“Cuộc đời của mỗi người đều có những chương được viết bởi công trạng của người khác mà đôi khi chính ta cũng không hề hay biết.”
- G. Guyau
Giáng sinh năm ngoái, vợ chồng con trai tặng tôi bức tượng nhỏ bằng đá hoa cương rất đẹp, dưới bệ có khắc dòng chữ “Thiên thần can đảm”. Kèm theo bức tượng đáng yêu ấy là tấm thiếp nhỏ với lời nhắn, “Mẹ là người phụ nữ can đảm nhất mà tụi con từng biết”.
Tôi rất vui khi nhận được lời khen ấy. Suốt cuộc đời mình, tôi luôn cố tỏ ra là người mẹ cứng cỏi và nghị lực. Nhưng đó chỉ là “tấm áo đẹp” tôi khoác lên bên ngoài, ẩn trong tôi là một tâm hồn nhút nhát, thậm chí là yếu đuối. Hồi mẫu giáo, tôi không bao giờ dám bước lên sân khấu múa hát như các bạn. Đến khi lên cấp ba, tôi cũng chỉ chơi thân với một nhóm bạn gái cùng lớp. Tôi nghĩ nếu biết được những chuyện này, chắc chắn các con sẽ không dành tặng cho tôi danh hiệu đáng tự hào như thế.
Nhưng mọi chuyện đã hoàn toàn thay đổi từ khi tôi gặp anh - tình yêu đầu tiên và duy nhất của đời tôi.
Chồng tôi cũng chưa bao giờ tự nhận mình là người can đảm. Trong suy nghĩ của anh, người hùng phải là một quý ông hấp dẫn, cao to và điển trai. Còn anh chỉ có dáng vẻ rắn chắc của một người thường xuyên làm việc nặng nhọc, với mái tóc màu đỏ quạch và khuôn mặt đầy tàn nhang. Một chân của anh bị tật từ nhỏ nên anh đi đứng hơi khó khăn, nhưng điều đó chưa bao giờ cản trở anh làm bất kỳ công việc nào.
Cha mẹ anh qua đời năm anh lên sáu. Từ đó, năm anh chị em của anh phải ly tán, mỗi người dọn đến sống nhờ tại nhà của một người bà con khác nhau, ở các bang khác nhau. Anh sống với chú thím - một cuộc sống nghèo khó nhưng êm đềm. Dù vậy, số phận lại một lần nữa giáng cho anh nỗi mất mát đắng cay. Năm mười bốn tuổi, anh lại chịu cảnh mồ côi khi cả chú và thím đều qua đời trong một tai nạn giao thông. Kể từ đó, anh bắt đầu bươn chải để tự nuôi sống bản thân.
Tôi quen anh khi anh đang là người phụ việc tại một cửa hàng tạp hóa. Trong khi tôi vô tư sống cuộc đời êm đềm, không ưu phiền thì anh phải làm việc cật lực để vừa tự lo miếng ăn vừa trang trải học phí. Ở trường, anh học rất giỏi, thông minh nhưng lại khá bướng bỉnh.
Anh luôn là người bảo vệ tôi. Còn nhớ một lần trên đường đi học về, một nhóm con trai nổi tiếng quậy phá trong trường chạy đến giật chiếc nón của tôi khiến tôi khóc rấm rứt. Khi ấy, anh đứng trước mặt kẻ gây hấn và đường hoàng yêu cầu hắn trả nón lại cho tôi. Kết quả của hành động anh hùng ấy là anh ra về với khuôn mặt bầm dập vì bị đánh, song anh vẫn nhìn tôi cười rất tươi.
Khi Thế chiến II nổ ra, anh gia nhập hải quân. Ngày 4 tháng Năm năm 1945, con tàu của sư đoàn của anh bị đánh chìm tại bờ biển Nhật. Một trăm năm mươi đồng đội của anh đã hy sinh, còn anh phải nằm viện để điều trị vết thương trong suốt nửa năm. Anh là thương binh nặng nhất phòng bệnh lúc ấy, nhưng cũng là người giỏi chịu đựng nhất. Tinh thần lạc quan và ý chí kiên cường của anh cuối cùng đã chiến thắng, và anh trở lại cuộc sống đời thường.
Chúng tôi kết hôn năm anh tròn hai mươi tám tuổi, và từ đó trở đi tôi không bao giờ phải lo lắng điều gì nữa. Tất cả mọi gánh nặng đã có anh đứng ra gánh vác và lo liệu hết. Con gái đầu lòng của chúng tôi mất khi vừa mới chào đời. Tôi biết anh là người đau khổ nhất bởi từ lâu anh vẫn luôn khao khát một mái ấm gia đình rộn ràng tiếng cười trẻ thơ. Dù trong lòng tan nát nhưng anh vẫn nhẹ nhàng an ủi tôi, “Vững vàng lên em ạ. Vợ chồng mình sẽ cùng nhau vượt qua và xây dựng một tổ ấm hạnh phúc”.
Và đúng như anh nói, chúng tôi đã có với nhau bốn cậu con trai. Anh lao vào làm việc cật lực với mục tiêu duy nhất là lo cho các con ăn học thành tài.
“Anh chỉ mong cuộc đời của các con sung túc hơn cuộc đời chúng ta”, anh nói.
Khởi đầu từ vị trí công nhân lắp ống nước với mức lương 1,25 đô-la một giờ, anh đã phấn đấu trở thành thợ máy chính được mọi người tôn trọng và tín nhiệm. Khi cuộc sống của chúng tôi thoải mái hơn, anh vẫn hàng ngày cần mẫn làm việc.
“Lỡ có chuyện không hay xảy ra với anh, anh không muốn em phải đi cọ rửa sàn nhà để kiếm sống”, anh vẫn hay nói nửa đùa nửa thật với tôi như thế.
Nhưng tôi không ngờ có ngày lời nói của anh cũng trở thành sự thật. Ngày biết tin anh bị ung thư vòm họng, tôi suy sụp hoàn toàn. Anh nhai và nuốt thức ăn rất khó khăn, nhưng cũng như những thử thách trước đây, anh vẫn hàng ngày đối mặt với bệnh tật bằng tinh thần lạc quan. Các tế bào ung thư đã di căn và không thể phẫu thuật được nữa. Anh bình tĩnh đón nhận cũng như chấp nhận tin dữ đó mà không một lời than vãn.
Tôi tin mỗi người đều trải qua một khoảnh khắc định mệnh mà từ đó, cuộc đời chúng ta hoàn toàn thay đổi. Đối với chồng tôi, khoảnh khắc đó là năm anh sáu tuổi. Thượng đế đã mang cha mẹ anh đi, nhưng mất mát đó lại khiến anh trở nên dũng cảm và mạnh mẽ hơn. Còn khoảnh khắc định mệnh của đời tôi là giây phút tiễn chồng mình rời khỏi thế giới này. Tôi đứng cạnh anh trong khi anh cố gắng đưa tay lên trán để chào vĩnh biệt tôi theo kiểu quân đội. Rồi với nụ cười trong làn nước mắt, anh kéo tôi lại gần và hôn lên trán tôi lần cuối.
Dù sinh ra với nhiều nỗi buồn nhưng anh vẫn sống một cuộc đời lạc quan và can đảm. Mất anh, tôi mất đi chỗ dựa vững chắc, nhưng cũng từ mất mát đó, tôi được truyền thêm lòng nhiệt huyết dành cho cuộc sống. Tôi nghiệm ra rằng chúng tôi có thể vượt qua mọi thử thách nếu thật sự tin vào bản thân. Giờ đây tôi đã dám bước ra khỏi vòng tròn “bình yên” của mình.
Năm vừa rồi, ở tuổi bảy mươi lăm, tôi quyết định ghi danh vào một khóa học viết lách với toàn những người trạc tuổi cháu mình. Tôi đã dám viết ra những câu chuyện chân thật từ tận đáy lòng và đứng trước cả lớp để kể những câu chuyện đó, dù cho hai đầu gối của tôi run lập cập. Tôi cảm nhận được sự hiện diện của chồng mỗi ngày. Đó là những lúc tôi nghĩ đến mất mát mà anh đã phải chịu đựng và cách anh luôn cố gắng vượt lên số phận. Thông qua cách nhìn và tấm gương của anh, tôi học cách đi tìm điều tốt đẹp trong mọi hoàn cảnh.
Nếu điều đó biến tôi trở thành thiên thần can đảm trong mắt các con, thì tôi xin nhận lời khen tặng này với niềm sung sướng và lòng biết ơn vô hạn đối với cuộc sống, vì cuộc sống đã trao tặng tôi một người thầy tuyệt vời.