Nhà tâm lý học nổi tiếng David Lykken định nghĩa năng lượng trí tuệ là "khả năng tư duy có hiệu quả trong thời gian dài để tìm ra giải pháp mà không bị phân tâm".
Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng không cần phải là tài năng thiên bẩm, con người vẫn có thể đạt thành tích xuất sắc trong bất kỳ lĩnh vực nào, một khi tập trung ý chí và biết luyện tập đúng cách. Một vài cuộc nghiên cứu cho thấy muốn đạt kỹ năng thành thục bạn phải mất ít nhất 10.000 giờ tập luyện trong thời gian tối thiểu 10 năm. Sự tập trung cao độ và liên tục là yếu tố quan trọng, chỉ xếp sau động lực. Còn việc tập trung ý chí rất khó và tốn năng lượng. Con người vốn luôn cảnh giác, thận trọng và sẽ chú ý ngay đến bất kỳ hiểm họa hay mối đe dọa tiềm tàng nào. Cuộc sống ngày càng có nhiều thứ khiến chúng ta phân tâm. Mặc dù hầu hết là chuyện vặt, chỉ có một vài chuyện thực sự đáng lưu tâm, nhưng ta vẫn thường bị thu hút vào đó.
Có hai hình thức phân tâm làm đứt quãng sự chú ý. Một là sự phân tâm bên trong, tức là những tiếng nói vô tận trong tâm trí, và hai là sự phân tâm bên ngoài, tức là những gì diễn ra xung quanh ta. Con người phải đấu tranh với cả hai, nhưng dường như ít có khả năng ảnh hưởng đến hình thức phân tâm thứ hai. Căn cứ vào những nhu cầu đa dạng của công việc, nhiều khách hàng nói với chúng tôi rằng sự phân tâm bên ngoài đơn giản chỉ là một phần của cuộc sống và điều đó không nằm trong tầm kiểm soát của họ.
Theo thống kê, nguyên nhân phân tâm phổ biến ở hầu hết các cơ quan chính là e-mail. Giữa hàng loạt e-mail nhận mỗi ngày, chúng ta không biết đâu là e-mail quan trọng, đâu là e-mail quảng cáo. Chỉ riêng quyết định nên xóa những e-mail nào cũng tốn khá nhiều thời gian. Ít nhất 1/3 nhân viên cho biết họ kiểm tra e-mail suốt cả ngày.
Vì sao e-mail lại khiến chúng ta chú ý đến vậy? Khách hàng nói với chúng tôi rằng có hai lý do chính khiến họ cảm thấy bắt buộc phải kiểm tra e-mail thường xuyên. Thứ nhất, họ cần theo dõi công việc để đảm bảo đạt kết quả tốt nhất. Thứ hai là để thỏa mãn sự kỳ vọng của công ty rằng yêu cầu của khách hàng sẽ được hồi âm nhanh chóng.
Phản xạ có điều kiện bắt buộc ta phải trả lời lại âm thanh báo hiệu. Không chú ý đến tín hiệu báo e-mail mới cũng giống như phớt lờ tiếng chuông điện thoại, một hộp bánh sô-cô-la hấp dẫn hoặc một đứa trẻ đang khóc. Bởi vì hành động cưỡng lại đó là phản trực giác, đòi hỏi bạn phải có ý chí. Ý chí tựa như một cái hồ chứa nước, sẽ vơi dần sau mỗi lần sử dụng. Khi có điều gì đó thu hút sự chú ý, phản hồi là cách khỏi phải hình thành sự kháng cự.
Điều duy nhất khiến đa số mọi người sợ hãi hơn cả việc nhận hàng loạt e-mail mới trong hộp thư là… chẳng nhận được e-mail nào! Chúng ta luôn muốn được người khác cần mình.
Tâm lý bắt buộc phải trả lời e-mail chính là sự phản ánh nhu cầu được kết nối, từ đó chúng ta sẽ cảm thấy hiệu quả trong một thời gian ngắn với nỗ lực tối thiểu. Trả lời e-mail cũng là một cách để tránh căng thẳng khi tập trung liên tục vào những công việc mang tính thử thách cao. Kiểm soát sự tập trung hóa ra liên quan mật thiết đến khả năng hoãn lại sự thỏa mãn cá nhân.
Hãy quan sát những đứa trẻ mới chập chững biết đi, bạn sẽ thấy bọn trẻ thường chuyển sự chú ý chớp nhoáng từ vật này sang vật khác. Như vậy, sự tập trung không phải là bản tính bẩm sinh. Trẻ có nhiều cảm xúc cơ bản, nhưng chưa có những khả năng mà chỉ khi phần thùy trước trán phát triển hoàn thiện mới đem lại. Trẻ con muốn có ngay lập tức những gì chúng muốn. Tuy nhiên, nếu tình trạng này tiếp tục kéo dài trong cuộc đời của trẻ thì lại là một điềm báo không mấy tốt đẹp. Khả năng kiểm soát sự tập trung sớm là nhân tố chính để đạt được sự thành công và thỏa mãn về sau.
KHẢ NĂNG HOÃN LẠI SỰ THỎA MÃN CÁ NHÂN
Nhà tâm lý học Walter Mischel đã chứng minh hiện tượng trên trong một cuộc thí nghiệm "kẹo xốp dẻo" nổi tiếng vào cuối những năm 60 tại một nhà trẻ tư ở Palo Alto, California, nơi cả ba cô con gái của ông theo học.
Mục đích của Mischel là tìm hiểu xem điều gì khiến cho một số trẻ có khả năng hoãn lại sự thỏa mãn cá nhân, còn những trẻ khác thì không. Ông đã đưa ra một thử thách cho 650 trẻ nhỏ ở độ tuổi 4 đến 5 bằng cách đặt đĩa kẹo trong phòng. Mỗi trẻ có cơ hội ăn hai viên kẹo, nếu chịu khó chờ ông quay trở lại, nhưng không biết khi nào. Nếu thấy không thể chờ được nữa, trẻ có thể rung chuông và ông sẽ vào phòng rồi đưa cho trẻ một viên kẹo. Đa số trẻ rung chuông khi chưa được ba phút và chấp nhận ăn chỉ một viên. Tuy nhiên, có 30% em chờ được 15 phút cho đến khi ông trở vào phòng.
Sự phân biệt giữa nhóm trẻ không thể chờ đợi và nhóm trẻ có thể chờ ngày càng rõ ràng. Điều đó liên quan đến sự tập trung. Nhóm trẻ không thể chờ đợi là những trẻ không cưỡng lại được sự cám dỗ nên cứ dán chặt mắt vào viên kẹo. Kết quả là chúng nhanh chóng đốt cháy năng lượng ý chí và kỷ luật vốn ít ỏi. Nhóm trẻ có thể chờ đã làm nhiều cách để tránh chú tâm vào đĩa kẹo như xoay ghế, nhắm mắt, hoặc tự làm mình phân tâm bằng cách hát hoặc chơi một trò nào đó.
Nhóm trẻ này đã biết cách đẩy viên kẹo và sự thèm muốn được ăn viên kẹo đó ra khỏi nhận thức của mình. Mischel gọi kỹ năng này là "phân phối sự tập trung một cách có chiến thuật". "Nếu bạn cứ nghĩ về viên kẹo và sự thơm ngon hấp dẫn của nó, bạn sẽ muốn ăn ngay lập tức. Điều trước tiên là bạn phải cắt suy nghĩ đó đi", Mischel nói.
Đây là khi sự tập trung và xúc cảm hòa lẫn vào nhau. Đối với hầu hết trẻ con, kẹo dẻo gợi sự thèm muốn cao độ, lấn át khả năng suy nghĩ của chúng. Điều này cũng giống như nỗi sợ hãi tột độ thúc đẩy phản ứng chiến- hoặc-lùi. Mischel gọi đó là "sự kích thích hấp dẫn". Sự kích thích (nỗi sợ hãi và ước muốn) càng cao thì chúng ta càng khó chế ngự sự tập trung và cuối cùng là hành vi của mình. Mischel cho biết: "Trẻ con chỉ hành động theo bản năng. Chúng không có khả năng chờ đợi bất cứ điều gì. Chúng muốn gì là muốn có ngay".
Hơn mười năm sau, vào năm 1981, Mischel gửi một bảng câu hỏi đến cha mẹ và thầy cô giáo của các trẻ trong cuộc thí nghiệm trên để tìm hiểu xem bọn trẻ đã lớn lên như thế nào. Kết quả, nhóm trẻ có khả năng hoãn lại sự thỏa mãn cá nhân hồi bốn tuổi trở nên tự tin, độc lập, kiên nhẫn và tạo được sự tin tưởng từ người khác. Chúng cũng xây dựng được các mối quan hệ bạn bè lâu bền hơn và nhanh chóng vượt qua căng thẳng. Nhóm trẻ còn lại có tính bướng bỉnh, thiếu quyết đoán, hay tự chỉ trích, phẫn nộ và dễ căng thẳng.
Vì sao một số trẻ em và cả người lớn có khả năng kiểm soát sự tập trung tốt hơn những người khác? Mischel và đồng sự cuối cùng đã khám phá ra mối tương quan mật thiết giữa cách phản ứng của những đứa trẻ mới biết đi khi tách khỏi mẹ lúc 19 tháng tuổi và cách biểu hiện trong cuộc thí nghiệm với kẹo dẻo của chúng lúc lên năm. Những bé khóc nhiều nhất khi mẹ rời đi sẽ khó kìm nén ham muốn trước viên kẹo khi lớn lên. Trong cả hai trường hợp, có thể cho rằng bọn trẻ đòi hỏi phải có ngay thứ chúng khao khát và không thể làm gì nếu chưa có được thứ đó.
Trẻ càng dạn dĩ càng dễ xa mẹ để khám phá thế giới xung quanh. Thiếu vắng cái mà nhà tâm lý học phát triển Erik Erikson gọi là "lòng tin cơ bản"(2), những trẻ 19 tháng tuổi sẽ khóc đòi mẹ vì sợ rằng mẹ sẽ không bao giờ trở lại nữa. Những trẻ năm tuổi nhút nhát chọn một viên kẹo để thỏa mãn tức thì mong muốn tương tự về một điều ngọt ngào và êm dịu. Sự lựa chọn này hứa hẹn sẽ làm cho trẻ cảm thấy dễ chịu ngay lập tức, và chúng chỉ cần có thế. Những đứa trẻ dạn dĩ, ít bị nỗi sợ hãi tác động, có khả năng tránh tập trung vào viên kẹo để chờ nhận một phần thưởng lớn hơn sau đó. Thùy trước trán hoạt động mạnh hơn vùng amygdala.
Nhà tâm lý học người Hungary Mihaly Csikszentmihalyi nhấn mạnh vấn đề này trong cuốn Flow (Dòng chảy): "Chính nỗi lo lắng sẽ làm tổn hao năng lượng tinh thần, bởi trong cuộc sống hàng ngày, chúng ta thường cảm thấy bị đe dọa. Bất cứ khi nào có cảm giác này, ta cần thức tỉnh bản thân để đưa nhận thức trở về, như vậy, ta có thể xác định được mối đe dọa đó có thật sự nghiêm trọng hay không, từ đó tìm cách xử lý". Ngược lại, càng thấy an tâm, ta càng tập trung hơn vào những mục tiêu dài hạn. Ông lý giải: "Ý thức bản thân vốn là nguồn gốc phổ biến nhất của sự phân tâm". Mối lo âu bên trong, tùy theo mức độ khác nhau, là do bẩm sinh, nhưng rõ ràng tình cảm gắn bó có ảnh hưởng sâu đậm đến cảm giác an tâm của mỗi người.
Đây là một bài học sâu sắc dành cho các bậc cha mẹ, giáo viên, các nhà quản lý và lãnh đạo. Nếu muốn con cái hoặc học sinh của mình có khả năng hoãn lại sự thỏa mãn cá nhân và chú tâm có hiệu quả, bạn phải mang lại cảm giác được quan tâm và an toàn cho chúng. Chúng ta dựa trên nguyên tắc tương tự trong công việc. Chẳng hạn như trong trường hợp e-mail, nhiều khách hàng đã tắt e-mail trong một khoảng thời gian xác định để chú tâm hơn vào việc quan trọng nhất. Họ đã gạt được sự phân tâm để hoàn toàn tập trung giải quyết việc trước mắt.
ƯU TIÊN SỰ TẬP TRUNG
Không chỉ có e-mail mới làm gián đoạn sự tập trung. Chúng ta tự khiến mình bị phân tâm bằng cách xử lý nhiều việc cùng lúc, mở vài cửa sổ trên máy tính, và chú tâm vào việc không khẩn cấp, mà không cân nhắc xem việc mình đang làm có thực sự quan trọng hay không. Hãy giả sử rằng bạn có thể học cách chống lại sự phân tâm và chỉ làm một việc trong một thời điểm thì bạn vẫn đối mặt với một thách thức chủ yếu: nên tập trung vào đâu? Đây cũng là câu hỏi mà chúng tôi đã đặt ra cho khách hàng, một phần là do ít khi nào họ dừng lại để hỏi bản thân điều đó. Thông thường, phản ứng đầu tiên mà chúng tôi nhận được là sự im lặng khó chịu. Ít ai dành thời gian để suy nghĩ thấu đáo về điều đó. Sau khi suy nghĩ một lúc, họ đều có chung câu trả lời: bất kỳ lúc nào có thể, tôi phải chú tâm vào việc quan trọng nhất.
Rõ ràng, hành động ưu tiên - tập trung vào những gì có thể đem lại giá trị tốt nhất trong thời gian dài - không tự nhiên đến, mà đòi hỏi cả ý thức lẫn chủ định của chúng ta.
Để làm được điều đó, thứ nhất là ưu tiên làm những việc quan trọng vào đầu mỗi buổi sáng đến công ty, bởi đây là thời điểm mà hầu hết mọi người cảm thấy tỉnh táo và tràn đầy năng lượng. Thứ hai là định ra thời gian hoàn thành, tốt nhất trong khoảng 45 đến 90 phút cho mỗi việc. Đối với những việc đòi hỏi sự tập trung cao độ, bạn có thể tránh sự phân tâm bằng cách tắt e-mail, không trả lời điện thoại, ngoại trừ chuyện khẩn cấp thực sự. Cuối cùng là có thời gian phục hồi sâu, nhất là sau khi dành hết sức lực cho nhiệm vụ khó khăn. Như vậy, chúng ta có thể hoàn thành nhiều việc, không lo lắng về những việc phát sinh trong ngày và tránh kiệt sức vào cuối ngày.
TỊNH TÂM
Bên cạnh việc học cách tránh sự phân tâm bên ngoài, chúng ta còn phải học cách giải quyết những cuộc đối thoại không ngừng diễn ra bên trong tâm trí. Thực ra, trí óc cũng có suy nghĩ riêng. Thậm chí ngay cả khi đang làm việc, sự chú ý của ta thường hướng về quá khứ và tương lai: hy vọng và nuối tiếc, sợ hãi và thích thú, mơ mộng và thất vọng, tham vọng và cầu an. Khả năng tập trung tuyệt đối vào hiện tại – thực hiện mỗi lúc một việc – là một thách thức đối với việc thiền định từ hàng ngàn năm nay.
Muốn hiểu được hoạt động của tâm trí, bạn hãy lấy giấy bút ra, chọn một chỗ ngồi thật thoải mái, rồi nhắm mắt lại và tập trung vào hơi thở của mình. Đừng suy nghĩ đến bất cứ việc gì, chỉ chú ý đến việc hít vào thở ra mà thôi. Cứ thực hiện như vậy trong khoảng hai phút. Bạn có thể đặt cuốn sách này xuống và bắt đầu ngay. Khi nào xong, hãy cầm sách đọc tiếp.
Vậy là bạn đã hoàn thành phần đầu tiên của bài thực hành. Bây giờ, bạn hãy ghi lại tất cả những gì mà bạn đã nghĩ đến trong hai phút vừa qua.
Nếu cũng giống như 95% khách hàng của chúng tôi, bạn vừa ghi ra một danh sách khá dài về những gì đã diễn ra trong tâm trí. Có thể trong khi tập trung vào hơi thở, bạn nghĩ về cảm giác của mình hoặc tự hỏi không biết đã đủ hai phút chưa. Có thể bạn nghĩ đến việc khác như chú ý tiếng động trong phòng, nhớ ra một việc gì đó cần làm, lo lắng công việc trễ thời hạn. Có thể bạn chú ý đến một chỗ bị đau trên cơ thể, hoặc nghĩ về một người nào đó. Và cũng có thể bạn chỉ trích bản thân vì suy nghĩ vẩn vơ quá nhiều, hoặc tự hỏi những người khác khi làm bài thực hành này có gặp khó khăn trong việc tập trung như bạn hay không.
Câu trả lời cho câu hỏi cuối cùng là có. Hiếm ai có thể tập trung tuyệt đối vào hơi thở. William James nhận thấy rằng tâm trí con người không thể tập trung vào bất kỳ một sự vật nào quá vài giây. Chính xác hơn, họ không thể làm vậy nếu không có sự tập luyện bài bản.
Luyện khả năng tập trung giống như luyện tập cơ bắp vậy: tập hết sức rồi thả lỏng. Tập hết sức ở đây có nghĩa là chỉ chú tâm vào một việc trong một thời điểm. Nhiều người xem thiền định là tập luyện tinh thần nhưng ở cấp độ cao hơn. Thực ra, đây chỉ là luyện tập khả năng tập trung. Hình thức cơ bản nhất thường được nhắc đến là "thiền chỉ". Có nhiều kiểu tập luyện, nhưng cách đơn giản nhất là ngồi một chỗ, tư thế thật thoải mái và đếm hơi thở. Hầu hết mọi người đều thấy việc này dễ hơn là tập trung vào hơi thở. Hít thở càng sâu thì càng cảm thấy thư giãn và càng dễ tập trung vào một việc cụ thể nào đó, ví dụ như đếm hơi thở.
Để trải nghiệm sự khác nhau giữa việc đếm và tập trung vào hơi thở. Hít vào bằng mũi và đếm từ một đến ba, rồi thở ra bằng miệng và đếm từ một đến sáu. Chỉ tập trung đếm và làm như vậy khoảng 30 giây hoặc sáu lần thở. Bây giờ bạn có thể đặt sách xuống và bắt đầu.
Lần này, bạn cảm thấy dễ tập trung hơn vào hơi thở. Đó là do bạn đã có đối tượng cụ thể để chú ý. Hơn nữa, thở ra thật chậm đem lại sự thư giãn sâu. Cuối cùng là bạn thực hành chỉ trong 30 giây thay vì một, hai phút. Hầu hết các giáo viên dạy thiền đều khuyên học viên thực hành mỗi lần ít nhất 20 phút. Nhưng chúng tôi cho rằng yêu cầu quá cao lúc mới bắt đầu tập luyện thì thường phản tác dụng.
GIỮA NỖI CHÁN CHƯỜNG VÀ LO LẮNG
Gặp việc dễ, chúng ta lơ đễnh vì thấy chán chường; nhưng gặp việc khó, lại bấn loạn vì lo lắng. Chú tâm vào hơi thở trong 20 phút liên tục sẽ làm cho những người mới bắt đầu tập thiền vừa chán vừa lo khi thấy tâm trí mình lan man. Thay vào đó, tập trung cao độ trong khoảng 30 hoặc 60 giây sẽ đạt hiệu quả tốt hơn. Khi đã có thể tập trung hoàn toàn trong 60 giây, bạn có thể tăng thêm thời gian thực hành, cũng giống như tăng dần trọng lượng quả tạ khi tập cơ bắp.
Hình thức thứ hai - "thiền quán" - là cách quan trọng để luyện sự tập trung. Thay vì tịnh tâm, thiền quán đề cao ý thức. Khi ý nghĩ và cảm giác trỗi dậy, ta ghi nhận từng điều một và sau đó để nó trôi đi. Việc xây dựng kỹ năng tự quan sát, đôi khi được nhắc đến như "sự chứng nghiệm", sẽ giúp ta thoát rời những sự kiện mà tâm trí đang liên tục tạo ra. Thay vào đó, ta học cách nhìn mọi thứ nảy sinh với thái độ trầm tĩnh. Như ta đã biết, sự tập trung và cảm xúc hòa lẫn vào nhau. Do vậy, giảm nỗi lo lắng sẽ tăng sự tập trung và ngược lại, tăng khả năng tập trung sẽ giảm nỗi lo lắng.