng thấy những người phụ nữ tô màu xanh lông công xung quanh mắt, má và môi màu đỏ gạch khiến họ trông giống như tranh vẽ; điều này có lẽ cũng tốt, bởi họ di chuyển chậm chạp và khó giấu được những cái ngáp vì đã thức suốt đêm ăn mừng trên đường phố Thebes, đầu gối nhiều người khuỵu xuống khi bước đi khiến họ phải dựa vào tường và tìm chỗ vịn nơi cây gậy dài của các đấng mày râu.

Horemheb dẫn tôi đến thỉnh an Pharaon trong cung điện của ngài, nhờ vậy tôi đã gặp lại Pharaon. Ngài đã thành người đàn ông chững chạc trong thời gian tôi đi vắng, khuôn mặt ngài nhợt nhạt và đầy vẻ căng thẳng, hai mắt sưng húp vì thức nhiều. Ngài không đeo đồ trang sức gì trên người, chỉ mặc long bào màu trắng được may bằng vải lanh hoàng gia tốt nhất, hoàn toàn không che giấu thân hình mảnh khảnh với vẻ nữ tính méo mó của ngài.

- Sinuhe, danh y, Người Cô Đơn, ta nhớ ngươi, - ngài nói và ngay lúc đó tôi biết ngài là người mà ta hoặc phải ghét hoặc phải yêu, bởi vì ai có trái tim đập trong lồng ngực đều không thể dửng dưng trước ngài.

- Chứng đau đầu đã khiến ta mất ngủ nhiều đêm, - ngài nói và đưa tay lên sờ trán. - Ta thường bị đau đầu khủng khiếp khi có điều gì trái ý và các ngự y của ta cũng không thể giúp. Họ chỉ có thể làm tê liệt những cơn đau của ta, nhưng ta không muốn mê man đi bởi suy nghĩ của ta phải trong như nước vì thần của ta, và ta cũng không hài lòng với các danh y của thần đã bị phế bỏ. Horemheb, con trai của chim ưng, đã kể với ta về tài năng của ngươi, Sinuhe ạ. Có lẽ ngươi có thể giúp ta. Ngươi biết Aton không?

Đây là một câu hỏi khó đối với tôi và tôi đã cân nhắc lời nói của mình một cách kỹ lưỡng trước khi trả lời Pharaon:

- Bẩm quốc vương, hạ thần biết Aton, nếu ngài là một gì đó trong hạ thần và một gì đó ngoài tầm hiểu biết của hạ thần, một gì đó nằm ngoài và trên mọi kiến thức của con người. Còn theo cách khác thì hạ thần không biết.

Pharaon hồ hởi, nét mặt trở nên rạng rỡ và ngài hăng hái nói:

- Ngươi nói về Aton hay hơn những cận thần tốt nhất của ta, vì con người chỉ có thể biết Aton bằng trái tim mình, chứ không phải bằng lý trí. Chỉ ta mới biết ngài bằng trí tuệ của mình, bởi vì ta là con trai của ngài và trong ánh sáng rạng rỡ từ những ảo giác của ta, ta đã đối diện với ngài, mặc dù sự hiện diện của ngài là vô hình. Không có thần linh nào khác ngoài Aton và các thần do bàn tay con người nhào nặn lên chỉ là ảo ảnh trước ngài. Tất cả thần linh chỉ là cái bóng trước Aton, chính vì vậy ta đã lật đổ thần bị nguyền rủa, bởi cái bóng của thần này đã ngăn cản ánh sáng chiếu vào trái tim dân chúng. Sinuhe, nếu ngươi muốn, ta sẽ cho ngươi thánh giá sự sống.

Tôi nói với ngài:

- Tâu quốc vương, đêm hôm qua thần nhìn thấy những người đàn ông dùng đá đập vỡ đầu một người bị thương vì thánh giá sự sống của ngài và đám đàn bà nhảy múa xung quanh ông ta, hét gọi tên Aton. Thần cũng nhìn thấy những người đàn bà vừa hoan lạc với những người da đen vừa ca tụng Aton.

Mặt Pharaon tối sầm lại, ngài cau mày và hai gò má xương xẩu đỏ lựng càng nhô cao lên trên khuôn mặt gầy gò. Ngài rên rỉ đưa tay sờ đầu, màn xám che lấp đôi mắt, và ngài nói to:

- Ngươi cũng thế, Sinuhe, ngươi chỉ khiến đầu ta đau thêm khi nói về những điều không thuận ý ta.

Tôi thưa với ngài:

- Muôn tâu Pharaon Ekhnaton, ngài đã tuyên bố ngài sống theo sự thật. Vì thế thần tâu với ngài sự thật, dù thần thấu hiểu vì bệnh tật của ngài, quần thần và những người tôn thờ Aton đã gói sự thật vào vải mềm và cất nó trong bọc da để ngài khỏi nhìn thấy. Bởi sự thật là con dao trần trong tay con người và có thể phản lại người cầm nó. Sự thật sẽ chống lại chính ngài và khiến ngài đau đớn, bẩm Pharaon Ekhnaton. Thần sẽ dễ dàng chữa lành cho ngài nếu ngài sẵn sàng bịt tai trước sự thật.

Pharaon bước lại gần tôi rồi đưa tay nắm chặt cánh tay tôi, nói một cách dứt khoát:

- Không, không, Sinuhe. Ekhnaton chỉ sống vì sự thật, đó là mục đích của cuộc đời ngài. Nhưng phụ nữ Ai Cập ăn nằm với người da đen nhân danh Aton không phải là tội lỗi, bởi vì tất cả dân tộc và màu da đều bình đẳng trước Aton.

Horemheb nhổ nước bọt và đưa chân di nước bọt trên sàn, sau đó anh ấy ngửi chiếc roi vàng của mình với vẻ gièm pha. Pharaon bực tức nhìn anh ấy và tôi chợt hiểu Pharaon không có khả năng vui và cười. Ngài là một người chân chính nhưng không có khả năng cười, vì thế ngài là một người bất hạnh và mang đến bất hạnh cho cả những người xung quanh. Tôi nói với ngài:

- Sự thật không làm con người ta hạnh phúc, tâu quốc vương. Hạ thần mới khoan sọ một bà già tin rằng mình là nữ hoàng Hatshepsut nhưng khi được chữa lành, bà ấy chỉ là một mệnh phụ già nghèo khó và không còn hạnh phúc như khi tin mình là nữ hoàng Hatshepsut.

Pharaon Ekhnaton hỏi:

- Ngươi có thể chữa lành cho ta bằng cách khoan sọ ta không?

Tôi ngẫm nghĩ một hồi lâu, cuối cùng tôi đáp:

- Muôn tâu Pharaon Ekhnaton, ngài biết là thần biết căn bệnh thần thánh của ngài và thần cũng đã thấy ngài trong căn bệnh đó khi ngài còn trẻ. Đôi khi những cơn đau này không tái phát nếu người bệnh được khoan sọ, nhưng đôi khi tái phát. Thần trộm nghĩ điều này phụ thuộc vào việc có phải bệnh do chấn thương bên ngoài gây ra hay do bẩm sinh, vì bệnh bẩm sinh không thể chữa lành được bằng khoan sọ. Tuy nhiên, cơn đau đầu tái diễn của ngài chứng tỏ ngài bị chấn thương ở đầu và thần cũng thấy má và tay ngài giật giật khi ngài nói. Vì vậy, thần nghĩ việc khoan sọ sẽ giúp ngài bớt đau nếu danh y nào đó dám làm. Tuy nhiên, ngài phải nhớ rằng nếu một danh y khoan hộp sọ của ngài và ngài khỏi bệnh nhờ kỹ năng của anh ta, ngài có thể mất đi khả năng nhìn thấy ảo ảnh vốn có của mình, điều mà ngài tin là sự thật. Là một danh y, thần dám thưa rằng thần Aton của ngài sinh ra từ một cái đầu ốm yếu, nhưng điều này không hề làm giảm tầm quan trọng của tư tưởng của ngài vì hạ thần chỉ nghĩ như một người bình thường.

Pharaon nhìn tôi với vẻ ngờ vực và hỏi:

- Ngươi thật sự tin sẽ lấy Aton ra khỏi trái tim ta nếu ngươi khoan sọ của ta ư?

- Tâu quốc vương, thần đâu muốn khoan sọ của ngài, - tôi vội vàng nói. - Thần không làm điều đó, cho dù ngài ra lệnh, bởi vì các triệu chứng của ngài không đòi hỏi liệu pháp đó và việc khoan sọ chỉ được thực hiện bởi một danh y cẩn trọng khi thật sự cần thiết và không có cách nào khác có thể cứu được bệnh nhân.

Horemheb xen vào câu chuyện và nói:

- Đúng như roi của thần vẫn còn mùi mèo, Sinuhe là một danh y lành nghề đã tích lũy kiến thức cho mình từ nhiều quốc gia và là học trò của Ptahor già, như ngài còn nhớ, bẩm Pharaon Ekhnaton. Ngài có thể an tâm đặt hộp sọ thần thánh của mình vào tay anh ấy và có lẽ ca mổ kịp thời này có thể giải cứu Syria và Kush cho Ai Cập, ngăn chặn mầm chết chóc đang đâm chồi từ những hành động điên rồ của ngài. Thần không nói điều này với tư cách một thầy thuốc, vì thần không hiểu gì về y học, cũng không nói như một chiến binh, mà chỉ với tư cách là một người Ai Cập yêu bùn đen và muốn nhìn thấy những đứa trẻ béo tốt, những người vợ vui cười hơn là nhìn đói khát, bệnh tật và chết chóc.

Nhưng Pharaon không tức giận mà chỉ nhìn anh ấy và cả tôi với vẻ thương hại, vì ngài biết sự thật của mình mạnh hơn cả hai chúng tôi. Nét mặt sáng bừng lên, ngài nói:

- Ptahor già đã chết và Nhà Sống vẫn chưa tiến cử ai kế vị ông ta. Vì thế ta bổ dụng ngươi, Sinuhe, làm danh y khoan sọ hoàng gia, và kể từ Ngày Sao Thiên Lang trở đi, ngươi được nhận tất cả các lợi quyền và bổng lộc của chức vị này và Nhà Sống sẽ cho ngươi biết chi tiết về phận sự và công việc. Nhưng các danh y của Nhà Sống không còn muốn thực hiện bất kỳ cuộc phẫu thuật nào nữa vì lửa thiêng của thần đã tắt và họ đã quen với việc tẩy trùng dao và kìm trong lửa của thần này. Hãy nói cho ta biết, không phải lửa thiêng của Aton cũng thích hợp hệt như thế và còn hợp hơn để rửa sạch dao của họ ư?

- Tâu quốc vương, lửa là lửa, - tôi nói, - trong những lần du hành tới nhiều xứ sở, thần đã mượn lửa từ bàn thờ của cả thần Baal lẫn thần Marduk và không bệnh nhân nào đến than phiền vết mổ của họ bị sưng, nhiễm vì lửa. Nhưng bây giờ là tháng oi bức tồi tệ nhất và các danh y trung thành với Amon bị nguyền rủa đó có thể lợi dụng điều này và dọa dẫm dân chúng. Nếu ngài muốn, thần sẽ đến Nhà Sống và thuyết giảng cho các môn sinh về vấn đề này, vì thần không có gì để mất; thần chỉ là thầy thuốc của người nghèo và nếu họ gạt bỏ tên thần ra khỏi sách của Nhà Sống, kiến thức của thần không vì thế mà giảm đi.

- Hãy làm đi, - Pharaon hài lòng nói và đặt những ngón tay thon dài lên vai tôi, những ngón tay mang đến cho tôi một nguồn năng lượng như khi một ngọn lửa chạm vào vai và tôi biết rằng tôi sẽ phải yêu ngài cho đến ngày ngài lâm chung, mặc dù ngài điên khùng đến thế.

- Hãy làm đi, - ngài nhắc lại. - Khanh sẽ được nhận rất nhiều quà, Sinuhe, và khanh sẽ ngồi bên phải ta.

Nhưng tôi không muốn quà cáp từ ngài, mà chỉ muốn mang niềm vui đến cho ngài và bây giờ tôi hiểu tại sao những người yêu thương ngài đã cố gắng hết sức để giấu ngài sự thật, mặc dù bản thân ngài chỉ muốn sống vì sự thật.

Sau đó, Horemheb đưa tôi đến sảnh dạ tiệc, nơi khách khứa đã tập trung đông đủ và là nơi các cận thần đố kỵ, tranh nhau những vị trí tốt nhất gần bàn của pharaon. Theo Horemheb, tôi phải ngồi gần hoàng gia, bên phải Pharaon, và tôi ngạc nhiên thấy hoàng gia có cả giáo sĩ Eje, nhưng rồi tôi liền nhớ ra Nefertiti, con gái của ông ấy, là hoàng hậu chính phi sau công chúa nhỏ Mitanni, người đã qua đời ngay sau khi đến Ai Cập.

Tôi quên ăn uống, nhìn về phía bàn pharaon nơi Ekhnaton tỏa phát chân lý siêu phàm của ngài và băn khoăn không biết các triều thần ngồi cạnh ngài đã che giấu bao nhiêu bí mật đáng sợ sau vầng trán bóng mịn của họ. Hoàng thái hậu Teje đã già nua và béo đẫy; càng già đi, nét da đen trên khuôn mặt bà càng hiện rõ, vì vậy tôi tự hỏi liệu sự thật của Pharaon về sự bình đẳng giữa tất cả các dân tộc và màu da có đến từ trái tim của mẹ ngài không. Công chúa Baketamon, đã đổi tên thành Baketaton theo Pharaon, có khuôn mặt thật kiều diễm, được tô vẽ như tượng. Ngồi bên cạnh Pharaon là Hoàng hậu Nefertiti và khi nhìn thấy người, tôi không còn ngạc nhiên vì sao Pharaon lại chọn người chứ không phải em gái mình làm hoàng hậu chính phi. Hoàng hậu đã sinh cho Quốc vương hai công chúa, nhưng thân hình người không lộ ra dấu vết gì của việc sinh nở, trái lại người có tư thế kiêu hãnh của một phụ nữ trưởng thành và không ngại để lộ bụng eo cho người khác thấy như các phi tần khác. Khuôn mặt Hoàng hậu đã được các nhà thơ ca tụng quá nhiều với đủ lời ví von, vì vậy tôi chỉ nói rằng Hoàng hậu không đeo một đồ trang sức nào và như thế, người cao sang, xinh đẹp hơn bất kỳ người phụ nữ nào mà tôi từng thấy; trên chiếc cổ thon dài là khuôn mặt thanh tú và xinh đẹp, vương miện cao không đè nén đầu mà chỉ tôn cao vị thế của người. Nhưng đôi mắt người sắc lạnh và nụ cười yếu ớt trên đôi môi mỏng xinh đẹp đầy vẻ cân nhắc, suy tư. Đôi mắt Hoàng hậu cũng sắc lạnh như mắt Nefernefernefer và qua đôi mắt ấy không thể thấu hiểu được bí ẩn của trái tim.

Trong dạ tiệc, Pharaon Ekhnaton chỉ ăn cháo đại mạch nấu với sữa từ một chiếc đĩa vàng và cán chiếc thìa vàng của ngài tạc đầu linh dương thon mảnh. Ăn cháo xong, ngài bẻ bánh mì khô ăn và không uống rượu mà uống nước tinh khiết từ cốc vàng của mình. Ăn xong, ngài nói to, vẻ mặt rạng rỡ, say mê:

- Hãy kể với muôn dân rằng Pharaon Ekhnaton sống vì sự thật và thức ăn của ngài là bánh mì, cháo loãng của người nghèo, bữa ăn của ngài không khác gì bữa ăn của một người nghèo khổ nhất.

Rồi ngài hết lời ca ngợi bánh làm từ hạt đại mạch tán nhỏ mà Aton đã ban và nước tinh khiết mà Aton đã tặng. Những người muốn làm đẹp lòng ngài đã từ chối khi được mời món thịt chim bồ câu săn từ bãi sậy, ngỗng rán theo kiểu Thebes và bánh mật ong. Họ cố gắng hài lòng với bánh mì và nước như Pharaon, mặc dù sẽ rất đói vì yến tiệc kéo dài với mười hai loại thịt ngon, tám loại bánh ngọt đặc biệt cùng nhiều loại kem khác nhau thết đãi khách. Từ khuôn mặt và bàn tay, bàn chân bị cháy nắng của họ có thể nhận ra họ là những người trong đám nghèo khó nhất được Pharaon sai đưa về cạnh mình và bổ dụng làm cận thần trong các lĩnh vực khác nhau của triều đình. Tôi không nghi ngờ trí tuệ hay kiến thức của họ vì nhiều người trong số họ có đôi mắt sáng và vầng trán rộng, nhưng không nên để sự tôn kính ngăn cản việc ăn, vì những người khác không ngại ngùng ăn tất cả những món được thết đãi và uống rượu, vui vẻ nói cười và đùa cợt.

Sau này tôi được biết và tận mắt chứng kiến Pharaon Ekhnaton không hề chê rượu vang, mà ngài hào hứng uống cho tâm hồn thật vui khi mọi việc xảy ra như ý mình. Ngài cũng không chê thịt ngỗng béo hay thịt linh dương, mà chỉ ác cảm với thịt động vật khi thấy cần phải giữ mình thanh sạch trước khi thấy các ảo ảnh. Thói quen ăn uống của ngài rất kỳ lạ và tôi nghĩ điều này là do việc ăn uống không quan trọng với ngài như với người khác, ngài cũng không để ý nhiều đến việc mình ăn gì uống gì khi cảm xúc dâng trào và những ý tưởng tràn ngập trong trí não khiến ngài không kịp bình tâm đọc hết chúng cho các sử quan ghi lại.

Tôi tin ngài có thể hài lòng với thức ăn, đồ uống đạm bạc. Còn trong buổi tối ấy, khi ngài rời chỗ ngồi tiến lại gần khách khứa với tư cách một chủ nhà vui vẻ và đặt những ngón tay thon dài lên vai khách, nói chuyện với họ và khi đứng cạnh họ, đôi khi ngài nhón lấy cái chân chim hay trái cây hoặc bánh mật từ đĩa của họ lúc đang lơ đãng nói, và chắc không biết mình đang làm gì vì ngài đâu biết diễn. Nhưng những người tạm hài lòng với cháo và bánh mì thì không vui và thèm khát nhìn từng miếng thức ăn trôi xuống qua cuống họng dài và mỏng của ngài. Khi cảm thấy khát vì nói quá nhiều, ngài thể hiện ân sủng đặc biệt với người đối diện bằng cách uống ngụm rượu từ cốc của người đó. Đây đồng thời là dấu hiệu cho biết vị khách đó được phép mang về nhà chiếc cốc mà Pharaon đã chạm vào để lưu giữ như một kỷ vật quý giá cho con cháu xem, và nó thật sự có giá trị vì tất cả các cốc đều rất đẹp và đắt tiền. Theo cách đó, tôi cũng mang về cho mình một chiếc cốc vàng rộng vành nặng vài ba deben vì hai bên cốc gắn đầy hạt nho vàng.

Khách khứa cũng đứng dậy, bắt đầu đi từ bàn này sang bàn khác để gặp gỡ người quen và thay nhau kể những câu chuyện phiếm của triều thần. Một người đàn ông thấp, mặt to bè, mặc bộ đồ vải lanh hoàng gia, đeo vàng quanh cổ và cổ tay đến chỗ tôi. Chỉ từ đôi mắt nâu tinh nghịch của người này tôi mới nhận ra đó là Thotmes và reo lên sung sướng rồi đứng dậy ôm lấy anh ấy. Tôi kể tôi đi tìm anh ấy ở “Vò Rượu Syria”, nhưng anh ấy nói:

- Giao lưu trong các quán rượu bình dân không còn thích hợp với địa vị của tôi. Tôi có nhiều việc để làm nếu kịp uống tất cả rượu mà bạn bè quyền quý và người quý mến tôi tiếp đãi tôi ở nhà họ. Ngài, người được rạng danh, đã phong tôi là nhà điêu khắc đá hoàng gia, như anh có thể đọc được trên vòng của tôi. Tôi đã vẽ cho ngài vầng hào quang của Aton và vô số bàn tay xòe ra từ những tia nắng mặt trời để ban tặng thánh giá sự sống cho bất kỳ ai muốn nhận nó.

- Thotmes, bạn của tôi, - tôi nói, - có phải anh là người tạc Pharaon trên các cột của ngôi đền Aton hùng vĩ không, vì trước đây tôi chưa bao giờ thấy những bức tượng như thế cả?

Anh ấy không trả lời thẳng câu hỏi của tôi mà chỉ nói:

- Có nhiều nhà điêu khắc phụng mệnh Pharaon và chúng tôi làm việc cùng nhau, nguyên tắc duy nhất của chúng tôi là đôi mắt của mình. Chúng tôi không bao giờ báng bổ Pharaon mà yêu kính ngài và muốn thể hiện trung thực bản ngã của ngài trong các tác phẩm điêu khắc. Thật tình, bạn Sinuhe của tôi, hôm nay chúng ta ngồi trên ghế trong hoàng cung và uống rượu từ những chiếc cốc quý giá mà vào thời thần giả, chúng ta phải chịu sự ngược đãi, chế nhạo và làm dịu cơn khát của mình bằng bia chua. Chúng tôi đã mục kích nghệ thuật tự do Crete và tìm thấy tự do của chính mình; anh sẽ còn phải ngạc nhiên với những gì mình thấy vì đá đã sống lại trong bàn tay chúng tôi, mặc dù chúng tôi vẫn còn nhiều điều cần học hỏi.

Tôi nói với anh ấy:

- Có một thánh giá sự sống trên trang phục của anh. Anh ấy cười thật tươi và nói:

- Vậy thì sao? Điều đó có nghĩa là thoát khỏi quyền lực của thần giả và sống trong ánh sáng và sự thật.

- Điều đó còn có nghĩa gì khác với anh, người đã phải vẽ cho con cái nhà giàu đàn mèo run rẩy giữa vòng vây của bầy chuột để nuôi sống mình? - Tôi hỏi lại.

Anh ấy bật cười khi nhớ lại những ngày tháng nghèo khó rồi nâng chiếc cốc của tôi trong tay, nhìn nó đầy thán phục và nói:

- Tôi cẩn trọng khi nói những điều thuộc về thần linh, vì cuộc sống tươi đẹp này với tất cả màu sắc và hình dạng diệu kỳ của nó là đủ với tôi; cuộc đời như vò rượu không bao giờ cạn trong tay tôi và cuộc sống trước mắt tôi là bức tranh không bao giờ có thể nhìn thấu tận cùng. Không, Sinuhe, tôi không muốn nói với anh về những điều thuộc về thần linh, bởi vì chúng thay đổi và thay đổi mỗi ngày theo những ảo giác của ngài, điều hôm qua đúng hôm nay có thể sẽ sai, vì ngài lần lượt xé những tấm màn phía trước sự thật mà có vẻ như chúng vẫn còn quá nhiều và tôi không lấy điều đó làm ngạc nhiên. Anh cũng thật ngớ ngẩn khi nói về Aton bên bàn tiệc, Sinuhe ạ, vì cả khi tỉnh táo chúng ta cũng có đủ việc phải làm theo nguồn cảm hứng của ngài. Không, Sinuhe, hãy để rượu làm tâm hồn ta sảng khoái, vì Aton là vị thần mang đến niềm vui, ban phát những chiếc cốc vàng và những chiếc ghế cao cho những ai ngài sủng ái. Chúng ta hãy để những điều thần thánh cho Pharaon vì ngài thấu hiểu chúng nhất, mặc dù chúng thường khiến ngài đau đầu hơn rượu pha đối với tôi.

Tôi rất vui khi gặp Thotmes và Horemheb cũng mừng rỡ khi nhìn thấy Thotmes, mặc dù việc bộc lộ niềm vui không thích hợp lắm với địa vị của anh ấy. Nhưng Thotmes nhìn Horemheb rất kỹ và nói sẽ tạc tượng anh ấy trong đền thờ Aton vì Horemheb đã giải thoát Thebes khỏi quyền năng của thần giả và vì nét mặt, dáng điệu của anh ấy rất thích hợp để tạc tượng, nếu Pharaon ban vàng và một tảng đá phù hợp cho tác phẩm này. Horemheb khá hãnh diện về điều đó vì anh chưa bao giờ được tạc tượng, nhưng lại nói:

- Chắc anh nghĩ rằng anh ban cho tôi đặc ân khi định tạc tượng tôi để tôi sống mãi muôn đời, nhưng tôi tin dù thế nào đi nữa, tên tuổi tôi cũng sẽ trường tồn nhờ những việc làm của chính tôi. Tôi cũng không muốn đứng há hốc miệng như một kẻ ngốc với những đồ cúng tế vô hồn trên bàn thờ của Aton, vì là một chiến binh, tôi không hiểu được những lời vô nghĩa trong tất cả mọi việc. Thay vào đó, tôi muốn tượng của tôi được dựng lên trong đền thờ Horus ở thành phố quê hương Hetnetsut của tôi, vì Aton vẫn chưa tranh giành với Horus và tôi muốn dân ở đó im miệng, bởi họ đã cười nhạo tôi và ngọn giáo của tôi khi tôi còn là một thằng nhóc.

Dứt lời, anh ấy chợt đứng dậy và cúi thấp người, hai tay duỗi thẳng ngang đầu gối, cả Thotmes và tôi cũng cúi đầu thật thấp, vì Hoàng hậu Nefertiti đến và nói chuyện với chúng tôi, bàn tay xinh đẹp đặt hờ trên ngực. Ngón tay người không đeo chiếc nhẫn nào và trên cổ tay cũng không có chiếc vòng vàng nào để ai cũng có thể chiêm ngưỡng bàn tay người đẹp như thế nào và cổ tay thon thả ra sao. Hoàng hậu lên tiếng nói với tôi:

- Hạt đại mạch đã bắt đầu nảy nở xanh tươi từ nguồn nước cơ thể ta và ta đang sốt ruột chờ đợi, vì Pharaon muốn có con trai thừa kế ngai vàng. Quyền lực của ngài chưa chắc chắn chừng nào dòng máu của ngài chưa vững vàng đứng bên cạnh ngài, vì trong bóng tối, thần giả vẫn còn rình mò quyền lực ấy và chúng ta hoàn toàn không cần giấu nhau việc này bởi đó là sự thật mà chúng ta ai cũng đều biết rõ. Sinuhe, ta nghe kể ngươi đã thụ đắc kiến thức từ nhiều miền đất và là một danh y, ngươi đã làm những điều kỳ diệu. Hãy nói cho ta biết, ta sinh con trai được không?

Tôi nhìn Hoàng hậu bằng con mắt của thầy thuốc, cố gắng quên đi vẻ đẹp của người, vì từ ý muốn của người, vẻ đẹp của người ào đến bên tôi như thể có gì đó từ người đang giục giã tôi và điều này xảy ra với tất cả những ai mà người nhìn đến và cả những ai đến gần người.

- Thưa Hoàng hậu vĩ đại, - tôi nói - vì bản thân mình, xin Hoàng hậu đừng mong có con trai, vì hông của người hẹp và việc sinh con trai sẽ làm Hoàng hậu đau đớn hơn sinh con gái, đồng thời có thể nguy hiểm đến tính mạng.

Nhưng Hoàng hậu nhìn tôi, ánh mắt sáng rực và sắc lạnh, rồi người nói với vẻ nôn nóng:

- Nhà ngươi không cần nói với ta điều mà chính ta cũng biết, vì các danh y sản khoa lành nghề nhất trong Nhà Sống đã kéo đầu hai đứa con gái ta cho dài và hẹp trước khi chúng lọt lòng để chúng sống được. Họ đã không dám làm điều này nếu Hoàng thái hậu vĩ đại không cho phép đưa từ xứ Kush đến các phù thủy sống trong các nhà rơm và biết cách làm điều này. Vì vậy, đừng quan tâm đến mạng sống của ta hay kích cỡ đầu con trai ta, mà hãy nói cho ta biết ta phải làm gì để sinh được con trai.

Nghe thế, tôi hoàn toàn hiểu Pharaon Ekhnaton đã ở trên mọi thành kiến và tôi dám chắc là Hoàng thái hậu vĩ đại có dòng máu da đen, vì nếu không làm sao bà có thể nắm được những bí mật của người da đen. Nhưng là một thầy thuốc và là một người Ai Cập, tôi không có thiện cảm với cách sinh nở này. Song tôi cũng lựa lời đáp:

- Thưa Hoàng hậu, chỉ mình Aton mới có thể định đoạt được giới tính của đứa trẻ trong bụng mẹ, còn con người không có quyền năng làm điều đó. Tuy nhiên, thần đã nghe nói về những tín ngưỡng ở các xứ sở khác và nhìn thấy những bùa chú mà phụ nữ tin là nhờ chúng họ có thể sinh con trai theo ý muốn, nhưng họ nhầm cũng nhiều và điều này có thể hiểu được, vì khả năng là ngang nhau. Tuy nhiên, vì Hoàng hậu đã sinh hai con gái, nên bây giờ nhiều khả năng người sẽ sinh con trai, nhưng thần không thể nói chắc chắn điều gì, vì thần muốn nói thật cho Hoàng hậu chứ không phải như các danh y giả dối muốn lừa Hoàng hậu bằng những trò ảo thuật ngớ ngẩn để kiếm vàng.

Lời tôi nói không làm đẹp lòng Hoàng hậu và người không còn cười khi nhìn tôi với đôi mắt sáng và sắc lạnh, mà chỉ bảo:

- Phu quân Ekhnaton của ta được sinh ra từ mặt trời, như ngươi biết. Ngài được sinh ra sau khi Hoàng thái hậu vĩ đại cầu tự ở Heliopolis và việc chào đời của ngài là một bí mật thần thánh. Điều đó chắc ngươi không phủ nhận?

Có gì đó trong vẻ lạnh lùng, thận trọng của Hoàng hậu làm tôi khó chịu, khiến lòng can đảm của tôi trỗi dậy và có lẽ rượu cũng làm tôi thêm bạo dạn, vì qua Hoàng hậu tôi liếc nhìn giáo sĩ Eje một lúc lâu và đầy ẩn ý rồi nói:

- Vốn là một danh y, không có bí mật thần thánh nào hiện hữu đối với thần và vì lợi ích của vương quốc, thần không muốn Hoàng hậu phải đến Heliopolis, vì người cũng có năng lượng ấy trong nhà mình và Pharaon Ekhnaton muốn sống vì sự thật. Nếu dạ con của người không nảy sinh sự sống từ năm này qua năm khác, thần sẽ không nói gì, vì thừa kế ngai vàng là điều quan trọng, nhưng vì trong Pharaon và Hoàng hậu không có gì trái tự nhiên thì ích gì đâu nếu Hoàng hậu làm trái tim mình buồn phiền, bởi khả năng vẫn luôn ngang bằng nhau.

Hoàng hậu đưa tay lên lóng cổ thon dài của mình và vừa lấy hơi thở sâu vừa nhìn tôi như thể muốn gọi lính đến giết tôi. Nhưng người lạnh lùng và tỉnh táo cân nhắc rồi nói:

- Ta không hiểu ngươi đang nói gì, nhưng chắc ngươi cố gắng tỏ ra sâu sắc để tác động đến ta. Làm thế là vô ích, vì câu trả lời trung thực của ngươi đã đủ cho ta và ta cảm ơn ngươi về điều đó.

Thotmes mạnh dạn tham gia vào cuộc nói chuyện, nhìn thẳng vào mắt Hoàng hậu và nói:

- Thưa Hoàng hậu Nefertiti, người đẹp nhất trong những người đẹp, Hoàng hậu hãy sinh con gái thôi để các công chúa thừa hưởng sắc đẹp của người và giúp thế giới này giàu có hơn. Công chúa Meritaton bé nhỏ đã là một mỹ nhân, các cung nữ bắt chước hình dáng đầu Công chúa trong mái tóc giả của mình và ghen tị với vẻ đẹp của Công chúa. Còn thần đang tạc tượng Hoàng hậu để lưu giữ sắc đẹp của người mãi mãi.

Tôi cũng trấn tĩnh lại, sau khi sự kinh ngạc trước ma lực của Hoàng hậu đã khiến tôi khùng lên, nói những điều ngu xuẩn. Với tư cách thầy thuốc, tôi chỉ dẫn cho Hoàng hậu một số thực phẩm người nên tránh và khuyên người nhai hạt yến mạch chín, vì đây là cách bảo đảm nhất để tăng sức mạnh hạt giống, khiến chúng bắt đầu lưỡng lự và nghiêng về giới tính nam một cách tự nhiên trong dạ con của người nữ. Tôi nói với Hoàng hậu:

- Điều thần bí duy nhất trong chuyện này là việc một người phụ nữ thụ tinh từ hạt giống của một người đàn ông, vì ai cũng coi đó là điều tự nhiên nhưng không ai có thể giải thích được.

Lúc đó Hoàng hậu lại cười với tôi rồi nhấp rượu từ cốc tôi và nói:

- Ta chỉ là một mụ đàn bà và là một người mẹ ngu dốt. Là người mẹ nên ta rất mê tín, như tất cả phụ nữ. Hãy giải thoát ta khỏi sự mê tín của mình để ta có một đứa con khỏe mạnh, dù gái hay trai.

Màu son môi của Hoàng hậu đã để lại một vết đỏ quạch trên miệng cốc của tôi và tôi đã cẩn thận để không xóa mất nó. Vì vậy, trên mép chiếc cốc vàng của tôi vẫn còn vệt đỏ từ môi người. Tối hôm đó, tôi đưa cho Merit xem chiếc cốc với niềm tự hào nhân đôi là Pharaon đã uống rượu từ cốc và trên mép cốc còn dính vệt đỏ từ môi Hoàng hậu Nefertiti. Nhưng Merit rất coi thường chiếc cốc, đưa tay gạt ra không cho tôi vuốt ve má nàng và nói rằng tôi đã say rượu của hoàng cung. Tuy nhiên, sáng hôm sau nàng đã mặc chiếc váy mùa hè có hoa văn mới khi tôi đến đón nàng đi xem lễ rước Pharaon và nàng thật đẹp trong bộ váy áo này, dù nàng sinh ra trong một quán rượu, nên tôi không xấu hổ chút nào khi đứng cạnh nàng bên Đại lộ Nhân Sư ở chỗ dành cho những người được nhận ân sủng của nhà vua.

5

Lòng người ai mà đo được và sự thật của Pharaon cũng đã làm tôi mù quáng đến mức không hề ngờ vực có điều độc ác nào, mặc dù dưới cái nắng chói chang, khói vẫn bay lên từ những đống hoang tàn còn âm ỉ cháy và mùi xác người vẫn bốc lên từ dưới lòng sông. Vì Đại lộ Nhân Sư được treo những dãy cờ đuôi nheo, từng đám đông không đếm xuể tụ tập hai bên đường, nhiều đứa trẻ trèo lên cây ở các vườn hoa để được nhìn thấy Pharaon và Pepitaton đã sai mua vô số giỏ hoa đặt hai bên vệ đường để dân chúng ném hoa xuống đường khi xa giá của Pharaon diễu qua. Tâm trạng tôi thư thái và lâng lâng khi đoán định rằng tự do và ánh sáng đang đến với Ai Cập, tôi đã được mang một chiếc cốc vàng từ cung điện về và tôi được bổ dụng làm danh y khoan sọ hoàng gia. Bên cạnh tôi, người phụ nữ xinh đẹp và chín chắn, là bạn của tôi, đặt tay lên cánh tay tôi. Xung quanh chúng tôi, ở những chỗ đã được đặt trước, chỉ có những người vui vẻ và những khuôn mặt tươi cười nên tôi không thể nhìn thấy mặt của dân chúng. Tất cả yên tĩnh đến lạ thường, yên tĩnh đến mức có thể nghe tiếng quạ từ mái ngôi đền lớn vọng đến hẻm Nhân Sư, vì quạ và chim ăn xác chết đã ở lại Thebes và quá no đủ nên béo ú, không thể bay trở lại núi cao được nữa.

Có lẽ sai lầm khi để những người da đen mặt vẽ sọc đi sau kiệu vàng của Pharaon, bởi chỉ nhìn thấy họ thôi, dân chúng đã nổi cơn thịnh nộ, vì nói cho cùng chỉ ít người trong dân chúng là không bị thiệt hại trong vài ngày qua. Nhiều người đã mất nhà vì hỏa hoạn, những người vợ nước mắt chưa kịp khô, những người chồng vết thương vẫn còn băng và nhức nhối, đôi môi sứt sẹo của họ không thể nở nụ cười. Nhưng Pharaon Ekhnaton đã giá lâm, đung đưa trên chiếc ghế cao trong kiệu phía trên đầu của tất cả những người đứng xem. Đầu ngài đội vương miện của hai vương quốc, vương miện hoa huệ và vương miện giấy cói, vương miện của miền Thượng và miền Hạ, hai cánh tay ngài bắt chéo chữ thập trước ngực, một tay giữ chặt trượng và tay kia cầm roi hoàng đế. Ngài ngồi bất động như tượng thần, như các pharaon bao đời nay đã ngồi cho muôn dân chiêm ngưỡng. Tất cả im lặng đến ghê sợ khi ngài đến, như thể chỉ nhìn thấy ngài thôi, cổ họng thần dân đã nghẹn lặng. Cuối cùng, lính canh nơi hẻm Nhân Sư giương giáo lên và hô vang lời xưng tụng ngài; tiếp theo, những người quyền quý và giàu sang từ nơi dành riêng cho họ cũng bắt đầu hô vang và tung hoa ra đường. Nhưng tiếng hô của họ mong manh và tội nghiệp, như tiếng vo ve của con muỗi đơn độc trong đêm đông giữa sự im lặng đáng sợ của đám đông, khiến họ dần im bặt và kinh ngạc nhìn nhau.

Lúc đó, trái với truyền thống, Pharaon cử động, giơ trượng và roi trên tay lên, hân hoan vẫy chào dân chúng. Đám đông lắc lư và bất ngờ từ miệng dân chúng phát ra tiếng hô đáng sợ giống như âm thanh sóng biển dội vào vách đá trong cơn bão tố. Dân chúng nghiêng ngả, vừa gào vừa ầm ào kêu van: “Amon, Amon, hãy trả lại cho chúng tôi Amon, vua của tất cả thần linh!”. Dân chúng nhấp nhô như sóng và tiếng gào mỗi lúc một ầm vang to hơn, khiến quạ và chim ăn xác chết bay vụt khỏi mái đền và các bức tường thành, vỗ đôi cánh đen vượt qua xa giá. Họ hét to: “Cút đi, Pharaon giả, cút đi”.

Tiếng hò hét của dân chúng khiến những người khênh kiệu sợ hãi, phải dừng kiệu lại, nhưng rồi họ lại cố gắng tiến lên khi bị các cai đội cấm vệ cáu kỉnh đốc thúc. Lúc đó dân chúng tràn ra Đại lộ Nhân Sư như đá lở không thể chặn nổi, xô dạt hàng lính ra khỏi đại lộ và ngã xuống phía trước kiệu như một đống người ngổn ngang, ngăn không cho kiệu tiến về phía trước. Không ai theo dõi được hết những gì đang diễn ra vì binh lính bắt đầu dùng gậy và chùy đánh dân để mở đường, nhưng ngay sau đó họ phải dùng giáo và dao để bảo toàn tính mạng; gậy và đá bay vèo vèo trong không khí, máu chảy ròng xuống đại lộ và tiếng thét trước khi chết của nhiều người nổi lên giữa tiếng la hét om sòm. Nhưng không một viên đá nào bay về phía Pharaon, vì ngài được sinh ra từ mặt trời, như tất cả các pharaon trước ngài. Vì vậy, ngài là hiện thân của thần thánh, bất khả xâm phạm, và dù trong mơ cũng không ai trong đám đông dân chúng dám giơ tay phản kháng, mặc dù họ thật sự căm ghét ngài. Tôi nghĩ ngay cả các giáo sĩ cũng không dám giơ tay chống lại ngài, bởi điều đó chưa từng xảy ra trước đây. Vì không bị ai cản trở, Pharaon nhìn thấy từ ghế cao của ngài tất cả những gì đang xảy ra. Quên mất địa vị của mình, ngài đứng dậy và hét lớn để kiềm chế binh lính, nhưng không ai nghe thấy tiếng ngài trong lúc đám đông kêu gào ầm ĩ.

Dân chúng ném đá vào binh lính và dùng gậy đánh họ, binh lính chống cự và làm chết nhiều người, nhưng dân chúng vẫn tiếp tục la hét không dứt: “Amon, Amon, hãy trả lại Amon cho chúng tôi”. Họ còn gào to hơn: “Cút đi, Pharaon giả, hãy xéo đi, ngươi thật vô tích sự ở Thebes”. Họ cũng ném đá vào cả các quý tộc và vừa đập loạn xạ vừa xông vào những chỗ dành riêng cho giới đó, khiến phụ nữ vứt hoa và các lọ dầu thơm để chạy trốn.

Lúc đó, Horemheb ra lệnh thổi tù và, các chiến xa lao ra khỏi khu vực sân và các con phố nhỏ mà anh ấy đã sai giấu chúng để không làm dân chúng khó chịu. Chiến xa lao ra đám đông, nhiều người vướng vào chân ngựa và bánh xe nhưng Horemheb đã ra lệnh rút các lưỡi hái khỏi hai bên bánh xe để tránh đổ máu; họ đánh xe chậm rãi, trật tự quanh kiệu của Pharaon và dẫn đường cho kiệu ra ngoài, đồng thời bảo vệ đoàn diễu hành cũng như gia đình hoàng gia. Nhưng dân chúng vẫn không chịu giải tán cho đến khi thấy thuyền của hoàng gia chèo về bên kia sông. Lúc đó dân chúng òa reo sung sướng, tiếng reo vui của họ còn đáng sợ hơn tiếng gào phẫn nộ; lũ tội phạm chen lẫn trong dân chúng tấn công dinh thự của giới quý tộc, đập phá và cướp tất cả những gì chúng nhìn thấy cho tới khi quân lính dùng giáo lập lại trật tự và dân chúng tản về nhà. Tối đến, đàn quạ sà xuống rỉa xác trên Đại lộ Nhân Sư.

Thế là lần đầu tiên Pharaon Ekhnaton phải chứng kiến sự phẫn nộ của người dân và nhìn thấy máu đổ vì thần của mình. Ngài không bao giờ quên được cảnh tượng này, và một điều gì đó đổ vỡ trong ngài, nỗi căm hờn đã nhỏ độc dược vào tình yêu của ngài và cơn thịnh nộ của ngài lớn dần đến mức ngài truyền lệnh đày đến hầm mỏ tất cả những ai đã nói to tên của Amon hoặc bí mật ghi tên thần này vào các bảng viết hay đĩa bát. Nhưng dân chúng không muốn khai tên nhau, vì thế kẻ trộm và nô lệ cũng được phép làm nhân chứng khiến không ai còn được an toàn trước những nhân chứng giả; nhiều người trung thực và đáng kính bị bắt làm nô lệ trong các hầm lò và mỏ đá, còn những kẻ nhẫn tâm và xảo trá lại chiếm nơi ở, nhà xưởng và cửa hàng của họ dưới danh nghĩa Aton.

Tôi kể tất cả những điều này trước khi sự việc xảy ra để giải thích tại sao lại xảy ra như thế. Còn ngay đêm hôm đó, người ta vội vã triệu tôi đến hoàng cung, vì căn bệnh thần thánh của Pharaon lại tái phát và các ngự y sợ ngài không qua khỏi nên muốn san sẻ trách nhiệm, vì ngài đã nói với họ về tôi và nhắc đến tên tôi. Ngài nằm bất tỉnh trong nhiều lượng nước chảy ra từ đồng hồ nước, giống như người chết, chân tay lạnh buốt và mạch đập quá yếu không tìm bắt được. Nhưng rồi ngài đã tỉnh lại sau khi cắn lưỡi và môi đến mức máu từ miệng ứa ra trong cơn mê sảng. Tỉnh lại được một chút, ngài đuổi tất cả các ngự y của Nhà Sống ra khỏi phòng vì không còn muốn nhìn thấy họ trước mắt mình và chỉ giữ lại mình tôi.

Khi đã hoàn toàn tỉnh táo, ngài nói:

- Hãy truyền gọi các tay chèo và tất cả những ai là bạn của ta lại và đi theo ta, vì ta sẽ ra đi và ảo giác của ta sẽ dẫn đường cho đến khi ta tìm thấy một vùng đất không thuộc về bất kỳ thần linh hoặc con người nào. Ta sẽ dâng hiến vùng đất ấy cho Aton và sẽ xây dựng thành phố của mình ở đó, thành phố Aton, và ta sẽ không bao giờ trở lại Thebes.

Ngài còn nói thêm:

- Hành xử của người dân Thebes đáng căm hận hơn bất cứ điều gì đã xảy ra từ xưa đến nay, đáng ghê tởm và khốn nạn hơn bất cứ điều gì các tiên đế ta từng chứng kiến, hơn cả các dân tộc ngoại bang. Vì thế, ta sẽ không bao giờ trở về Thebes nữa mà để mặc Thebes chìm vào bóng tối của nó.

Nỗi cuồng điên của ngài lớn đến mức ngài ra lệnh khênh mình lên thuyền khi vẫn còn ốm, khiến không chỉ tôi, với tư cách là ngự y riêng, không ngăn cản được mà cả những cận thần của ngài cũng không thể khuyên can. Nhưng Horemheb bảo:

- Như vậy là tốt nhất, vì bằng cách này dân chúng Thebes sẽ có được điều họ mong muốn, Ekhnaton cũng sẽ đạt được ý muốn của mình, cả hai đều hài lòng và hòa bình sẽ trở lại với vương quốc này.

Tâm trạng ngài rối bời và ánh mắt ngài lang thang, mơ hồ đến mức tôi đã phụng mệnh ngài. Vì là thầy thuốc, tôi nghĩ tốt hơn ngài nên thay đổi chỗ ở và nhìn ngắm cảnh quan mới cũng như gặp gỡ những người mới, những người không căm ghét ngài. Thế là tôi theo hộ giá Pharaon trong chuyến đi tới hạ lưu và ngài nôn nóng rời đi đến mức không chờ đợi ngay cả vương công, hoàng tộc của mình, còn Horemheb sai một đội thuyền chiến hộ tống để đảm bảo không có chuyện gì xấu xảy ra với ngài.

Thuyền của Pharaon lướt về hạ lưu và Thebes lùi dần sau chúng tôi, những tường thành của nó, mái của những ngôi đền, chóp vàng nhọn hoắt của những tháp canh mờ dần sau đường chân trời và ba đỉnh núi, những vệ sĩ vĩnh cửu của Thebes, cũng dần biến mất khỏi tầm nhìn. Nhưng ký ức về Thebes không mất đi mà còn theo chúng tôi nhiều ngày dọc dòng sông xuống hạ lưu, vì sông đầy cá sấu, to béo, quẫy đuôi trong làn nước hôi thối mùi thi thể đang tan rữa, cả một trăm lần một trăm cái xác trương phình trôi dạt dọc theo dòng sông dài và không có đến một bãi sậy hay doi cát gần bờ nào mà không vướng lại tóc hay áo quần của các xác người chết vì thần của Pharaon Ekhnaton. Nhưng bản thân ngài không biết điều đó, vì ngài nằm trên thảm mềm trong khoang dành cho quốc vương trên thuyền, tôi tớ xức dầu thơm cho ngài và đốt hương trầm xung quanh để ngài khỏi ngửi thấy mùi thần của mình.

Sau mươi ngày hành trình, sông đã dần trong sạch, Pharaon ra đứng trên mũi thuyền và nhìn khắp xung quanh. Đất hè quanh ngài vàng rực, nông dân thu hoạch vụ mùa trên cánh đồng, chiều đến gia súc được lùa xuống bờ sông uống nước và những người chăn gia súc thổi những cây sáo hai ống. Khi nhìn thấy thuyền của Pharaon, dân chúng từ các làng chạy ra bờ sông, ăn vận trang phục trắng, vừa vẫy những cành cọ vừa hét to những lời chào mừng ngài. Được nhìn thấy dân chúng mãn nguyện là liều thuốc tốt nhất cho sức khỏe của Pharaon và thỉnh thoảng ngài cho thuyền ghé vào bờ, lên đất liền nói chuyện với người dân, giơ tay ban phước lành cho trẻ em và đàn bà khiến họ không bao giờ quên được. Bầy cừu cũng len lén đến gần Pharaon, ngửi ngửi, cắn mép áo choàng khiến ngài cười vui vẻ. Ngài cũng không sợ vầng dương, đức thần của ngài, dù đây là vị thần chết chóc trong mùa hạ nóng bỏng, mà để lộ mặt dưới mặt trời và mặt trời làm mặt ngài đỏ lựng, khiến cơn sốt và sự cuồng nhiệt của ngài lại bốc lên và từ mắt ngài, thần rực sáng với sức mạnh khủng khiếp khi ngài lại vội vã tiếp tục hành trình.

Trong đêm tối, ngài đứng ở mũi thuyền, nhìn những ngôi sao sáng lóa ánh lửa và nói với tôi:

- Ta sẽ phân phát tất cả đất đai của thần giả cho những ai vui lòng với đất họ có và chịu khó làm việc bằng đôi tay mình để có hạnh phúc và cầu nguyện cho Aton. Ta sẽ chia tất cả đất đai cho họ vì lòng ta hân hoan khi thấy những đứa trẻ mập mạp, những người vợ và người chồng vui cười rạng rỡ, những người lao động nhân danh Aton mà không ghét ai và cũng không sợ ai.

Ngài còn nói thêm:

- Lòng người tăm tối và ta có thể không bao giờ tin điều đó nếu không tận mắt nhìn thấy. Vì ánh sáng của ta chói lóa nên ta không biết bóng tối và khi ánh sáng chiếu rọi tâm hồn mình, ta quên hết tất cả những tâm hồn giả dối. Chắc chắn rất nhiều người không thể hiểu được Aton mặc dù họ nhìn thấy ngài và cảm nhận được tình yêu của ngài, vì suốt đời họ sống trong bóng tối và mắt họ không nhận ra ánh sáng khi nhìn thấy nó, mà coi ánh sáng là ác quỷ và bảo ánh sáng làm đau mắt họ. Vì vậy ta để cho họ được yên, không làm phiền họ nếu họ không quấy rầy ta và người thân của ta, nhưng ta không muốn sống gần họ mà chỉ quy tụ những người thân yêu về quanh mình, sống với họ và ta sẽ không bao giờ rời bỏ họ nữa để khỏi phải chịu đựng những cơn đau đầu dữ dội khi nhìn thấy những điều làm ta phiền lòng, cũng là những cảnh khủng khiếp trước mắt Aton.

Ngài nhìn chằm chằm vào các vì sao trong đêm tối và nói:

- Đêm là một sự khủng khiếp với ta và ta không thích bóng tối mà sợ nó, ta cũng không yêu các vì sao, bởi khi các vì sao lấp lánh, chó hung sa mạc rời chỗ trú, sư tử rời hang động của chúng và gầm lên vì thèm khát máu. Cả Thebes cũng là đêm tối với ta nên ta bỏ Thebes, sự thực là ta từ bỏ tất cả những gì xưa cũ và giả dối, đặt niềm tin vào thanh thiếu niên, vì mùa xuân của thế giới nảy mầm từ trẻ nhỏ và nếu được học về Aton từ thời thơ ấu, trẻ em sẽ được thanh lọc khỏi mọi xấu xa và toàn bộ thế giới sẽ trở nên tốt đẹp. Vì vậy, các trường học phải được cải tổ, phải đuổi giáo viên cũ đi và biên soạn những bảng chữ mới cho trẻ em. Vì chúng ta không cần hình ảnh để hiểu chữ viết, do vậy ta sẽ soạn chữ viết đơn giản hơn trước để người bình thường nhất cũng có thể dễ dàng học được, và sẽ không có sự khác biệt giữa người biết chữ với dân thường mà dân thường cũng học viết, để ở mỗi làng bản kể cả nơi thưa dân nhất cũng có người biết viết và người có thể đọc được những gì ta viết cho họ. Vì ta sẽ viết cho họ thường xuyên và viết rất nhiều về tất cả những điều mà họ cần biết.

Những điều ngài nói làm tôi sợ hãi, vì tôi đã biết chữ viết mới của Pharaon, rất dễ học và dễ đọc, nhưng đó không phải là chữ viết linh thiêng, hình thức không đẹp và ngữ nghĩa cũng không phong phú như chữ viết cổ; tất cả các ký lục vốn coi trọng tài năng của mình coi thường và dè bỉu những ai dùng nó. Vì vậy tôi nói:

- Chữ viết bình dân xấu xí và thô thiển, không phải là chữ viết thần thánh. Ai Cập sẽ ra sao nếu mọi người đều biết viết, vì điều này trước đây chưa từng có, và sau này không ai muốn làm công việc chân tay, đất đai bị bỏ hoang và người dân sẽ chết vì đói trước khi họ vui mừng vì biết viết.

Nhưng lẽ ra tôi không nên nói điều này, vì ngài lại nổi giận và cáu gắt với tôi:

- Sinuhe, vậy là bóng tối vẫn còn ở gần ta, bóng tối hiện hữu bên ta khi ngươi đứng cạnh ta. Ngươi chỉ nghi ngờ và tìm kiếm vật cản đường ta, nhưng sự thật của ta như lửa rực cháy trong ta và mắt ta nhìn thấu mọi chướng ngại như nhìn qua làn nước trong cho đến khi ta thấy thế giới đang đến sau mình. Trên thế giới này không có căm hờn hay sợ hãi mà người dân chia sẻ công việc, đồ ăn thức uống với nhau như anh em và không còn người giàu hay kẻ nghèo, mọi người đều bình đẳng và ai cũng biết viết, biết đọc những gì ta viết cho họ. Cũng không ai xưng hô với người khác là “gã Syria bẩn thỉu”, hay “thằng da đen khốn khổ”, mà tất cả đều là anh em của nhau và sẽ không bao giờ có chiến tranh nữa. Ta nhìn thấy tất cả những điều này, vì vậy sức mạnh và niềm vui trào dâng trong ta đến mức ta sợ trái tim mình sẽ nổ tung.

Lúc đó tôi lại thấy ngài là kẻ điên, tôi dìu ngài về nằm xuống thảm và cho ngài uống thuốc an thần. Nhưng những lời ngài nói thiêu đốt trái tim tôi, làm tôi bối rối, vì trong tôi có điều gì đó đã chín muồi để đón nhận lời ngài. Tôi đã biết nhiều dân tộc, cũng như tôi đã thấy nhiều thành phố và thấy tất cả về cơ bản là giống nhau, và người thầy thuốc chân chính không nên phân biệt người giàu và kẻ nghèo, người Ai Cập và người Syria, mà việc của anh ta là giúp đỡ mọi người. Vì thế tôi tự nhủ với lòng mình: “Chứng điên khùng của ngài thật vĩ đại và không nghi ngờ gì là do bệnh tật gây ra, nhưng sự điên khùng này cũng ngọt ngào và dễ lây lan và tôi ước ao ảo giác của ngài sẽ thành hiện thực, mặc dù lý trí của tôi nói rằng một thế giới như vậy không thể được xây dựng ở bất kỳ nơi nào khác ngoài miền tây. Nhưng trái tim tôi kêu lên rằng sự thật của ngài lớn hơn tất cả mọi sự thật đã được nói ra trước thời của ngài, trái tim tôi bảo rằng sau ngài sẽ không có sự thật nào lớn hơn được nói ra, mặc dù tôi biết máu và sự chết chóc nảy mầm từ những bước đi của ngài và ngài sẽ nhấn chìm Ai Cập vĩ đại nếu ngài sống được đủ lâu”. Tôi nhìn những vì sao trong đêm tối và nghĩ:

- Tôi, Sinuhe, là một người lạ trên thế gian và thậm chí không biết ai đã sinh ra mình. Tôi muốn đến Thebes làm lương y của người nghèo, vàng không có ý nghĩa gì nhiều đối với tôi, dù tôi thích ăn thịt ngỗng béo ngậy hơn bánh khô và thích uống rượu hơn nước. Nhưng những điều này không có gì quan trọng đến mức tôi phải từ bỏ điều mình đã chọn. Vì tôi không có gì khác để mất ngoài mạng sống của mình, sao tôi lại không ủng hộ sự yếu đuối của ngài, đứng bên cạnh ngài và động viên ngài mà không cần băn khoăn, vì ngài là Pharaon, quyền uy nằm trong tay ngài và trên thế gian không vương quốc nào giàu có và vĩ đại hơn Ai Cập, nên có thể Ai Cập sẽ vượt qua thử thách này. Nếu được như vậy, thế giới thật sự sẽ tái sinh, năm thế giới mới sẽ bắt đầu và nhân loại sẽ là anh em của nhau, không còn kẻ nghèo và người giàu. Trước đây chưa ai có được cơ hội thực hiện lẽ phải của mình như ngài, bởi vì ngài sinh ra là pharaon và tôi tin cơ hội như thế này không bao giờ lặp lại, mà đây là thời điểm duy nhất để có thể thực hiện chân lý của ngài.

Tôi vô tư mơ mộng như thế trên con thuyền hoàng gia bập bềnh trên sông, gió đêm mang theo mùi hạt chín và mùi ngũ cốc đập trên sàn phả vào mũi tôi. Nhưng gió đêm cũng làm tôi lạnh và giấc mơ vụt tắt ngấm trong tâm trí, tôi chán nản tự nhủ mình: “Giá có Kaptah ở đây để nghe xem ông ấy nói gì. Bởi là danh y tài giỏi, tôi có thể chữa khỏi nhiều bệnh nhưng bệnh tật và sự khốn cùng của thế gian quá lớn, đến mức tất cả thầy thuốc trên trái đất cũng không kịp chữa khỏi dù họ có thể và có những căn bệnh mà các danh y bất lực. Có lẽ cũng như vậy, Pharaon Ekhnaton, thầy thuốc của tâm hồn, không kịp có mặt ở mọi nơi và các thầy thuốc tâm hồn được ngài khai minh chỉ hiểu một nửa lời ngài và bóp méo ý định của ngài, mỗi người theo tâm tính và ý muốn của riêng họ, mà trong cuộc đời mình, ngài sao có thể kịp khai sáng đủ nhiều lương y tâm hồn để họ kịp chữa lành cho cả nhân loại. Cũng có những tâm hồn đã chai cứng, thâm đen mà ngay cả lẽ phải của ngài cũng không thể nào chữa lành được nữa”. Chắc chắn Kaptah sẽ nói: “Nếu đến một lúc nào đó không còn người giàu hay kẻ nghèo thì vẫn luôn có những người thông thái và những kẻ dại khờ, những người ranh mãnh và những kẻ ngây thơ. Vì cuộc đời trước đây như thế và sau này cũng sẽ luôn như thế. Kẻ mạnh đè đầu cưỡi cổ kẻ yếu, kẻ láu lỉnh móc hầu bao của người ngu ngốc và bắt người khờ khạo làm việc cho mình, vì con người là loài thú gian dối và lòng tốt của con người cũng chỉ nửa vời, nên chỉ những người nằm mãi không bao giờ dậy là hoàn toàn tốt. Ông cũng thấy lòng tốt của ngài đã gây ra điều gì. Chắc chắn chỉ bầy cá sấu dưới sông và đàn quạ trên mái đền là biết ơn điều đó nhiều nhất”.

Pharaon Ekhnaton đã nói với tôi như thế và tôi đã nói với trái tim yếu đuối, bất lực của mình như vậy, cho đến ngày thứ mười lăm, một vùng đất hiện ra phía trước chúng tôi, không phải là đất của người quyền quý hay đất của thần linh nào. Những ngọn núi dần dần lùi xa bờ xanh dương sâm sẫm và nâu vàng, đất chưa được canh tác, chỉ có một vài mục đồng trên bãi cỏ, sống trong những căn lều sậy bên bờ sông. Lúc đó Pharaon rời khỏi thuyền, bước lên bờ, dâng vùng đất này cho Aton để xây dựng ở đây một thủ đô mới và ngài gọi thành phố tương lai này là Akhetaton - Thành phố Thiên Đường.

Thuyền nối thuyền theo nhau kéo đến, ngài triệu thợ cả và kiến trúc sư của mình lại, chỉ cho họ hướng của những con phố chính, nơi sẽ xây hoàng cung và đền Aton. Những người theo ngài đến đây, ngài chỉ cho từng người nơi dựng nhà dọc theo các con phố chính. Thợ xây đuổi đám mục đồng cùng đàn gia súc của họ, dỡ các lều sậy của họ và xây bến thuyền trên bờ sông. Pharaon Ekhnaton cũng chỉ cho thợ xây nơi họ có thể dựng lên các khu phố của mình ở bên ngoài thành phố của ngài. Trước tiên họ được xây nhà đất sét cho mình, năm con phố chạy từ bắc xuống nam và năm con phố từ đông sang tây, các ngôi nhà cao như nhau, mỗi nhà đều có hai phòng giống nhau và bếp đun nấu ở vị trí giống nhau, mỗi một chiếc vò và tấm thảm cũng được để ở chỗ giống nhau, bởi Pharaon mong muốn điều tốt lành, ngài muốn tất cả thợ xây đều bình đẳng để họ có thể sống hạnh phúc trong khu phố của mình bên ngoài thành phố của Pharaon và thờ phụng Aton.

Nhưng họ có thờ phụng Aton không? Không, họ đau khổ nguyền rủa thần và Pharaon, bởi họ không thể hiểu nổi vì sao ngài đã chuyển họ từ thành phố của mình đến một nơi hoang vu, không có phố xá hay quán bia mà chỉ có cỏ khô và cát sỏi. Chẳng người vợ nào hài lòng với lò bếp của mình mà họ muốn đốt lửa nấu nướng ngoài lều, dù việc đó bị cấm; họ không ngớt xê dịch thảm và vò; những người đông con ghen tị với những ai chưa có con vì diện tích nhà ở. Những ai đã quen với nền nhà đất bùn kêu nền đất sét nhiều bụi và không tốt cho sức khỏe, còn những người quen với nền nhà đất sét thì nói đất sét ở Akhetaton không giống ở nơi khác mà chắc chắn đó là thứ đất sét bị nguyền rủa vì nền bị nứt khi họ cọ rửa.

Họ cũng muốn trồng củ cải bên đường phố trước cửa nhà như đã từng quen và không hài lòng với những thửa đất Pharaon cấp cho họ ở bên ngoài thành phố, nói rằng ở đó không có đủ nước và họ không đủ sức khiêng phân bón của mình ra đó. Họ chăng dây sậy ngang các con phố để phơi quần áo sau khi giặt và nhốt dê trong nhà, mặc dù Pharaon đã cấm vì điều đó có hại cho sức khỏe và vì lũ trẻ. Vậy nên tôi chưa bao giờ thấy một thành phố nào mà việc xây dựng gặp nhiều vấn đề và lắm bất hòa như ở khu phố của thợ xây Akhetaton khi họ xây dựng thủ đô mới. Tuy nhiên, phải nhìn nhận rằng sau một thời gian quen dần và cam chịu mọi điều phiền toái, họ không còn kêu ca về Pharaon mà chỉ thở dài nhớ về nhà cũ của mình song không thật sự muốn quay về nơi đó nữa.

Rồi mùa nước nổi đi qua và tiết đông đến, nhưng Pharaon không trở lại Thebes mà cương quyết ở lại trên thuyền của mình và từ đó điều hành công việc. Mỗi tảng đá, mỗi cột nhà được dựng vững chãi đều khiến ngài hết sức mừng vui và ngài thường cười to hả hê khi thấy những ngôi nhà gỗ xinh đẹp, thanh thoát mọc lên bên các con phố, bởi suy nghĩ về Thebes như liều thuốc độc gặm nhấm tâm trí ngài. Ngài đã tiêu hết tất cả số vàng được kế thừa từ Amon vào Akhetaton, còn đất đai của Amon trên khắp các vùng miền, ngài chia cho những người nghèo nhất và những ai muốn có đất để canh tác. Ngài cho chặn tất cả các thuyền chạy lên thượng nguồn sông, mua hàng hóa và sai bốc dỡ tại Akhetaton để quấy phá Thebes. Ngài đẩy nhanh việc xây dựng khiến giá gỗ, đá tăng lên vùn vụt và các lái buôn có thể giàu lên khi thả những bè gỗ đầu tiên vượt qua thác nước đến Akhetaton. Ngoài thợ xây của ngài, nhiều người lao động khác cũng đến Akhetaton, họ sống trong những hầm đất và lều sậy ven suối, làm gạch và nhào nặn đất sét. Họ san đất làm đường, đào kênh dẫn nước và đào hồ thánh Aton trong vườn của Pharaon. Cây lấy gỗ và những bụi cây xanh cũng được thả bè theo sông và sau mùa nước được trồng ở Thành phố Thiên Đường; họ cũng trồng cả cây cho quả để vào mùa hè năm sau Pharaon có thể tự tay hái những quả chà là, sung và lựu chín đầu tiên trong thành phố của mình.

Là thầy thuốc, tôi rất nhiều việc, bởi vì dù Pharaon đã khỏi bệnh và rất hạnh phúc khi thấy thành phố của mình đầy hoa lá và những cây cột thanh thoát, sặc sỡ đang dần dần hiện lên giữa sa mạc, nhưng dịch bệnh hoành hành trong đám thợ xây trước khi đất được cải tạo nhờ các kênh rạch và rất nhiều tai nạn đã xảy ra trên những công trường xây dựng khẩn trương. Những bầy cá sấu luôn rình rập đe dọa những người bốc dỡ hàng, vì họ buộc phải lội trong nước trước khi bến thuyền được xây xong. Tiếng kêu gào của họ nghe thật thảm thiết và chắc hẳn không cảnh tượng nào khủng khiếp hơn cảnh một người đàn ông đang giãy giụa và gào thét ngang hàm của một con cá sấu lớn trước khi nó lặn xuống các hốc nước và đưa anh ta theo về hang để cho thối rữa. Nhưng Pharaon quá say sưa với lẽ phải của ngài đến mức không kịp nhận thấy bất cứ điều gì trong chuyện này, các thủy thủ đã lấy tiền đồng thuê thợ săn cá sấu từ miền Hạ đến nên họ dần dần diệt sạch cá sấu dưới sông. Nhiều người nghĩ cá sấu đã theo thuyền của Pharaon từ Thebes đến Akhetaton, song tôi không thể nói gì về điều này, mặc dù tôi biết cá sấu là một loài khôn ngoan và ác độc đến mức đáng sợ. Nhưng sự khôn ngoan không giúp chúng chống lại được tiền đồng của thủy thủ và những cái bẫy của người miền Hạ, vì vậy chúng thấy tốt nhất là để yên bờ đất Akhetaton và điều này cũng chứng tỏ trí tuệ tuyệt vời của loài cá kỳ dị và đáng sợ này. Thay vào đó, chúng dàn thành từng đàn chờ đợi ở hạ nguồn sông đến tận Memphis, vì thành phố này được Horemheb chọn làm nơi đóng đô của chính quyền.

Sau khi mùa lũ đi qua, Horemheb cũng đến Akhetaton cùng với các cận thần trong triều, mặc dù anh ấy không đến để ở lại đó mà chỉ để khuyên Ekhnaton từ bỏ quyết định giải tán quân đội. Vì Pharaon xuống chiếu buộc anh ấy cho lính da đen và Shardana giải ngũ và trả họ về quê, nhưng Horemheb rềnh ràng chưa thực hiện và viện nhiều cớ khác nhau để kéo dài thời gian, vì anh ấy hoàn toàn có lý do: chờ bạo loạn nổ ra ở Syria để bắt đầu đưa binh lính đến đó. Sau những cuộc hỗn loạn ở Thebes, lính da đen và Shardana bị thù ghét trên khắp Ai Cập đến mức dân chúng nhổ nước bọt trước mặt họ và lấy chân dí xuống đất khi họ đi qua.

Nhưng Pharaon Ekhnaton không thay đổi quyết định của mình và Horemheb đã hoài phí thời gian ở Akhetaton. Những cuộc nói chuyện của họ lặp đi lặp lại ngày này sang ngày khác và tôi cũng được chứng kiến. Horemheb nói:

- Tình trạng bất ổn lớn bao trùm Syria và các khu kiều dân Ai Cập ở đó rất yếu thế. Có lẽ Aziru đang kích động lòng thù hận chống Ai Cập và thần không nghi ngờ gì về việc hắn ta sẽ công khai làm loạn vào thời điểm thích hợp.

Pharaon Ekhnaton nói:

- Khanh nhìn thấy các nghệ sĩ đang bài trí những bãi sậy và đàn vịt đang bay theo phong cách Crete trên sàn các sảnh của cung điện ta chứ? Khanh hẳn đã đi xem hàng cột Aton bên cạnh cung điện của ta, vì chúng rất đáng để xem, mặc dù các cột chỉ được xây bằng gạch để tiết kiệm thời gian. Hơn nữa, mới chỉ nghĩ đến việc các nô lệ phải còng lưng đục đá cho Aton trong các khu mỏ là ta đã thấy khó chịu. Ta không nghĩ bạo loạn sẽ nổ ra ở Syria, vì ta đã gửi thánh giá sự sống cho các quốc vương xứ ấy. Nhất là khi vua Aziru lại còn là bạn ta, đã nhận thánh giá sự sống và xây một ngôi đền cho Aton ở đất của thần Amori. Khanh không có lý do gì để nghi ngờ lòng trung thành của ông ta, vì ta đã nhận được từ ông ta vô số đĩa đất sét; ông ta háo hức tìm hiểu những điều mới mẻ của Aton và nếu ngươi muốn, quản thủ của ta có thể cho ngươi xem những đĩa đất sét ấy một khi văn khố hoàng gia được sắp xếp.

Horemheb nói:

- Thần đái vào đĩa đất sét của hắn, vì chúng cũng bẩn thỉu và gian dối như chính hắn. Nhưng nếu ngài nhất quyết giải tán quân đội, ít nhất hãy cho phép thần tăng cường lực lượng bảo vệ biên giới, vì hiện tại các bộ tộc phía nam đang lùa gia súc của họ vượt qua các mốc đá ranh giới sang đồng cỏ của ta ở xứ Kush, các làng của đồng minh da đen của chúng ta sẽ dễ dàng bị đốt cháy, vì được xây bằng rơm.

Pharaon Ekhnaton nói:

- Ta không nghĩ họ có ý xấu, chỉ vì sự nghèo đói đẩy họ đến đồng cỏ của chúng ta. Do đó, hãy để chư hầu của chúng ta chia sẻ đồng cỏ với các bộ tộc phía nam và ta cũng sẽ gửi thánh giá sự sống cho những bộ tộc này. Ta không tin họ cố tình đốt làng, mà như chính khanh đã nói, các ngôi làng bằng rơm rất dễ bắt lửa và không vì một vài vụ cháy mà kết tội cả bộ tộc. Nhưng nếu khanh muốn, hãy chỉ tăng cường các đội bảo vệ biên giới ở xứ Kush và Syria, vì việc của khanh là đảm bảo an ninh của vương quốc và nhớ là chỉ coi họ như những đội canh biên giới chứ không phải quân đội chính quy.

Horemheb nói:

- Ekhnaton, người bạn điên rồ của hạ thần, dù thế nào đi nữa, ngài phải cho phép thần tổ chức lại đội quân phòng thủ khắp cả vương quốc, vì những người lính bị giải ngũ nghèo đói sẽ trộm cướp, lấy những tấm da chưa thuộc dành để nộp thuế của nông dân và dùng gậy đánh họ.

Pharaon Ekhnaton nói như răn dạy:

- Horemheb, khanh biết chuyện gì sẽ xảy ra khi không chịu nghe lời ta. Nếu khanh nói nhiều hơn về Aton với binh lính của mình thì họ sẽ không làm như thế, nhưng bây giờ trái tim họ chai sạn, mông họ vẫn đau vì vết roi của khanh và họ không biết phải làm gì. Mà khanh có để ý không, hai con gái của ta đang chơi cùng nhau, Meritaton nắm tay em mình và chúng làm bạn với con linh dương đồ chơi nhỏ xinh? Thêm nữa, sao khanh không tuyển đám lính đã bị giải ngũ vào các đội canh phòng trên khắp vương quốc? Chỉ cần lấy họ vào đội canh phòng biên giới, chứ không vào các đội quân trực chiến. Ta cũng nghĩ nên phá dỡ hết các cỗ chiến xa đi, vì nghi ngờ đẻ ra nghi ngờ và chúng ta phải làm cho các nước lân bang tin rằng Ai Cập sẽ không gây chiến dù xảy ra bất cứ chuyện gì.

- Không phải bán chiến xa cho Aziru hoặc cho người Hittite sẽ đơn giản hơn rất nhiều sao, bởi chúng trả giá rất cao cho chiến xa và ngựa chiến? - Horemheb giễu cợt nói. - Hạ thần hiểu ngài không cần quân đội hùng mạnh một khi ngài vứt tất cả sự giàu có của Ai Cập xuống đầm lầy và vào gạch xây.

Họ tranh cãi như thế từ ngày này qua ngày khác cho đến khi Horemheb trở thành thống lĩnh các đội quân phòng thủ dọc biên giới và tại các thành phố nhờ sự cứng đầu của mình, nhưng Pharaon ban lệnh chỉ trang bị cho binh lính biên phòng giáo mũi gỗ, còn quân số thì mặc Horemheb quyết định. Vậy nên Horemheb đã sai gọi lãnh binh từ khắp các vùng đến Memphis ở giữa Ai Cập, nơi giáp giới của hai miền, và cũng định đích thân đến đó, nhưng khi anh ấy đang chuẩn bị lên thuyền chiến của mình, một chiếc thuyền do thám đã mang đến một loạt thư và bảng đất sét rất đáng lo ngại từ Syria, khiến niềm hy vọng lại thức dậy trong lòng Horemheb. Các mật thư và bảng đất sét này là chứng cớ rất thuyết phục rằng vua Aziru, sau khi nghe tin về tình hình bất ổn ở Thebes, đã coi thời điểm này là thích hợp và bất ngờ đánh chiếm một vài thị trấn lân cận thuộc Amori. Một cuộc bạo động cũng nổ ra tại Megiddo, vùng trọng điểm của Syria, và các đội quân của Aziru bao vây pháo đài nơi quân đồn trú Ai Cập rút về cố thủ và cầu xin ứng cứu khẩn cấp từ Pharaon. Nhưng Pharaon Ekhnaton nói:

- Ta tin vua Aziru có lý do chính đáng cho hành động của mình, vì ta biết ông ta là một người nóng nảy và có thể sứ giả của ta đã xúc phạm ông ta. Vì vậy, ta không thể kết tội trước khi ông ta có cơ hội để biện minh cho mình. Nhưng có những việc ta có thể làm và thật sai lầm khi ta không nghĩ đến sớm hơn. Thành phố Aton hiện đang mọc lên trên miền đất đen, ta cũng phải có thành phố Aton ở miền đất đỏ, ở Syria và ở Kush. Thật vậy, thành phố Aton phải được xây dựng ở Kush và phải được xây dựng ở Syria, sẽ là trung tâm điều hành các nơi. Megiddo là chỗ giao nhau của các tuyến đường vận chuyển người và hàng hóa, vì thế là nơi thích hợp nhất để trở thành thành phố Aton, song ta ngờ rằng nó quá hỗn loạn cho việc xây dựng. Nhưng ngươi đã kể cho ta nghe về Jerusalem, nơi ngươi đã cho dựng đền thờ Aton trong cuộc chiến chống lại Khabiri, cuộc chiến mà ta không bao giờ có thể tha thứ cho mình. Jerusalem không ở giữa Syria như Megiddo mà xa hơn về phía nam, nhưng ta sẽ làm ngay việc cần làm để xây dựng thành phố Aton ở Jerusalem, để nó sẽ là thành phố chính của Syria, dù bây giờ chỉ là một làng nghèo nàn.

Nghe đến đây, Horemheb bẻ roi chỉ huy của mình và ném nó vào chân Pharaon rồi lên thuyền chiến đi đến Memphis để tổ chức lại các đội quân phòng thủ. Nhưng việc anh ấy ở lại Akhetaton cũng có ích, để tôi có những buổi tối thư thái kể cho anh ấy nghe tất cả những gì tôi đã nhìn và nghe được ở Babylon, Mitanni, Crete và xứ Hatti. Anh ấy im lặng nghe tôi nói, thỉnh thoảng gật đầu như thể những gì tôi kể không có gì mới với anh, tay búng búng con dao viên quản thủ cảng người Hittite tặng tôi. Đôi lúc anh ấy hỏi tôi những câu hỏi rất trẻ con như: “Lính Babylon bắt đầu diễu hành bằng chân trái như lính Ai Cập hay bằng chân phải như lính Hittite?”; hoặc: “Khi dùng chiến xa hạng nặng, người Hittite cho ngựa chạy bên cạnh nhau hay chạy sau thùng xe?”; hoặc: “Bánh của chiến xa Hittite có bao nhiêu tăm và được làm bằng kim loại à?”.

Anh ấy hỏi tôi những câu hỏi trẻ con như vậy chắc vì anh ấy là một người lính, bởi người lính quan tâm đến những thứ không quan trọng chút nào, giống như những đứa trẻ cố đếm con rít bao nhiêu chân. Nhưng tất cả những gì tôi nói với anh ấy về đường sá, cầu cống và sông suối, cũng như tất cả những cái tên tôi kể ra, anh ấy đều bảo chép lại để nhớ, vậy nên tôi khuyên anh ấy hãy gặp Kaptah, người cũng trẻ con như anh, trong việc nhớ những điều không cần thiết. Trái lại, anh ấy không hào hứng chút nào khi tôi nói về việc đọc lá gan và liệt kê cho anh hàng ngàn cổng, mạch và huyệt khác nhau của gan mà anh không hề viết tên chúng ra để nhớ.

Dù sao, Horemheb đã hậm hực rời khỏi Akhetaton và Pharaon rất hài lòng với việc đó, bởi những cuộc trò chuyện với Horemheb đã làm phiền ngài đến mức cứ thấy Horemheb đến gần là đầu ngài lại đau nhức. Nhưng với tôi, ngài trầm tư nói:

- Có thể Aton muốn Ai Cập mất Syria và nếu đúng vậy, ta là ai để nổi loạn chống ngài, bởi điều đó chỉ tốt cho Ai Cập. Vì sự giàu có của Syria đã gặm nhắm tâm can Ai Cập và tất cả những xa hoa, bạc nhược, đồi bại và thói quen xấu đều đến từ Syria. Nếu chúng ta mất Syria, Ai Cập sẽ buộc phải quay trở lại cuộc sống giản đơn, sống bằng sự thật và đó sẽ là điều tốt nhất với Ai Cập. Cuộc sống mới phải bắt đầu ở Ai Cập để từ đó có thể lan tỏa ra khắp thế giới.

Nhưng tim tôi nổi loạn chống lại lời nói ấy và tôi nói:

- Con trai của Ramses, trấn thủ Simyra, là một đứa bé lanh lợi có đôi mắt nâu rất to và thích chơi với những viên đá nhiều màu. Thần đã từng chữa bệnh thủy đậu cho nó. Còn một phụ nữ Ai Cập sống ở Megiddo đã đến Simyra gặp thần sau khi nghe danh tiếng của thần, vì bụng cô ta bị trướng, thần đã dùng dao để mổ và cứu sống cô ta. Da cô ta mềm như vải bông và cô ta đi lại uyển chuyển như tất cả phụ nữ Ai Cập, mặc dù bụng cô bị trướng và mắt long lanh vì sốt.

- Ta hoàn toàn không hiểu khanh nói với ta chuyện đó làm gì, - Pharaon Ekhnaton ngắt lời tôi và bắt đầu vẽ lên giấy ngôi đền của mình khi nó lờ mờ hiện ra trong tâm trí ngài, vì ngài liên tục làm phiền các kiến trúc sư và thợ cả của mình bằng các hình vẽ và lời giải thích cho dù họ hiểu rõ nhà cửa đền đài hơn ngài.

- Thần chỉ muốn nói thần lại thấy trong mắt mình thằng bé Ramses ấy, miệng nó bị dập nát và tóc trán dính đầy máu. Thần cũng nhìn thấy người đàn bà Megiddo đó khi cô ta nằm trần truồng, người đầy máu me trong sân của pháo đài và những người đàn ông Amori làm ô uế thi thể cô ta. Nhưng lẽ tất nhiên thần thừa nhận rằng những suy nghĩ của mình quá nhỏ nhoi so với suy nghĩ của ngài và đấng quân vương không thể nhớ từng tên Ramses và từng người đàn bà mềm yếu trong đám tiện dân của ngài.

Lúc đó Pharaon nắm chặt bàn tay và giơ nắm đấm lên trời, cơn đau đầu làm mắt ngài mờ đi và ngài kêu lên:

- Sinuhe, ngươi không nhận thấy sao, nếu phải chọn cái chết thay cho sự sống, ta thà chọn một trăm cái chết của người Ai Cập hơn một ngàn cái chết của người Syria. Nếu ta bắt đầu chiến tranh ở Syria để cứu từng người Ai Cập ở đó, thì nhiều người, cả Ai Cập và Syria, sẽ chết trong cuộc chiến; người Syria cũng là con người như người Ai Cập, với trái tim đập trong lồng ngực, họ cũng có vợ và những đứa con trai mắt sáng long lanh. Nếu lấy cái ác chống lại cái ác, ta sẽ chỉ sản sinh ra cái ác, nhưng khi ta lấy cái thiện chống lại cái ác, thì cái ác sinh ra từ đó sẽ nhỏ hơn. Ta không muốn chọn cái chết thay cho sự sống. Vì vậy ta bịt tai trước những lời của ngươi và đừng nói với ta về Syria nữa nếu ngươi yêu thương ta và quý trọng mạng sống của ta, vì khi nghĩ đến Syria, trái tim ta quặn thắt với những khổ đau mà những người chết phải trải qua vì ý muốn của ta và về lâu dài, một người không đủ sức mang nỗi thống khổ của nhiều người. Vì vậy, hãy cho ta sự bình yên vì Aton và vì sự thật của ta.

Ngài cúi đầu, mắt sưng tấy vì đau và bắt đầu đỏ lên, cả đôi môi dày cũng run run. Vì thế tôi để ngài yên, nhưng trong tai tôi vang lên tiếng đập thình thịch của những kẻ phá tường thành ở Megiddo và tiếng kêu khóc của những người vợ bị hành hạ trong lều vải của những người đàn ông Amori. Nhưng tôi cố làm cho tim mình chai lại trước những âm thanh này, vì tôi yêu Pharaon dù ngài điên khùng và có lẽ tôi yêu ngài chính vì sự điên khùng ấy, đẹp hơn sự thông thái của những người khác.

6

Tôi còn phải kể về đám cận thần, những kẻ lập tức theo Ekhnaton đến Thành phố Thiên Đường, vì họ đã sống cả đời trong hoàng cung của Pharaon và mục đích duy nhất của cuộc đời họ là được sống gần Pharaon, mỉm cười khi ngài cười và cau mày khi ngài cau mày. Cha của họ đã làm như thế trước họ và cha của những người cha này đã làm như thế trước đó, rồi họ thừa kế những chức tước quyền quý từ cha mình, tự hào về địa vị của mình và so sánh với địa vị của người khác. Họ là những người mang dép hoàng gia hầu như không bao giờ xỏ dép vào chân, những người hầu rượu hoàng gia chưa bao giờ đạp nho, người thợ làm bánh hoàng gia chưa bao giờ biết nhào bột, người giữ que quẹt thuốc mỡ hoàng gia, người cắt bao quy đầu hoàng gia và nhiều hầu cận khác. Tôi là người khoan sọ hoàng gia nhưng không ai chờ đợi tôi sẽ khoan thủng hộp sọ của nhà vua, mặc dù, khác với tất cả những cận thần khác, tôi có thể làm việc đó và có thể vẫn giữ được sự sống cho Pharaon.

Tất cả họ đều vui mừng và hát những bài thánh ca của Aton khi đến Akhetaton trên những con thuyền rải đầy hoa, chở theo nhiều cung nữ và vò rượu như thể trong một chuyến du ngoạn. Họ ở trong lều dưới những mái che nắng bên bờ sông, vừa ăn uống vừa hoan hỉ hưởng thụ cuộc sống của mình, vì nước đã rút và trời đã sang xuân, không khí thôn quê trong lành như rượu mới và chim chóc hót líu lo trên cây. Cần rất nhiều người hầu và nô lệ phục vụ họ đến nỗi nơi ở của những người này thành một thị trấn nhỏ, vì bản thân các cận thần và cung nữ thậm chí không biết rửa tay hay lau dầu mỡ trên mặt, mà nếu không có người hầu và nô lệ họ sẽ bất lực như những đứa trẻ mới tập đi.

Nhưng họ vẫn can đảm đi theo Pharaon khi ngài chỉ cho họ nơi sẽ là đường phố, nhà cửa của họ khi nô lệ giơ lọng che cái đầu quý giá của họ. Họ cũng rất hăng hái cùng thợ xây tham gia xây nhà cho mình, vì ngay cả Pharaon đôi khi cũng nhặt một viên gạch trên đất đặt vào chỗ xây. Họ hổn hển bê gạch đến những bức tường nhà đang dần cao, cười khi tay bị trầy xước và những phụ nữ quý tộc lấy đầu gối nhào đất sét trên mặt đất. Nếu xinh đẹp và trẻ trung, họ lấy cớ này để cởi xiêm áo, chỉ mặc yếm ngang lưng như thiếu phụ nhà nông mặc khi xay lúa.

Nhưng nô lệ phải che ô cho họ để họ không bị cháy nắng và sau khi nhào đất sét một lúc, họ bỏ đi để lại các thứ bừa bãi, khiến đám thợ xây chửi rủa họ thậm tệ và vứt bỏ những viên gạch mà những đôi tay quyền quý đã đặt vào. Tuy nhiên, đám thợ xây không chửi rủa các thiếu phụ trẻ mà rất thích ngắm nhìn họ và giả vờ ngu ngốc bôi bàn tay đất sét lên người họ, khiến họ giật mình và tức giận hét lên. Còn khi các cung nữ già nua, xấu xí đến chỗ đám thợ xây và động viên họ làm việc, ngưỡng mộ véo cơ bắp của họ và vừa đưa tay vuốt ve gò má đất sét của họ dưới tên Aton vừa hít hà mùi mồ hôi của họ thì họ lại chửi bới và đánh rơi gạch đất sét xuống chân những người này để đuổi họ đi.

Đám cận thần hồ hởi khoe khoang và khoác lác về việc họ xây nhà cũng như những việc họ đã làm, kể lể cho nhau nghe mỗi người đặt được bao nhiêu viên gạch vào chỗ và cho Pharaon xem bàn tay trầy xước của mình để được sủng ái.

Nhưng sau một thời gian, họ chán trò chơi xây dựng này và bắt đầu chăm sóc vườn cây của mình, bới đất như trẻ con. Thợ làm vườn cầu xin thần linh giúp đỡ và la mắng họ, vì họ không ngớt cho dịch chuyển cây cối, hoa màu từ nơi này sang nơi khác. Những người đào mương tưới tiêu gọi họ là con cái của Seth, vì mỗi ngày họ nghĩ ra những nơi đào ao cá mới. Tôi cũng không nghĩ họ có ý xấu khi làm những việc này, chỉ vì họ thậm chí còn không nhận ra mình gây phiền toái cho người làm mà tin rằng đã giúp đỡ những người này rất nhiều và tối tối uống rượu, khoe khoang việc mình làm.

Nhưng không lâu sau họ cũng chán cả trò chơi này và bắt đầu than vãn về cái nóng của những ngày này và bọ chét lổm ngổm trên những tấm thảm trong lều làm họ rên rỉ suốt đêm, khiến sáng ra họ đến gặp tôi xin thuốc mỡ để bôi vào vết bọ chét cắn. Cuối cùng họ nguyền rủa cả thành phố Akhetaton, nhiều người bỏ đi đến trang trại của mình, những người khác bí mật lẻn đến Thebes vui chơi, còn những người trung thành nhất ngồi trong bóng râm của lều uống rượu ướp lạnh, chơi xúc xắc với nhau và luân phiên thắng thua tất cả vàng, quần áo và đồ trang sức của mình để tìm một sự khuây khỏa trong cuộc sống tẻ ngắt từ trò chơi. Nhưng những bức tường của các tòa nhà dần mọc lên và trong vài tháng, thành phố Akhetaton đã nhô lên giữa vùng hoang vu với những khu vườn kỳ diệu như trong cổ tích. Nhưng tất cả tốn bao nhiêu thì tôi không thể tính được. Tôi chỉ biết tất cả số vàng của Amon không đủ cho việc này, vì các kho của Amon đều trống rỗng khi các ấn tín được mở ra. Các giáo sĩ của Amon đã đoán được cơn bão sắp xảy ra nên đã phân phát vàng cho những người tin cẩn giữ.

Tôi phải kể thêm là hoàng gia bị chia rẽ vì Akhetaton, bởi Hoàng thái hậu không chịu theo con trai đến nơi hoang vắng. Thebes là thành phố của bà, hoàng cung của Pharaon rực sáng vàng tía xanh dương giữa những khu vườn và những bức tường bên sông, là do Pharaon Amenhotep sai xây dựng lên cho tình yêu của ngài, vì Hoàng thái hậu Teje vốn chỉ là một người bắt chim nghèo khó trong bãi sậy ở miền Hạ. Vì vậy, Teje không muốn rời Thebes và Công chúa Baketaton cũng ở lại với thân mẫu. Giáo sĩ Eje, người cầm trượng bên phải nhà vua, vẫn ở đó, ngồi trên ngai vàng của vua xét xử trước các cuộn da, nên mọi việc ở Thebes không có gì thay đổi. Chỉ Pharaon giả là vắng mặt và Thebes không hề luyến nhớ ông.

Cả Hoàng hậu Nefertiti cũng trở lại Thebes để sinh nở, vì người không dám sinh nếu không có thái y của Thebes và những phù thủy da đen. Nefertiti sinh công chúa thứ ba, được đặt tên là Ankhsenaton và là người sẽ trở thành nữ hoàng. Đầu Công chúa cũng bị các phù thủy kéo dài và bóp nhỏ để sinh cho dễ dàng và khi Công chúa lớn lên, các cung nữ cũng như tất cả phụ nữ trên khắp Ai Cập, những người muốn xinh đẹp và bắt chước cách ăn mặc của triều đình, bắt đầu dùng chỏm đầu giả để kéo đầu dài ra. Còn các công chúa lại cạo hết tóc vì họ hãnh diện về dáng đầu xinh đẹp của mình. Các nghệ sĩ cũng ngưỡng mộ và tạc tượng họ, vẽ và tô màu rất nhiều bức tranh về họ mà không hề biết rằng tất cả là do phép thuật của các phù thủy da đen.

Nhưng sau khi sinh công chúa, Hoàng hậu Nefertiti trở lại Akhetaton, vào ở trong cung điện đã được xây xong trong thời gian này và đã được hoàn thiện để ở. Hoàng hậu cũng để hậu cung của Pharaon ở lại Thebes, bởi người rất bực bội khi đứa con thứ ba cũng là gái và không muốn Pharaon hao phí sinh lực của mình trên thảm của các phi tần. Ekhnaton cũng không phản đối vì ngài rất mệt mỏi, chán ngán với bổn phận của mình trong hậu cung và không muốn thêm ai khác ngoài Nefertiti, điều mà ai cũng hiểu khi nhìn thấy sắc đẹp của người, vì sinh đến con thứ ba mà người không hề xấu đi, trái lại còn trẻ và hấp dẫn hơn bao giờ hết. Nhưng sự thay đổi này là nhờ Akhetaton hay phép thuật của phù thủy da đen, tôi không biết.

Vậy là chỉ trong vòng một năm, Akhetaton đã mọc lên giữa vùng đất hoang vu, những ngọn cọ kiêu hãnh đung đưa dọc theo các đại lộ của thành phố, lựu chín đỏ trong các khu vườn và hoa sen nở hồng trong những ao cá. Cả thành phố như một khu vườn nở đầy hoa với những ngôi nhà bằng gỗ vươn lên nhẹ nhàng và thanh thoát như những vọng lâu, những cây cột nhà bằng cọ và sậy nhẹ được sơn màu sặc sỡ. Vườn tràn vào trong các ngôi nhà, vì những cành cọ và sung vẽ trên tường đang đung đưa trong làn gió xuân vĩnh cửu. Trên sàn nhà là những bãi sậy và những đàn cá nhiều màu bơi lội tung tăng, đàn vịt với đôi cánh sặc sỡ bay trong đám sậy. Trong thành phố này có đủ mọi thứ làm vui lòng người, linh dương hiền lành đi lang thang trong các khu vườn, trong khi trên các con phố, bầy ngựa cắm chùm lông đà điểu rung rinh kéo những chiếc xe ngựa thanh thoát và những căn bếp thơm mùi gia vị đến từ mọi nơi trên thế giới.

Thế là Thành phố Thiên Đường đã được xây xong và khi mùa thu đến, chim én ngoi lên khỏi bùn, xao xác bay thành đàn trên dòng sông nước đang lên. Pharaon Ekhnaton dâng thành phố và vùng đất này cho thần Aton. Ngài khánh hạ những cột mốc ranh giới ở cả bốn phương của đất này, trên mọi cột đều có hình Aton ban phước cho Pharaon và hoàng thất bằng những tia sáng thần linh, đồng thời trên mỗi tảng đá đều khắc lời ngài thề rằng sẽ không bao giờ bước chân ra khỏi đất của Aton. Vì lễ khánh hạ này, những người thợ đá đã lát những con đường đá dẫn ra bốn hướng để Pharaon có thể an tọa trong cỗ xe vàng của mình đến cột mốc ranh giới, hoàng gia theo sau ngài trong các cỗ xe và kiệu, triều thần ngồi trong xe và trên kiệu theo sau vừa rải hoa vừa thổi sáo, gảy đàn ca ngợi Aton.

Pharaon Ekhnaton không muốn rời khỏi thành phố Akhetaton cả sau khi tạ thế; khi thành phố xây xong, ngài đã cho thợ xây của mình đến phá đá xây mộ vĩnh cửu ở dãy núi phía đông trong vùng đất Aton, công việc khiến họ không thể trở về nhà cũ. Nhưng chính những người thợ xây cũng không còn nhớ nhiều đến quê cũ của mình mà dần cam chịu, bằng lòng sống trong khu phố của họ dưới sự chở che của Pharaon, vì lương thực của họ dồi dào, dầu không bao giờ cạn trong bình và vợ họ sinh những đứa con khỏe mạnh.

Khi quyết định xây lăng mộ cho mình và triều thần ở Akhetaton cũng như tặng mộ cho mỗi cận thần cùng sống với mình trong Thành phố Thiên Đường và tin vào Aton, Pharaon Ekhnaton cũng cho xây dựng Nhà Chết bên ngoài thành phố để thi thể của những người chết ở Akhetaton được giữ gìn mãi mãi. Vì vậy ngài đã lệnh cho đưa đến những người ngâm tẩm xác lành nghề nhất từ Nhà Chết ở Thebes, không kể đến tín ngưỡng của họ, mà kỹ năng của họ mới là quan trọng. Họ đến trên một chiếc thuyền đen xuôi về hạ lưu và gió thổi mùi của họ lan tỏa, khiến người dân trốn trong nhà, cúi đầu đốt hương trầm và đọc lời cầu nguyện với Aton. Nhưng nhiều người cũng đọc những lời cầu nguyện các thần cũ và làm dấu linh thiêng của Amon, vì mùi của những người ướp xác khiến Aton trở nên xa xôi với họ và họ nhớ đến các vị thần cũ.

Những người ngâm ướp xác rời khỏi thuyền cùng với tất cả đồ nghề, họ chớp chớp đôi mắt đã quá quen với bóng tối của Nhà Chết và bực tức nguyền rủa ánh sáng chạm vào mắt họ. Họ vội vã đi đến Nhà Chết mới, mang theo mùi của mình đến đó để nó trở nên thật quen thân và không rời khỏi đó nữa. Trong số họ có cả chuyên gia dùng kìm già Ramose, người có nhiệm vụ rửa sạch não trong hộp sọ xác chết mà tôi đã gặp lại trong Nhà Chết, vì các giáo sĩ của Aton rất sợ Nhà Chết nên Pharaon đã giao nó cho tôi giám quản. Sau khi nhìn một lúc lâu, ông nhận ra tôi và rất lấy làm kinh ngạc. Nhưng tôi đã cố ý để lộ mình để ông tin tưởng tôi, vì nỗi hoài nghi như một con sâu đã gặm nhắm trái tim tôi và tôi sốt ruột muốn biết sự trả thù của mình đã nở hoa kết trái thế nào trong Nhà Chết ở Thebes. Vì vậy, sau khi nói một chút về nghề nghiệp và nhiệm vụ của ông, tôi hỏi:

- Ramose, bạn của tôi, có phải ông đã buộc phải dùng tài năng của mình rửa sọ cho một phụ nữ xinh đẹp, có tên theo tôi nhớ là Nefernefernefer, được đưa đến Nhà Chết sau những ngày khủng khiếp không?

Ông nhìn tôi, cổ rụt lại, đôi mắt rùa thô lố chớp liên tục và nói:

- Nói thật lòng, Sinuhe, cậu là người quyền quý đầu tiên gọi một kẻ ướp xác là bạn mình. Điều đó khiến tôi rất cảm động, và điều cậu muốn biết có lẽ rất quan trọng đối với cậu nên cậu mới gọi tôi là bạn mình. Lẽ nào cậu là người đã mang ả ta đến vào đêm đó và quấn ả trong áo choàng đen tử thần, bởi nếu cậu là người đó, cậu không thể là bạn của bất kỳ kẻ ngâm ướp xác nào và nếu biết được, họ sẽ đâm cậu bằng lưỡi dao tẩm độc, khiến cậu phải chết cái chết hãi hùng.

Run người lên trước lời ông ấy nói, tôi nói:

- Dù ai mang cô ta đến đi nữa, chắc chắn cô ta đáng phải chịu số phận của mình, nhưng theo như ông nói, tôi ngờ là cô ta không chết mà đã được sống lại trong tay của những người ngâm ướp xác.

Ramose nói:

- Đúng là con mụ khủng khiếp đó đã sống lại trong Nhà Chết, mặc dù tôi không muốn đoán vì sao cậu biết. Mụ ta đã hồi sinh, vì đàn bà như mụ không bao giờ chết và nếu mụ ta chết, thân xác mụ phải bị thiêu trong lửa để mụ không bao giờ trở lại. Khi hiểu mụ, chúng tôi đã gọi mụ bằng cái tên Sethnefer, người đẹp của ác quỷ.

Lúc đó, bị một ý nghĩ kinh hoàng xâm chiếm, tôi hỏi ông ta:

- Vì sao ông lại nói “đã” khi kể về cô ta, vì chẳng lẽ cô ta không còn ở trong Nhà Chết, mặc dù những người rửa thi thể nói rằng sẽ giữ cô ta ở đó bảy mươi lần bảy mươi ngày?

Ramose giận dữ khua dao, kìm của mình và tôi nghĩ ông sẽ vung tay vào tôi nếu tôi không mang cho ông vò rượu loại ngon nhất từ hầm rượu của Pharaon. Ông dịu xuống, đưa ngón tay sờ lên lớp xi đầy bụi gắn trên vò và nói:

- Chúng ta đã không làm điều ác cho cậu, Sinuhe; cậu như con đẻ của ta, và ta đã muốn giữ cậu lại trong Nhà Chết và dạy cho cậu tất cả các kỹ năng của mình. Chúng ta cũng đã bảo quản thi thể của cha mẹ cậu như thể bảo quản thi thể của người quyền quý, không dè sẻn chút dầu và hương liệu tốt nhất nào. Vậy sao cậu lại làm điều tồi tệ đến thế với chúng ta khi đưa mụ đàn bà khủng khiếp vẫn còn sống đó đến Nhà Chết? Cậu phải biết trước khi mụ ta đến, chúng ta sống đơn giản và làm việc cần mẫn trong Nhà Chết, lấy bia để thỏa mãn lòng mình, làm giàu bằng cách trộm đồ trang sức của những người quá cố bất kể đẳng cấp hay giới tính và bán cho các phù thủy từng phần thi thể, những thứ họ cần để làm phép thuật. Nhưng khi mụ ấy xuất hiện giữa đám chúng ta, Nhà Chết như thành vực thẳm địa ngục, đám đàn ông lấy dao đâm nhau và cắn xé nhau như bầy chó dại vì mụ ta. Mụ ta lấy của chúng ta tất cả của cải, vàng bạc chúng ta tích cóp và giấu trong Nhà Chết trong nhiều năm, đến đồng mụ cũng không chê. Mụ còn cướp cả y phục của chúng ta, vì với những ai già như ta đây, không còn đủ sức ham muốn nữa, thì mụ ép những kẻ khác trộm của chúng ta sau khi những kẻ ấy đã phung phí hết của cải của mình cho mụ ta. Không cần quá ba lần ba mươi ngày, mụ ta đã trấn lột và cướp hết của chúng ta. Khi nhận thấy chúng ta không còn gì để lấy, mụ ta đã cười nhạo và hết lời xỉ vả chúng ta, nên hai kẻ rửa xác từng thèm muốn mụ đã lấy dây lưng thắt cổ chết vì bị mụ chế nhạo và nhục mạ. Sau đó mụ bỏ đi và mang theo tất cả của cải mà chúng ta không thể cản được, vì nếu ai đó định chặn đường thì kẻ khác sẽ mở đường cho mụ để có được một nụ cười hay một cái chạm tay của mụ. Như thế đấy, mụ đã lấy đi sự bình yên và tài sản của chúng ta, mang theo ít nhất ba trăm deben vàng, không kể bạc và đồng cũng như băng và thuốc mỡ mà chúng ta đã bớt xén được từ người chết trong bao năm qua. Mà mụ ta còn hứa một năm sau sẽ quay lại thăm chúng ta và xem chúng ta kiếm được bao nhiêu. Vì thế Nhà Chết ở Thebes hiện giờ trộm cắp nhiều hơn bao giờ hết và những người tẩm ướp xác đã học cách ăn trộm lẫn nhau chứ không chỉ của người chết, khiến sự yên bình của chúng ta hoàn toàn biến mất. Nên cậu hiểu vì sao chúng ta gọi mụ là Sethnefer, vì quả thực mụ rất đẹp, song vẻ đẹp của mụ từ Seth mà ra.

Thế là tôi biết được sự trả thù của mình trẻ con đến thế nào, vì Nefernefernefer toàn vẹn trở về từ Nhà Chết và còn giàu có hơn. Tôi nghĩ thời gian trong Nhà Chết không làm hại ả ta chút nào ngoại trừ mùi hôi ăn sâu vào thân thể sẽ ngăn cản ả ta hành nghề của mình trong một thời gian, chắc chắn ả ta muốn được nghỉ ngơi sau một thời gian sống chung, ăn nằm với những người ngâm tẩm xác. Nhưng nói cho cùng, tôi không tiếc cho ả, vì sự trả thù này chỉ gặm nhắm trái tim tôi mà không làm hại ả, và sau khi trải qua điều này, tôi đã hiểu trả thù không đem lại niềm vui, mà sự ngọt ngào của nó rất ngắn ngủi, làm hại chính kẻ trả thù và như ngọn lửa thiêu đốt trái tim anh ta.

Sau khi đã kể tất cả những điều này, tôi phải bắt đầu một sách mới để có thể kể những gì đã xảy ra khi Pharaon Ekhnaton sống ở thành phố Akhetaton và những gì đã xảy ra ở Syria. Tôi cũng phải kể về Horemheb, về Kaptah, về người bạn Thotmes của tôi và cũng không được quên Merit. Vì thế tôi bắt đầu một sách mới.

  • Trước
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • Sau
  • Trước
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • Sau