• ShareSach.comTham gia cộng đồng chia sẻ sách miễn phí để trải nghiệm thế giới sách đa dạng và phong phú. Tải và đọc sách mọi lúc, mọi nơi!

Danh mục
  1. Trang chủ
  2. Cẩm nang quản lý và CEO
  3. Trang 13

  • Previous
  • 1
  • More pages
  • 12
  • 13
  • 14
  • More pages
  • 22
  • Next

7.ĐỐI ĐẦU VỚI CĂNG THẲNG VÀ CẢM XÚC

Tôi chưa từng biết đến sự thăng tiến nào lại đau đớn đến thế.

Các nhà quản lý mới vừa bối rối về mức độ yêu thích công việc mới, lại vừa lo lắng về khả năng hoàn thành tốt công việc mới.

Họ mong đợi được thăng tiến với tâm trạng háo hức và lạc quan. Như những người khát khao thành tích và tiến bộ, các nhà quản lý hào hứng tiếp nhận những căng thẳng và thách thức của cơ hội phát triển bản thân. Tuy nhiên, họ sớm nhận ra rằng những áp lực đó lớn hơn và làm họ mệt mỏi hơn họ tưởng.

Nhiều nhà quản lý chỉ ra những dấu hiệu căng thẳng về tâm lý và thể chất mà họ cho là có nguyên nhân từ sự chuyển đổi này. Đó là thời gian diễn ra sự thay đổi tâm lý có tính bước ngoặt. Nhiều người tỏ ra miễn cưỡng khi tiết lộ sự thất vọng của mình và của cả người thân. Một số nhắc đến các triệu chứng mất ngủ, đau đầu nhẹ, mỏi lưng và hay gắt gỏng.

Áp lực thật căng thẳng trong vòng sáu tháng làm việc đầu tiên. Có ngày tôi tưởng như đầu mình sắp nổ tung. Đến cuối ngày, tôi ra khỏi văn phòng là cứ thế chạy thục mạng về nhà.

Ngay từ tuần đầu tiên, tôi đã bị mất ngủ. Cứ mỗi hai tiếng, tôi lại tỉnh giấc một lần, mặc dù tôi rất mệt. Tôi cảm thấy như mình đang bị trầm cảm.

Tôi gầy đi rất nhanh. Có thể đó là điều tốt. Tôi từng mong bỏ được cái bao tải này xuống [ám chỉ cái bụng quá khổ của anh ta]. Giờ thì tôi không thể ngăn được tình trạng giảm cân. Vợ tôi rất lo lắng. Có hôm, tôi còn không kịp ăn sáng.

Vợ tôi phàn nàn rằng tôi không ở bên cạnh cô ấy trong thời gian này, lúc cô ấy và bọn trẻ đang phải cố gắng thích nghi với cuộc sống mới tại đây [nhà quản lý này và gia đình vừa chuyển từ nơi khác đến]. Mọi thứ nơi đây còn khá lạc hậu. Tôi phải thừa nhận rằng tôi thường xuyên bận rộn và hay cau có. Tôi tự hỏi liệu có nên làm công việc đó không. Nếu không, chúng tôi sẽ lại chuyển nhà một lần nữa.

Yêu cầu trước tiên là phải học cách đương đầu với áp lực và sự căng thẳng của việc trở thành nhà quản lý. Áp lực phát sinh từ hai nguồn: từ chính những gì liên quan đến quá trình chuyển đổi và từ những gì gắn liền với vai trò mới. Nguồn thứ nhất bắt đầu giảm bớt khi các nhà quản lý dần dần trưởng thành và có sự tiến bộ qua thời gian; nhưng nguồn thứ hai thì vẫn còn đeo bám mãi.

NHỮNG ÁP LỰC CỦA SỰ CHUYỂN ĐỔI

Ngày càng có nhiều tài liệu viết về những áp lực trong việc thay đổi nghề nghiệp. Một trong những mục tiêu của cuộc nghiên cứu này là nhằm xác định các khía cạnh có tính nguy hại đặc biệt của việc chuyển đổi và cách mọi người đối phó với chúng. Trên thực tế, đa số mọi người cảm thấy việc thay đổi công việc khiến họ căng thẳng. Họ lo lắng và thất vọng khi cảm thấy phản ứng của mình trước các yêu cầu mới là không phù hợp. Khi cá nhân chủ định thay đổi nghề nghiệp, những áp lực và lo lắng thường được xem là nhất thời và có thể chịu đựng được, bởi đó là điều kiện tiên quyết để đổi lấy những phần thưởng và phúc lợi mà chức danh mới đem lại. Nhiều người cảm thấy phấn khích khi áp lực gia tăng đôi chút. Tuy nhiên, rất nhiều bằng chứng cho thấy sự lo lắng và thất vọng thái quá sẽ hạn chế khả năng thích nghi của nhà quản lý và khiến họ làm việc kém hiệu quả.

Mặc dù được chọn làm quản lý, nhưng ban đầu, rất nhiều người cảm thấy choáng ngợp và hoang mang trước những căng thẳng của sự thay đổi này. Khi nghiên cứu về sự thay đổi nghề nghiệp, các chuyên gia đã phát hiện ra một chi tiết thú vị: Sự thay đổi công việc gây căng thẳng nhất xảy ra khi một người được chuyển lên vị trí cao hơn, trong khi cấp trên của anh ta vẫn không thay đổi. Những nhà quản lý trong nghiên cứu này nhận thấy khoảng cách giữa vị trí người trực tiếp tạo ra sản phẩm và vị trí quản lý rộng hơn nhiều so với dự đoán. Họ gọi đó là "sự thay đổi khắc nghiệt". Như chúng ta đã thấy, họ mang theo nỗi lo rất lớn về hiệu quả công việc. Lần đầu tiên trong sự nghiệp, nhiều người phải đối diện với khả năng thất bại. Áp lực làm việc nặng nề, và họ luôn đứng trước nguy cơ thất bại.

Họ kỳ vọng tôi thành công ngay lập tức. Tôi cũng muốn làm tốt công việc, nhưng tôi lo sẽ không được như thế. Đó là nỗi sợ hãi lớn nhất mà tôi từng biết đến.

Làm tốt công việc là điều quan trọng đối với tôi. Tôi phải cảm thấy là tôi đang tạo ra sự khác biệt. Vậy mà thời gian này, đã có lúc tôi thấy mình không nhận lương thì tốt hơn.

Công ty đã mất đi một nhân viên tiếp thị năng động và nhận về một quản lý tồi.

Các nhà quản lý không chỉ đương đầu với nỗi lo về hiệu suất hoạt động của họ, mà còn phải vật lộn với cảm giác căng thẳng khi thay đổi phong cách. Họ diễn tả cảm giác đó như sự lơ lửng ở giữa hai ranh giới. Việc được thăng tiến lên cấp quản lý cũng có cái giá của nó vì đã đẩy nhà quản lý khỏi lĩnh vực chuyên môn vốn là "vùng an toàn" của họ. Họ mất cảm giác chủ động và không biết mình là ai.

Thật trớ trêu, khi nhà quản lý đã hiểu vai trò mới và biết rõ bản thân mình, quá trình chuyển đổi lại càng trở nên căng thẳng hơn.

Cứ không biết gì lại hóa hay. Giờ thì một khi tôi biết tôi vướng vào tình huống khó xử nào, tôi cũng biết là tôi sẽ gặp rắc rối ra sao.

Các nhà quản lý đi đến kết luận rằng để đạt được năng lực quản lý, họ phải hy sinh một số kỹ năng chuyên môn. Khi họ học được cách giao việc thì những kiến thức và khả năng chuyên môn của họ cũng trở nên lỗi thời. Quá trình chuyển đổi thành quản lý đồng nghĩa với việc không chỉ mất đi cảm giác chủ động và kiểm soát, mà còn mất sự phản hồi cụ thể, sự hài lòng tức thời, sự công nhận và cả tự do cá nhân. Chỉ khi đạt được một số kỹ năng và phong cách quản lý cơ bản, tự tin vào khả năng kiểm soát một số "cuộc nổi loạn nằm trong dự đoán" của việc trở thành nhà quản lý, những căng thẳng liên quan đến quá trình chuyển đổi mới bắt đầu giảm xuống. Tuy vậy, những áp lực cố hữu của chức vụ quản lý vẫn còn đó.

NHỮNG ÁP LỰC TRONG NGHỀ QUẢN LÝ

Cuối cùng, các nhà quản lý cũng nhận ra rằng rất nhiều áp lực không phải chỉ diễn ra nhất thời, mà còn kéo dài mãi. Chúng gắn liền với công việc quản lý và có thể gây ra tình trạng mệt mỏi, kiệt sức, nếu không có biện pháp đối phó kịp thời. Để trở thành nhà quản lý giỏi, họ phải học cách đương đầu với chúng và những cảm xúc kèm theo đó, nghĩa là họ cần phát triển tính cách quản lý. Các nhà quản lý phải đạt được năng lực cảm xúc như Edgar Schein, giáo sư Trường Quản lý thuộc Đại học Kỹ thuật Massachusetts, mô tả. Ông giải thích tại sao việc học cách đương đầu với những căng thẳng trong quản lý lại có vai trò then chốt trong quá trình chuyển đổi lên cấp quản lý.

Vấn đề khó khăn nhất của nghề quản lý nói chung là phải duy trì công việc ngày này qua ngày khác mà không được mắc sai lầm hay suy sụp tinh thần. Bản chất của nghề quản lý nói chung là chịu đựng những trạng thái cảm xúc tiêu cực – kết quả của những sự bất ổn, mâu thuẫn cá nhân và tinh thần trách nhiệm. Chính đặc điểm này đã làm nản lòng những ai ưa chuộng công việc chuyên môn, nhưng lại hấp dẫn và thu hút những cá nhân có thiên hướng quản lý. Đây là điều làm cho công việc này trở nên ý nghĩa và thú vị.

Các nhà quản lý phải học cách đương đầu với bốn loại căng thẳng chính là áp lực công việc, những mặt tiêu cực, bị cô lập và gánh nặng của trách nhiệm lãnh đạo. Chúng ta sẽ lần lượt xem xét từng loại một.

Áp lực công việc

Nguồn gốc của áp lực công việc gắn liền với sự quá tải, sự mơ hồ và mâu thuẫn vốn có của vai trò quản lý. Khi tất cả những tác động bất lợi xảy ra cùng lúc, nhà quản lý sẽ cảm thấy căng thẳng, gần như quá sức chịu đựng. Họ nhận thấy vị trí này đòi hỏi một nỗ lực ghê gớm. Họ có vô số việc phải làm trong khoảng thời gian quá ngắn, với lượng thông tin không đầy đủ và nguồn lực hạn chế. Họ phải chịu trách nhiệm về quá nhiều vấn đề với những vế trái ngược nhau (chẳng hạn như tăng doanh thu đồng thời với việc giảm chi phí). Và họ phải thỏa mãn yêu cầu của rất nhiều người: cấp dưới, khách hàng, cấp trên, đồng sự.

Tình thế khó xử của các nhà quản lý cấp cơ sở là có các đại diện bán hàng báo cáo và những người này có thể lôi kéo bạn theo nhiều hướng khác nhau. Rồi cấp quản lý thứ hai cũng trông vào bạn. Bạn phải nhận trách nhiệm của tất cả các nhà quản lý và nhân viên, trong khi vẫn có hàng đống việc phải giải quyết với khách hàng, chiến lược tiếp thị và đủ thứ linh tinh khác.

Các nhà quản lý cho rằng họ đã đầu tư lượng thời gian và công sức khổng lồ cho công việc. Đa số than phiền rằng họ phải làm việc ít nhất 60 giờ một tuần, chưa kể đôi khi họ phải dành các buổi tối và cả các kỳ nghỉ cuối tuần để làm nốt những việc còn dở dang.

Tôi làm việc ở mức 200% và tôi không thể bận rộn hơn. Tôi đã phải uống thuốc tăng lực để giữ gìn sức khỏe. Tôi phải có sức khỏe sau khi chứng kiến bố tôi [lãnh đạo cấp cao ở một công ty lớn] bị lên cơn đau tim. Tôi phải tìm ra cách để thoát khỏi tình trạng này thật sớm. Càng lúc, tôi càng trở nên mệt mỏi.

Tôi dậy lúc 6 giờ sáng và có mặt ở đây trước 7 giờ 30. Tôi làm việc đến tận 8 giờ hoặc 8 giờ 30 tối. Chẳng còn chút thời gian nào để sống cho mình nữa.

Lúc đầu, các nhà quản lý nghĩ rằng thích nghi với các yêu cầu quản lý chỉ đơn giản là thu thập các kỹ năng quản lý và học cách quản lý thời gian. Trên thực tế, việc quản lý thời gian là điều quan trọng, nhưng không đủ để giải quyết vấn đề. Các nhà quản lý mới phải học cách sống chung với tốc độ, sự ngắn gọn và sự gián đoạn.

Tôi thường xuyên phải đi sớm về muộn, vậy mà tôi vẫn chẳng làm được việc gì trong số những công việc mà tôi dự định. Công việc của tôi cứ bị ngắt quãng và tôi liên tục phải thay đổi thứ tự ưu tiên. Đến cuối ngày, tôi thấy mệt nhoài mà vẫn chưa làm xong việc gì cả.

Họ phải học cách sống chung với những gì không hoàn hảo. Họ cũng không thể lên kế hoạch và quản lý thời gian một cách chặt chẽ. Ngoài ra, họ còn phải biết rằng mọi quyết định ở cấp quản lý đều chưa hoàn hảo và cần dàn xếp các lợi ích trái ngược nhau. Bên cạnh đó, họ cần học cách xử lý những điều chưa biết. Bởi họ không thể là chuyên gia trong mọi vấn đề nên họ phải cân nhắc giữa các phương án, đồng thời cần nhân nhượng trước một số hạn chế có thể chưa thỏa đáng.

Ý nghĩ "Mình luôn luôn đúng" là tảng đá cản đường. Bạn phải đưa ra những quyết định kịp thời, do đó bạn không thể lúc nào cũng cầu toàn.

Mặt tiêu cực

Các nhà quản lý rất ngạc nhiên khi họ đồng loạt nhắc đến mặt tiêu cực của việc trở thành quản lý.

Tôi nghĩ điều ngạc nhiên nhất là các vấn đề mà tôi bỗng dưng phải đối mặt. Có thể trước đây tôi chưa từng gặp phải điều đó. Có thể tôi được ‘bảo vệ’ bởi tầng quản lý ở trên, khi tôi còn làm ở bộ phận bán hàng. Có thể tôi ảo tưởng về bản thân mình. Tôi cũng không biết nữa. Tôi chỉ biết rằng tôi thất vọng và chán nản khi suốt ngày cứ phải vật lộn với đủ loại vấn đề và mâu thuẫn mà vẫn không thể giải quyết chúng cho dứt điểm.

Bạn bị sốc. Mọi người liên tục vào gặp bạn để trình bày những vấn đề của họ. Khoảng 80% thời gian các cuộc gặp là vì những lý do tiêu cực: họ đang cố gắng đẩy vấn đề qua cho bạn hay họ muốn bạn giúp họ giải quyết.

Ban đầu, các quản lý mới cho rằng các yếu tố tiêu cực trong công việc là một âm mưu chống lại họ, là những hành động ích kỷ để thử thách họ, nhưng rồi họ cũng nhận ra rằng thủ phạm chính là bản thân công việc quản lý.

Như đã nói ở trên, các nhà quản lý cần hiểu rằng không phải nhân viên bán hàng nào cũng giàu nhiệt huyết và thạo việc như họ trước đây. Vì thế, trách nhiệm chính của nhà quản lý là uốn nắn các nhân viên có vấn đề mà hệ quả là tạo ra những cảm xúc tiêu cực cho cả nhà quản lý lẫn nhân viên đó: sợ hãi, lo lắng, thất vọng và tức giận.

Tôi là người nhiệt tình. Tôi có đạo đức nghề nghiệp. Tôi chính trực. Nhược điểm lớn nhất của tôi là thiếu thông cảm và khoan dung trước sự thiếu năng lực. Tôi không khéo xử lý những vấn đề tiêu cực mà mọi người gặp phải. Tôi sẽ phải khắc phục nhược điểm đó.

Doanh số quý này sụt giảm rõ rệt làm các nhân viên bán hàng không vui. Cá nhân họ sẽ gặp rắc rối vì họ không có thu nhập. Họ làm việc vất vả nhưng lại không kiếm ra tiền. Họ phàn nàn, tìm người đứng mũi chịu sào và luôn đòi được hỗ trợ nhiều hơn. Họ muốn làm tốt công việc và họ đang lúng túng. Bạn phải tìm cách động viên họ và nói: "Làm như vậy không được rồi. Anh thử làm thế này xem". Đôi khi cũng phải vừa đấm vừa xoa.

Các nhà quản lý không nên coi tất cả những nhân viên tìm đến họ đều là những nhân viên có vấn đề. Trên thực tế, nếu nhà quản lý và cấp dưới cùng làm việc trôi chảy, nhân viên sẽ chỉ đến gặp nhà quản lý khi nảy sinh những vấn đề mà họ không thể tự giải quyết. Khi một vấn đề được trình lên người quản lý, hẳn là vấn đề đó phải thật sự phức tạp hoặc rắc rối.

Cấp dưới chỉ nên đến gặp tôi trong vài trường hợp ngoại lệ, chứ không phải thường xuyên. Họ phải tự mình xử lý công việc hàng ngày, và chỉ những vấn đề lớn mới được đặt lên bàn của tôi.

50% công việc quản lý là đi chữa cháy và giải quyết vấn đề. Nhân viên đã cố gắng giải quyết công việc ở cấp độ của mình và khi họ không thể giải quyết được, họ sẽ đem đến cho bạn. Đó là vấn đề lớn và bạn phải dừng những việc khác để tập trung giải quyết cho xong.

Cô đơn

Tôi không còn là một người trong số họ. Không ai gọi tôi ra ăn trưa, cũng không ai tán chuyện với tôi. Tôi chỉ có một mình.

Dù phần lớn các nhà quản lý luôn khao khát sự độc lập và tự chủ, song họ thừa nhận họ cũng thích tụ tập và muốn tiếp xúc với mọi người. Đối với nhiều người, việc giao dịch với khách hàng và có các mối quan hệ thân thiết với đồng nghiệp là một nguồn vui lớn. Các nhà quản lý thường cảm thấy đơn độc, và đương đầu với sự cô đơn cũng là một thách thức lớn đối với họ.

Sự thay đổi nghề nghiệp thường gắn liền với cảm giác cô đơn, bởi quá trình chuyển đổi khiến người ta thấy bị lạc lõng khi không còn nhóm đồng nghiệp để cùng bàn bạc về những giá trị và tiêu chuẩn phù hợp. Có rất nhiều tài liệu viết về cảm giác bị cô lập của các nhà quản lý.

Một trong những nguyên nhân chủ yếu của cảm giác đó là một chuyên gia công nghệ đang ở đỉnh cao của lĩnh vực này bỗng bị đẩy xuống đáy sâu của lĩnh vực khác. Không còn là siêu sao nữa, anh ta trở thành kẻ chân ướt chân ráo đang tìm chỗ đứng. Tình thế khó xử này tạo cảm giác bị xa lánh, cô đơn, bất ổn, và họ băn khoăn không biết việc chuyển sang làm quản lý liệu có phải là một quyết định khôn ngoan.

Các nhà quản lý mới cũng hiểu rõ điều đó.

Giờ tôi đã thuộc về một nhóm khác. Tôi biết bây giờ tôi là một phần của ban lãnh đạo, nhưng tôi vẫn không có cảm giác của một nhà quản lý.

Tôi cảm thấy như đang ở giữa hoang đảo vậy.

Những cảm giác này đặc biệt sâu sắc đối với các nhà quản lý chi nhánh công ty chứng khoán. Là nhà quản lý chi nhánh duy nhất ở bộ phận và lại bị cách biệt với những đồng sự khác, anh ta đúng là đang "một mình lênh đênh trên biển cả".

Khi đưa ra những quyết định không được cấp dưới ủng hộ, họ lại càng cảm thấy bị cô lập. Họ đánh mất hình ảnh về một anh chàng đáng yêu sau khi nhận chức vụ mới.

Tôi lờ mờ nhận ra sự oán ghét và hăm dọa. Tôi nghĩ đó là điều lường trước được, bởi tôi là sếp và trong một chừng mực nào đó, tôi cũng có cảm giác ấy với cấp trên của mình. Nhưng tôi vẫn buồn vì mọi người không tin tưởng tôi và tỏ ra không thoải mái lúc ngồi trò chuyện với tôi. Họ không nói những gì họ thật sự đang nghĩ. Họ luôn giữ thái độ thăm dò. Đó là lần đầu tiên tôi cảm nhận được rằng mọi người không tin tôi.

Đối với hai nhà quản lý bán hàng của chi nhánh nơi họ từng là nhân viên, cảm giác cô đơn còn đi kèm với cảm giác bị từ chối. Những đồng nghiệp cũ của họ giờ đây có ý né tránh họ.

Tuy khó chịu với cảm giác cô đơn, nhưng đôi khi các nhà quản lý mới lại làm vấn đề thêm trầm trọng bằng chính lối cư xử của họ: nhiều người tìm cách dựng rào chắn bao bọc xung quanh để tránh tiếp xúc với những mặt tiêu cực trong công việc.

Tôi không muốn nghe thêm bất cứ tin xấu nào nữa nên để tự vệ, tôi đã bảo thư ký nghe các cuộc điện thoại của tôi, còn tôi đi vào phòng, đóng cửa lại và hít một hơi dài cho bớt căng thẳng.

Về phương diện nào đó tôi không muốn xây dựng mối quan hệ gần gũi, thân thiện quá. Như thế cảm giác bị từ chối chỉ càng lớn hơn sau khi bạn trở thành nhà quản lý.

Trên thực tế, nhà quản lý cần biết tách mình ra khỏi nhân viên, do họ phải đưa ra những quyết định không mấy dễ chịu, nhưng cần thiết. Vậy mà họ lại làm phức tạp thêm tình trạng khó xử của mình. Họ có rất nhiều mối quan hệ trong tổ chức, với bạn bè và đồng nghiệp cũ - những bằng hữu luôn hết lòng ủng hộ họ. Tuy nhiên, rất nhiều người không sẵn sàng làm điều đó, nhất là trong những tháng đầu tiên. Họ sợ rằng những lo lắng của họ về vị trí mới sẽ bị rò rỉ ra ngoài.

Tôi không mấy hào hứng khi trò chuyện với những người bạn cũ. Họ nghĩ tôi đang rất thoải mái ở vị trí mới. Nếu họ biết sự thật, họ sẽ nghĩ là tôi kém cỏi, thậm chí là kẻ gian lận để được thăng tiến nhanh hay sao đó. Hiện tại, tôi muốn giữ bí mật.

Trạng thái bất an đó đã lấy đi của họ sự hỗ trợ vô giá vào đúng lúc họ cần nó nhất. Nhưng họ không như họ tưởng.

Gánh nặng của vai trò lãnh đạo

Các nhà quản lý đang tìm hiểu về gánh nặng của vai trò lãnh đạo, áp lực của việc trở thành người có quyền và trách nhiệm cao nhất. Sự căng thẳng, tính tiêu cực, sự cô lập đều có giới hạn, trong khi công tác quản lý lại là một mối lo không có điểm dừng và không thể trốn chạy. Có ba chủ đề xuyên suốt các cuộc phỏng vấn là: quản lý rủi ro, làm gương và định đoạt cuộc sống nhân viên.

Quản lý rủi ro. Các nhà quản lý hiểu rằng vai trò của họ là quản lý rủi ro, cả rủi ro trong kinh doanh lẫn rủi ro về con người. Việc đưa ra quyết định trong các điều kiện chưa hoàn chỉnh như vậy đòi hỏi nhà quản lý phải có sự quả quyết, ý chí mạnh mẽ và cảm giác tự tin để thực thi quyền lực và gây ảnh hưởng.

Bạn phải sẵn sàng đối đầu với thử thách, nếu bạn làm việc liên quan đến con người. Bạn có thể bị sốc trước những lời nói hoặc thái độ của đồng nghiệp, nhưng bạn phải vượt qua và hành động với tài trí và phong cách của một nhà quản lý.

Bạn luôn là người đứng mũi chịu sào. Bạn cố gắng làm những điều tốt đẹp. Bạn cố gắng phát triển một nhân viên bán hàng và bạn nghĩ đó là sự đầu tư thời gian hợp lý. Nhưng cô ta lại quay lưng và rời khỏi công ty. Hay cô ta chỉ là kẻ chậm chạp và không bao giờ theo kịp tiến độ công việc? Khi ai đó làm sai, bạn có thể bị mất việc. Công ty muốn bạn làm rõ chuyện đó và lưu ý để việc này không lặp lại, dù cho điều đó gần như không thể. Đó là sự thất vọng lớn nhất của tôi, nhưng tôi phải học cách sống chung với nó.

Tôi phải tạo được lòng tin. Đó luôn là công việc khó khăn. Tôi nghĩ một trong những điều tôi khám phá ra là tôi – người phụ nữ luôn tin rằng nên ở nhà chăm sóc gia đình, chồng con và lo nội trợ thì hơn – bỗng nhiên phải đối diện với việc ra những quyết định liên quan đến rất nhiều người. Tôi đứng trước mặt những người đàn ông và nói với họ rằng họ nên làm cái này, cái kia. Tôi phải học cách xử trí những vấn đề này. Đó là quá trình phát triển. Tôi đang trưởng thành hơn trên cương vị quản lý của mình.

Rất nhiều nhà quản lý đã trở nên chín chắn hơn. Đến cuối năm, họ đã biết chấp nhận những hạn chế, sự kém hiểu biết và cả một số sai lầm của mình. Những kỳ vọng thiếu thực tế của họ đã giảm xuống. Họ trở nên thoải mái hơn khi thực thi quyền lực và gây ảnh hưởng.

Giờ đây, tôi tin tưởng vào các quyết định và khả năng xoay xở công việc của mình. Tôi không thể tính toán được-mất nếu chỉ dựa vào phân tích. Tôi nhận ra mình có thể mất thời gian nghiên cứu một vấn đề nào đó mà chẳng đi đến đâu. Việc thay đổi hướng chuyển động của quả bóng đang lăn sẽ dễ hơn đá một quả bóng đang đứng im. Việc bạn quyết định đá rồi vừa chạy đuổi theo vừa nói: "Tôi đã đá sai hướng. Tôi phải đá quả bóng trở lại sân" sẽ dễ hơn nhiều so với việc bạn quay lại vạch xuất phát và đá bóng theo hướng bạn muốn. Tôi đã kiên quyết hơn và sẵn sàng thừa nhận khuyết điểm của mình.

Là người đi tiên phong và mắc lỗi vẫn còn tốt hơn nhiều so với người chẳng làm gì để được an toàn. Công việc này đã dạy tôi cách sống chung với những rủi ro có thể lường trước.

Phương châm của tôi là sẵn sàng chấp nhận sai lầm và cả những quyết định chưa hoàn hảo. Nên nhớ là chúng không thể đưa bạn vào tù. Chúng chỉ có thể khiến bạn bị sa thải, nhưng đó chưa phải là ngày tận thế.

Các nhà quản lý đã tự tin vào khả năng đoán biết và chấp nhận rủi ro, cũng như biết cách chung sống với những rủi ro đó.

Làm gương. Các nhà quản lý sớm nhận ra rằng làm gương là một trong những trách nhiệm quản lý của họ. Hành động của họ sẽ tác động lâu dài đến nhận thức của mọi người. Họ không thể tự cho phép mình lách luật để tránh phiền phức hay vừa làm vừa chơi như khi còn là nhân viên bán hàng. Tuy nhiên, điều khó thực hiện nhất không phải là sự nghiêm túc và thận trọng trong mỗi hành động và lời nói, mà chính là việc chế ngự cảm xúc cá nhân. Ở văn phòng, họ luôn phải tỏ ra nhiệt tình và lạc quan. Nhân viên sẽ nhìn vào họ để giữ vững lòng tin, đặc biệt là trong những giai đoạn khó khăn.

Bạn không thể bi quan trong công việc. Tinh thần lạc quan của bạn có ảnh hưởng trực tiếp đến cảm giác của mọi người và cả nỗ lực làm việc của họ. Mỗi buổi sáng, tôi luôn phải đến văn phòng với một nụ cười trên môi và tâm trạng vui vẻ. Ban đầu, nhiều người bực bội và cằn nhằn về điều đó, nhưng tôi biết chỉ cần tôi tỏ ra kém vui thì họ sẽ căng thẳng ngay. Họ sẽ bắt đầu hỏi về nguy cơ, về những trở ngại và khả năng thất bại. Họ không muốn tôi lạc quan, nhưng lại cũng không muốn thấy tôi trong trạng thái chán nản.

Các nhà quản lý phải rất thận trọng khi bày tỏ sự giận dữ, lo lắng hay thất vọng, để làm sao vẫn giữ được sự chín chắn, tính chuyên nghiệp và độ trầm tĩnh.

Hồi tôi còn là nhân viên môi giới và gặp một ngày tệ hại, tôi lập tức bộc lộ ngay và tất cả mọi người đều biết. Tôi là người dễ xúc động và không biết cách che giấu thất bại. Mọi người sẽ an ủi tôi: "Ừ, như thế tệ thật. Thị trường sắp phát điên rồi!". Và tôi cảm thấy dễ chịu hơn. Nhưng bây giờ tôi đọc được những biểu hiện khác lạ trên gương mặt họ. Bạn có thể mường tượng họ thất vọng đến mức nào. "Chúng tôi có nên tin anh không đây?".

Nhân viên cấp dưới thường xem nhà quản lý là điểm tựa tinh thần giúp họ xoay xở mỗi khi bị áp lực.

Nếu họ thấy bạn lải nhải trách móc hay gầm rít lên, họ sẽ nghĩ đó là cách cư xử được chấp nhận khi họ chán nản, và mọi thứ sẽ nhanh chóng vượt khỏi tầm kiểm soát. Bạn phải uốn nắn họ bằng chính tác phong ứng xử chuyên nghiệp của mình. Bạn không thể luôn giải quyết mọi việc theo kiểu quen thuộc và tự do bộc lộ cảm xúc như trước đây. Bạn phải trở thành tấm gương cho họ trong việc xử lý mâu thuẫn, hãy xem xét vấn đề một cách khách quan và đừng tự ái.

Qua thời gian, các nhà quản lý đánh giá được tầm ảnh hưởng của mình thông qua các hành động thường nhật.

Thái độ phấn chấn hay bồn chồn của tôi khi ở văn phòng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến mọi người, và theo đó ảnh hưởng đến cả vợ con họ.

Định đoạt cuộc sống của nhân viên. Khi các nhà quản lý hiểu rằng họ có quyền lực và ảnh hưởng đối với cuộc sống và công việc của nhân viên, trách nhiệm của họ dường như trở nên nặng nề hơn.

Thật khó khăn khi phải đưa ra quyết định có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp và cả cuộc sống của một con người. Mỗi lần như thế là một lần tôi mất ngủ.

Tôi xem lại ảnh mình chụp khoảng một năm về trước. Lúc đó tôi còn chưa có những sợi tóc bạc này.

Có hai loại quyết định khiến các nhà quản lý phải trăn trở. Thứ nhất là khi phải áp dụng bất kỳ biện pháp kỷ luật nào. Trước khi sa thải một ai đó, họ đã dành nhiều thời gian và công sức để làm việc với những nhân viên đó và nhờ vậy mà họ hiểu nhân viên của mình hơn. Họ coi thất bại của nhân viên là thất bại của chính mình và mỗi sự ra đi của nhân viên là một trải nghiệm đầy cảm xúc.

Khó nhất là khi phải đối mặt với những sự việc ngoài ý muốn. Người mà bạn bắt đầu quý mến và tôn trọng lại quyết định ra đi. Bạn thấy tổn thương khi ai đó muốn chuyển đến một nơi khác. Bạn cảm thấy dường như mình đã làm điều gì đó không đúng.

Bạn vẫn cảm thấy mất mát dù bạn biết đó là cơ hội tốt mà họ không nên bỏ lỡ. Nhưng bạn không thể không tự vấn: "Tại sao tôi không thể cho họ một cơ hội như vậy?".

Loại quyết định thứ hai khiến nhà quản lý cảm thấy căng thẳng là những quyết định liên quan đến sự cân bằng lợi ích giữa cá nhân và tập thể.

Tôi không thể cho anh ta những gì anh ta muốn [một nhà môi giới rất thành công chỉ sau hai năm làm việc đã yêu cầu có thêm trợ lý]. Đó không phải là một yêu cầu phi lý bởi trợ lý của anh ta thật sự đang quá tải trước núi công việc ngày càng lớn. Nhưng tôi phải tính đến tác động của việc đó tới tập thể. Những người khác có lẽ cũng cần được hỗ trợ nhiều hơn và họ xứng đáng được như vậy. Nhưng nếu bạn phê chuẩn cho một người thì bạn sẽ không có nguồn lực nào để hỗ trợ cho những người khác. Bạn phải tính đến cục diện chung.

Các nhà quản lý chưa bao giờ phải xem xét tình huống mâu thuẫn trực tiếp giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Họ phải chấp nhận đánh đổi một người vì những giá trị lớn hơn của nhiều người khác.

Các nhà quản lý bắt đầu công việc với cả hai mắt đều nhìn về quyền lợi và những ưu đãi dành cho bậc quản lý, nhưng đến giờ họ đã hiểu rằng quyền lợi và đặc ân thậm chí còn đem lại cho họ nhiều nghĩa vụ và trách nhiệm hơn.

Cuộc sống cá nhân của các nhà quản lý mới

Sự thăng tiến trong công việc ảnh hưởng như thế nào đến đời sống cá nhân của các nhà quản lý mới? Họ chỉ tiết lộ rất ít thông tin liên quan đến cuộc sống bên ngoài tổ chức. Có cảm giác dường như họ không hề biết đến thứ gì khác, ngoài công việc.

Trong vòng nửa năm đầu tiên, các nhà quản lý tập trung mọi nỗ lực để thực hiện vai trò mới của mình và rất nhiều người cho biết họ đã ít nhiều xao nhãng cuộc sống gia đình.

Trong văn hóa công ty, hiệu quả công việc phải luôn là vấn đề hàng đầu, không có bất kỳ ngoại lệ nào. Bạn phải làm việc với sự cố gắng cao nhất, dù ở nhà bạn phải chịu sức ép như thế nào.

Đa số họ đều cảm thấy có lỗi với người thân vì "đã vắng mặt khi gia đình cần đến họ nhất". Trong số những người được phỏng vấn chỉ có hai người không phải thay đổi địa điểm làm việc sau khi được thăng chức. Dù gia đình họ đồng ý chuyển đi, nhưng phần lớn thừa nhận họ không vui vẻ lắm.

Không chỉ xao nhãng trách nhiệm đối với gia đình, các nhà quản lý mới còn thường xuyên quên nhu cầu giải trí và thư giãn của chính mình. Một nhà quản lý mô tả mình như "một người bận đến tối tăm mặt mũi" và đã vẽ biểu đồ phân chia "công việc, gia đình và bản thân" như sau:

4

Trong những tháng đầu tiên đảm nhận công việc mới, nhà quản lý thường có rất ít thời gian để hưởng thụ cuộc sống. Phần lớn họ đều nhận thức được rằng lối sống quá mất cân bằng giữa công việc và cuộc sống riêng tư sẽ dẫn đến những hậu quả tai hại, và họ cần những khoảng thời gian để "dừng lại và tận hưởng hương thơm của những đóa hồng". Một số buộc bản thân phải dành ra những khoảng thời gian nhất định không nghĩ đến hay làm bất cứ điều gì dính dáng đến công việc. Một số khác giữ thói quen tập thể dục đều đặn. Dù lịch công tác thường xuyên bị thay đổi, họ vẫn tận dụng mọi cơ hội để duy trì việc rèn luyện sức khỏe.

Việc được thăng tiến lên cấp quản lý đã làm thay đổi quan niệm của họ cả về công việc lẫn cuộc sống. Nhiều người nhận thấy quan niệm của họ về những giá trị trong cuộc sống, cũng như những kế hoạch đặt ra trong công việc và cuộc sống cá nhân, đã có sự thay đổi mà họ không hề biết. "Điều gì quan trọng nhất với mình? Đâu là ý nghĩa cuộc sống?". Kết thúc năm đầu tiên, các nhà quản lý bắt đầu vạch ra những mục tiêu nghề nghiệp và cá nhân. Trở thành một nhà quản lý là quyết định làm thay đổi cả cuộc đời, như có người đã phát biểu.

Tôi phải cố gắng duy trì sự cân bằng giữa cuộc sống cá nhân và công việc, giữa sự thành đạt và hạnh phúc. Đối với tôi, gia đình và cậu con trai nhỏ là quan trọng nhất. Tôi phải dành cho họ nhiều thời gian hơn, chứ không chỉ vài khoảnh khắc ngắn ngủi mỗi ngày. Sau cuộc phỏng vấn này, tôi sẽ về nhà. Hôm nay, con trai tôi tham gia trong một trận đấu bóng và tôi đã bảo là tôi không thể đến xem nó đá bóng được. Nhưng tại sao tôi lại không thể đi xem chứ? Có điều gì quan trọng hơn thế đâu?

Tuy còn đôi chút do dự, nhưng nhà quản lý này vẫn quyết định về nhà. Cuộc điều tra này cho chúng ta thấy thật không dễ dàng để các nhà quản lý nhận thức được những nhu cầu thật sự cần thiết đối với họ, từ đó tìm ra biện pháp cân bằng giữa các nghĩa vụ trong cuộc sống cá nhân và công việc.

KẾT LUẬN

Đến cuối năm, tuy các nhà quản lý chưa hoàn toàn tự tin trên cương vịmới, nhưng nhiều người khẳng định rằng họ có thể vượt qua trở ngại đó. Đôi khi họ vẫn còn cảm giác phân vân liệu họ có phải là người đứng đầu và chịu trách nhiệm về mọi việc trong bộ phận không. Hãy lưu ý đến từ "cảm giác". Các nghiên cứu cho thấy những ai xem khó khăn như các cơ hội có thể kiểm soát được sẽ đương đầu với chúng tốt hơn so với những người xem đó là mối đe dọa thuần túy. Thật vậy, khi các nhà quản lý cảm thấy bất an hoặc muốn giữ thế phòng thủ, họ lại rút vào lớp áo giáp quen thuộc và dễ chịu của một nhân viên.

Mặc dù đó là một năm khó khăn và luôn nghi ngờ bản thân, nhưng các nhà quản lý mới vẫn tỏ ra kiên trì. Những áp lực của việc chuyển đổi dần giảm xuống. Tất nhiên những căng thẳng vốn có trong vai trò quản lý vẫn còn đó, nhưng đa số đã không cảm thấy mệt mỏi khi đối diện với chúng. Nhiều người còn nói họ rất hài lòng khi phát hiện ra những nội lực mà họ chưa bao giờ nghĩ là mình có. Sau một năm đương đầu với áp lực, họ đã có một tài sản quý giá là lòng tin và "biết tính cách con người được tạo nên từ cái gì".

Các nhà quản lý cũng phải đương đầu với những tình huống ngoài tầm kiểm soát vốn là nền móng cho sự nghiệp của họ sau này. Các nhà lãnh đạo kỳ cựu đều thừa nhận rằng kinh nghiệm làm việc từ những ngày đầu tiên luôn giữ vai trò quan trọng trong sự thăng tiến của họ về sau.

Việc vượt qua những thử thách đầu tiên khiến các nhà lãnh đạo tương lai có thêm lòng tự tin. Nhưng những công việc đầu tiên có thể tác động mạnh mẽ đến cảm giác, giúp họ đảm đương những công việc khó khăn hơn về sau với tinh thần không lùi bước trước khó khăn.

Vì sao mọi người lựa chọn công việc quản lý để lãnh đạo những người khác? Quản lý là việc rất khó để làm tốt, ngay cả trong những điều kiện thuận lợi nhất. Chính những yêu cầu và cam kết cá nhân mà nó đòi hỏi đã khiến công việc trở nên phức tạp. Đa số các nhà quản lý trong nghiên cứu này đã tạo được cho mình nền tảng cơ bản để đối phó với những thách thức đó.

  • Previous
  • 1
  • More pages
  • 12
  • 13
  • 14
  • More pages
  • 22
  • Next