Ngay từ bé, các thầy cô giáo đã dạy bảo chúng ta: "Các em hãy lắng nghe thầy cô giảng. Tập trung đi nào. Đừng có lơ đễnh như thế".
Sự tập trung mà chúng ta được kỳ vọng ở trường và sau này ở nơi công sở nằm ở góc phía trên bên phải của Tứ đồ Tập trung với những đặc tính thuộc bán cầu não trái. Nhưng còn một hình thức tập trung sâu thứ hai được gọi là tập trung tổng quát, nằm ở góc phía dưới bên phải của tứ đồ, và nó liên quan với bán cầu não phải.
Trong hầu hết các trường học, tổ chức và nền văn hóa nói chung, bán cầu não trái được đánh giá cao hơn bán cầu não phải. Hậu quả là bán cầu não phải thường kém phát triển. Nền văn hóa phương Tây thường ưu tiên những khả năng của bán cầu não trái nằm bên cột trái hơn là của bán cầu não phải nằm bên cột phải dưới đây.

Sự thống trị của bán cầu não trái là minh chứng cho quyền lực lâu dài của tư duy logic và phương pháp khoa học kể từ Thời đại Khai Sáng thế kỷ 18. Chẳng có gì đáng ngạc nhiên cả khi sức mạnh của tư duy phê bình nghiêm khắc đã tạo ra sự tiến bộ đáng kể trong khoa học kỹ thuật, y học và kinh tế trên khắp thế giới.
Do bán cầu não trái có chức năng ngôn ngữ nên nó đại diện phát ngôn cho chúng ta, trong khi đó bán cầu não phải lại "lép vế". Nhà thần kinh học Jill Bolte Taylor lần đầu tiên phát hiện ra những khả năng độc đáo của bán cầu não phải sau khi bán cầu não trái của bà ngưng hoạt động bởi một cơn đột quỵ. "Trước đó, các tế bào trong bán cầu não trái của tôi đã lấn át bán cầu não phải. Do vậy, đặc tính đánh giá và phân tích của bán cầu não trái đã tạo nên tính cách của tôi".
Đây cũng chính là kết luận mà nhà sinh học thần kinh Roger Sperry đưa ra sau cuộc nghiên cứu về "sự phân quyền" của bộ não đã giúp ông đoạt giải Nobel Y học. Vào cuối những năm 50, Sperry bắt tay nghiên cứu những người bị động kinh đã trải qua cuộc phẫu thuật chữa bệnh bằng cách cắt corpus callosum - ngõ liên lạc giữa hai bán cầu – để làm cho hai bán cầu không còn giao tiếp được với nhau. Cuối cùng, Sperry đã có thể chứng minh rằng mỗi bán cầu não đều có chức năng riêng: bán cầu não trái xử lý các công việc đòi hỏi tính logic và nối tiếp, còn bán cầu não phải ghi nhận hình ảnh, xử lý các công việc đòi hỏi trực giác, cảm xúc. Như nhà tâm lý học Robert Ornstein lưu ý, bán cầu não trái thiên về nội dung, còn bán cầu não phải thiên về ngữ cảnh – một bên là điều gì được đề cập, còn một bên là điều đó được đề cập như thế nào.
Khi bán cầu não phải hoạt động tích cực hơn, chúng ta có thể bình tĩnh trước nhu cầu khẩn cấp, nhìn bao quát mọi mặt của vấn đề. Thay vì thực hiện từng bước hướng đến kết quả, ta sẽ trở nên sáng suốt, cởi mở, dễ tiếp thu để nhìn nhận sự việc theo nhiều cách khác nhau và tạo ra các mối liên kết mới. Tuy nhiên, hệ thống giáo dục cũng như nền khoa học nói chung thường có xu hướng xao lãng hình thức tư duy này.
YÊN NÀO, NÃO TRÁI!
Có vài cách thức thức xâm nhập và thức tỉnh sự tập trung của bán cầu não phải, nhưng có lẽ không cách nào mạnh mẽ và đáng tin cậy như bài tập do Betty Edwards nghĩ ra. Bà vốn là một giáo sư nghệ thuật và là tác giả của cuốn Drawing on the Right Side of the Brain (Nghe theo não phải). Sách chỉ cách huấn luyện bán cầu não phải, cụ thể là nhìn vấn đề theo cách khác với cách thông thường.
Bài tập gồm hai phần. Trước khi bắt đầu, bạn cần hai tờ giấy trắng cỡ trang sách này, bút chì, cục tẩy và một nơi thực sự tĩnh lặng. Ở tờ giấy đầu tiên, bạn hãy tự họa chân dung mình. Bạn hãy dùng hết khả năng và phải vẽ theo trí nhớ.
Sau khi hoàn thành, hãy lấy tờ giấy thứ hai và nhìn bức phác họa được đặt ngược một cách cố ý ở trang sau. Vẽ một khung hình chữ nhật với kích cỡ bằng khung bức họa mà bạn thấy. Sau đó, hãy vẽ lại chính bức họa đó lên tờ giấy, càng giống càng tốt. Nhớ là không được can hình. Hãy bắt đầu vẽ từ dưới lên. Đừng cố gắng xác định xem bạn đang vẽ thứ gì hoặc cố gắng vẽ cho giống một thứ cụ thể nào đó. Chỉ vẽ lần lượt từng nét. Bạn có thể dùng ngón tay để đo khoảng cách giữa các nét nếu thấy cần thiết. Hãy vẽ hết sức tỉ mỉ.
Thông thường, thời gian vẽ sẽ mất khoảng 20-30 phút, nhưng đừng xem đồng hồ, cũng đừng ràng buộc bởi bất kỳ giới hạn thời gian nào. Thay vào đó, hãy tập trung cho đến khi hoàn thành. Tốt nhất là bạn hãy thực hiện bài tập ngay trước khi đọc đến phần tiếp theo.
Giả sử bạn đã vẽ xong. Bây giờ hãy xoay ngược bức họa lại. Bạn đã sao chép chân dung nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga Igor Stravinsky của danh họa Pablo Picasso. Tiếp theo, bạn đặt cả hai bức trước mặt và tập trung vào bức tự họa của mình trước.

Rất có thể bức họa trông na ná như bạn, nhưng thiếu nhiều chi tiết hoặc không gian ba chiều. Có thể bạn nguệch ngoạc vài nét cho mái tóc của mình, vẽ chiếc mũi với nét thẳng, và miệng với hai đường cong và một nét ngang ở giữa. Nếu đúng là vậy, có thể bạn sẽ giải thích rằng mình không phải là họa sĩ nên khó mà vẽ được. Sự tự phê bình này chính là tiếng nói phát ra từ bán cầu não trái. Trước khi gặp Edwards và theo khóa huấn luyện năm ngày của bà, tôi chưa từng vẽ vời bất cứ thứ gì. Sau khi trải nghiệm, tôi có thể nhận ra rằng hội họa là kỹ năng mà bất cứ ai cũng có thể học trong thời gian nhanh đáng kinh ngạc.
Khi tự họa chân dung của mình, bạn đã dựa vào bán cầu não trái quá nhiều, hoặc như Edwards đề cập, đó là "chế độ não trái". Bán cầu não trái thiên về sự đơn giản hóa, rút gọn và gọi tên các sự vật, sự việc. Khi vẽ bằng chế độ não trái, chúng ta chẳng hứng thú vẽ chiếc mũi đầy đủ chi tiết. Bán cầu não trái định hướng mục tiêu bằng cách gọi tên các vật thể và phân loại chúng, vì vậy với nó, chiếc mũi nào trông cũng như nhau. Khi vẽ mũi, chúng ta có xu hướng gợi lại hình dáng chiếc mũi theo trí nhớ và vẽ theo đó. Đơn giản nhưng tinh tế, Edwards đã phát hiện rằng khi đặt ngược bức họa thì bán cầu não trái khó nhận dạng tên gọi của vật thể đó là gì. Trước quá nhiều đường nét, bán cầu não trái sẽ mất đi hứng thú đối với việc vẽ lại bức họa.
Ngược lại, bán cầu não phải lại kém khả năng gọi tên các vật thể và nó "thích thú" khi được chìm đắm vào những chi tiết trong tầm mắt. Không có ngôn ngữ, bán cầu não phải cũng không bị ràng buộc về thời gian. Với "chế độ não phải", bạn sẽ không cảm thấy vội vàng hay gấp rút đạt được một cái đích cụ thể nào đó. Nếu bạn vẽ một bức họa bị đảo ngược, có vẻ như bạn đã cảm nhận được rằng tâm trí mình yên lặng, tiếng nói tự phê bình biến mất, mất cảm giác về thời gian, và chuyển đổi nhận thức rõ ràng khi trở nên say sưa với công việc. Đối với nhiều người, đây cũng là một kinh nghiệm thiền định vừa thư giãn, vừa tỉnh táo.
Bạn có thấy ngạc nhiên vì thấy mình cũng có khiếu hội họa? Và bức vẽ có đẹp hơn bạn mong đợi? Đối với hầu hết các khách hàng của chúng tôi, câu trả lời rất phấn khởi là "có". Điều này được giải thích rằng không phải bạn đã mở khóa khả năng hội họa tiềm ẩn của mình, mà là do khi sử dụng "chế độ não phải", bạn chỉ có thể vẽ những gì nhìn thấy.
Khi bán cầu não trái thống trị, những khả năng này của bán cầu não phải thui chột đi. Edwards tin rằng có thể rèn luyện tính sáng tạo như bất kỳ kỹ năng nào khác. Giá trị của việc tập vẽ chính là tăng cường các khả năng của bán cầu não phải.
Internet với nhiều công cụ tìm kiếm và hàng ngàn trang web về các chủ đề khác nhau đã tạo nên một lượng thông tin khổng lồ sẵn có cho tất cả mọi người. Kết quả là những khả năng của bán cầu não trái, chẳng hạn như sự bao quát kiến thức, ghi nhớ chi tiết, thậm chí là thu thập, phân loại và tổ chức thông tin không còn nhanh nhạy như trước. Tuy nhiên, vẫn chưa có loại máy tính nào có thể sánh được với khả năng của bán cầu não phải: tư duy sáng tạo và lớn lao, óc tò mò sẵn sàng học hỏi, và thậm chí cả lòng thấu cảm. Hãy xem mỗi khả năng đó cũng giống như những cơ bắp chưa được rèn luyện. Trong nền kinh tế thị trường biến đổi không ngừng và cạnh tranh khắc nghiệt, đó là lợi thế cạnh tranh tiềm năng nhưng chưa được khai thác của cả cá nhân lẫn tổ chức.
PHONG PHÚ HƠN, SÂU HƠN, LÂU DÀI HƠN
Chúng ta sẽ xây dựng được khả năng nhìn sâu vào vấn đề khi chú trọng rèn luyện bán cầu não phải. Chế độ não phải đòi hỏi sự từ tốn và tĩnh lặng. Nhà tâm lý học Jerome Bruner viết: "Tĩnh lặng là quá trình diễn ra sự sáng tạo". Nhiều hơn, lớn hơn, nhanh hơn là đặc tính của bán cầu não trái. Phong phú hơn, sâu hơn, lâu dài hơn là những đặc tính trái ngược, nhưng là sức mạnh của bán cầu não phải.
Ở chế độ não trái, chúng ta tập trung từng li từng tí vào công việc đang làm dựa trên sự phân tích một cách logic và liên tục. Đó là cách nhân viên kế toán lên sổ sách, luật sư viết lời biện hộ hoặc bác sĩ phẫu thuật mổ cho bệnh nhân. Ở chế độ não phải, ta có thể tập trung say mê vào công việc, nhưng sẽ có cái nhìn tổng thể và từng phần, chú ý các mô hình, bao quát các điều nghịch lý, mơ hồ và phức tạp. Nhờ đó, chúng ta có thể thu nạp kiến thức bằng cách nhìn nhận và cảm thụ sâu sắc, chứ không phải phát sinh từ sự suy diễn của lý trí.
NUÔI DƯỠNG ÓC SÁNG TẠO
Bạn thường nảy ra những ý tưởng hay nhất ở đâu: trong nhà tắm, ở công ty, khi đang lái xe, lúc đi bộ, hay khi đang mơ ngủ? Có một nơi mà dường như bạn đã quên mất: tại bàn làm việc, ngay trước máy tính. Những ý tưởng hay hiếm khi nào đến khi bạn cố vắt óc tìm kiếm, sử dụng hết khả năng tư duy logic và ý chí, mà thường xuất hiện bất ngờ khi ý thức không được kiểm soát. Càng hiểu giá trị của việc thả lỏng kiểm soát ý thức, chúng ta càng dễ chọn lựa chế độ não phải để tự do suy nghĩ, phát huy trí tưởng tượng và tư duy bằng hình ảnh hơn.
Nhà nghiên cứu Jung-Beeman cho biết: "Bạn cần phải xua tan tiếng ồn trong tâm trí để nắm bắt những phôi thai ý tưởng bất chợt thoáng qua". Ngụ ý sâu xa hơn là hãy giữ tâm trí tĩnh lặng và kích hoạt bán cầu não phải, thông qua thiền hoặc vẽ là những cách hữu hiệu để kích thích sáng tạo.
Bằng trực giác, các họa sĩ biết đưa tâm trí vào trạng thái đó, nhưng chúng ta phải học thì mới làm được. Hannah Minghella, trưởng phòng sản xuất hãng Sony Pictures Animation, vốn xuất thân từ một gia đình có truyền thống hội họa, nhưng sau khi làm việc với chúng tôi, cô mới nhận thức rõ hơn về việc tạo điều kiện khơi dậy óc sáng tạo. "Ban đầu, tôi làm lấy tất cả mọi thứ. Nhưng dần dần, tôi nhận thấy không thể kéo dài như vậy và cần phải giao bớt việc cho người khác, như vậy tôi mới có nhiều thời gian để tái tạo năng lượng cho bản thân và suy nghĩ một cách sáng tạo", Hannah chia sẻ.
"Tôi đã ngộ ra rằng chắc chắn không thể nghĩ ra được điều gì thú vị tại văn phòng. Tôi cần yên tĩnh một mình, không phân tâm. Nếu phải tìm ý tưởng gì đó để cho kịch bản hay hơn, tôi thường ở nhà, pha một tách trà, ngồi thật thoải mái, lấy một tập giấy ghi chú, xắn tay áo lên và tự do viết ra mọi suy nghĩ của mình. Đó là lúc tôi luôn nảy ra những ý tưởng tuyệt vời. Tôi nhận ra rằng trách nhiệm của mình trong công việc này không phải là lo lắng về những chi tiết hành chính vụn vặt hoặc lưu tâm đến mọi công đoạn trong quá trình thực hiện, mà là tìm ra những ý tưởng sáng tạo. Tôi chỉ có thể làm được điều đó khi tôi tự cho mình thời gian và không gian cần thiết."
HỌC HỎI, LẮNG NGHE VÀ LĨNH HỘI
Chế độ não phải không chỉ phục vụ cho khả năng sáng tạo, mà còn hỗ trợ cho việc học hỏi. Bán cầu não trái tràn ngập những suy nghĩ, ý tưởng, niềm tin và kỷ niệm trong quá khứ - những thứ có ảnh hưởng sâu sắc đến thông tin vừa tiếp nhận. Một mặt, bản năng này dẫn đến sự nhận thức sâu sắc và tư duy phê phán. Mặt khác, như Edwards nêu: "Định kiến, dù bằng lời nói hay hình ảnh, đều có thể làm người ta trở nên mù mờ, không thể có những khám phá sáng tạo".
Thậm chí, ở một mức độ đáng kể, bán cầu não trái duy ngã "tin" rằng nó đã biết hết mọi thứ cần phải biết. Nó thường háo hức xác nhận niềm tin hiện hữu hơn là khám phá những ý tưởng mới. Nó cũng thường cố sức rút ra kết luận càng sớm càng tốt. Như Bolte Taylor nhận xét sau cơn đột quỵ: "Trung tâm ngôn ngữ của não trái được cấu tạo một cách đặc biệt để cảm nhận thế giới xung quanh dựa trên lượng thông tin tối thiểu… Não trái của chúng ta rất thông minh trong việc sắp xếp và điền vào các phần còn trống trong dữ liệu thực tế… Tuy nhiên, tôi cần phải nhớ rằng có một khoảng cách to lớn giữa những gì tôi biết và những gì tôi nghĩ là tôi biết". Cuối cùng, tiếng nói tự phán xét ở bán cầu não trái thường lớn nhất khi ta đang nỗ lực học hỏi một điều mới mẻ nào đó.
Bán cầu não phải vốn thiếu ngôn ngữ nên không có cách nào biết được những gì nó đã biết, và cũng không có tiếng nói tự phê bình bên trong. Nó thích thú với việc học hỏi cái mới. Hãy ngắm nhìn những đứa bé chơi đùa, cười nắc nẻ, ngạc nhiên và tò mò khám phá mọi thứ. Với khả năng ngôn ngữ còn hạn chế, trẻ thường không bị ảnh hưởng bởi những tiếng nói tự phê phán. Trẻ khao khát học hỏi mà không lo lắng về kết quả. Đó là cách tiếp nhận lý tưởng cho cả trẻ con lẫn người lớn. Đó cũng là trạng thái có thể rèn luyện thông qua thiền định.
Khi môn đồ Thiền tông Phật giáo nói về "sơ tâm" là nhắc đến sự mở lòng đón nhận mọi trải nghiệm, không bị gò bó bởi định kiến, lịch thực hiện, hoặc những kỳ vọng. Quan điểm này cũng bao hàm khả năng biết lắng nghe, một khả năng thường thiếu ở những vị lãnh đạo mà chúng tôi gặp. Điều này không chỉ hạn chế sự tiếp thu của họ, mà còn ảnh hưởng không tốt đến những người mà họ lãnh đạo. Cảm giác được thực sự lắng nghe và thấu hiểu nuôi dưỡng tinh thần chúng ta một cách sâu sắc. Kỹ năng sử dụng chế độ não phải càng nhuần nhuyễn thì ta càng nâng cao khả năng lĩnh hội.
Thấu cảm – sự nhạy cảm, thấu hiểu và cảm thông trước cảm giác của người khác – là sức mạnh chủ yếu của bán cầu não phải. Botle Taylor viết trong cuốn Cú đột quỵ nhận thức của tôi: "Não phải tiếp nhận những bước sóng ánh sáng dài nên nhận thức bằng hình ảnh của nó là một thứ gì đó mờ nhạt. Sự thiếu nhận thức sắc bén giúp não phải có thể tập trung vào tổng thể, mối liên hệ giữa các sự vật… Trái lại, bán cầu não trái tiếp nhận những bước sóng ánh sáng ngắn, nên tăng khả năng phác họa sắc nét".
Tóm lại, khi bán cầu não phải thống trị, khả năng phân biệt sẽ suy yếu. Điều này đưa ra luận giải theo thần kinh học về sự nhất tâm mà cả Ấn Độ giáo và Phật giáo đều gọi là "samadhi" (định) – trạng thái mà các bậc thiền giả thỉnh thoảng đạt đến khi tập trung sâu. Khi đó, sự phân định không còn nữa. Ở cấp độ thực hành cao nhất, việc cố ý giữ bán cầu não trái yên lặng là cách xoa dịu bản năng đánh giá và đưa ra kết luận vội vã để tăng lòng thấu cảm. Nhiều cuộc nghiên cứu cho thấy những nhà lãnh đạo có sức truyền cảm mạnh nhất luôn là người điều chỉnh bản thân theo cảm xúc của người khác, lắng nghe với niềm quan tâm và sự tôn trọng tự đáy lòng.
CÁC GIAI ĐOẠN SÁNG TẠO
Con người không thể hoạt động hiệu quả nếu chỉ dựa vào một trong hai bán cầu não. Do vậy, chúng ta không cần phải băn khoăn chọn lựa giữa bên này hay bên kia, mà thay vào đó là hãy tìm cách để vận động sức mạnh của cả hai. Ví dụ như sáng tạo: tư duy sáng tạo đòi hỏi sự tham gia của cả hai bán cầu não và phụ thuộc vào các giai đoạn mà quá trình sáng tạo đang diễn ra. Càng hiểu rõ những giai đoạn này, ta càng tập luyện và tăng cường khả năng sáng tạo một cách có hệ thống cho bản thân và cả người khác.
Theo nghiên cứu, quá trình sáng tạo bao gồm năm bước như sau:
Ý TƯỞNG BAN ĐẦU - THU THẬP - ẤP Ủ - LÓE SÁNG - KIỂM CHỨNG
Trong cuốn Drawing on the Artist Within (Khai phá tiềm năng nghệ sĩ), Betty Edwards đã đưa ra một trường hợp rất thuyết phục, trong đó mỗi bước của quá trình sáng tạo dựa vào một trong hai bán cầu não. Có thể hiểu đó là sự di chuyển giữa góc phần tư phía trên và phía dưới bên phải trong Tứ đồ Tập trung.
Ý tưởng ban đầu là một hoạt động của chế độ não phải. Việc tạo ra thách thức sáng tạo đòi hỏi ta phải nghĩ khác đi những gì mình đã biết. Đó có thể là ý tưởng cho cuộc thử nghiệm mới của nhà khoa học, là phác thảo bất chợt về cuốn tiểu thuyết của nhà văn, hay một ý tưởng kinh doanh mới mẻ của một doanh nhân.
Thu thập là các hoạt động của bán cầu não trái. Bước thứ hai trong quá trình sáng tạo không chỉ liên quan đến việc thu thập, mà còn đọc hiểu toàn bộ thông tin, phân loại, đánh giá, tổ chức, phác thảo và chọn lựa ưu tiên. Việc này có khuynh hướng trở thành công việc có tính phương pháp và tỉ mỉ. Nói một cách ngắn gọn thì thông tin là nền tảng để nảy sinh các ý tưởng sáng tạo, nên một người càng hiểu biết sâu rộng thì khả năng sáng tạo càng cao.
Trong bất kỳ nỗ lực sáng tạo nào, chúng ta đều gặp phải rào cản; đó là một điều hiển nhiên trên con đường sáng tạo. Hãy tưởng tượng cảm giác bế tắc trong một vấn đề nào đó. Tâm trí bạn cứ quay mòng mòng. Lúc này, nếu càng cố gắng, bạn sẽ càng rối trí hơn. Đó là khi giai đoạn ấp ủ chế độ não phải khởi động.
Trong nhiều trường hợp, để thoát khỏi trạng thái bế tắc, chúng ta chuyển sang hoạt động dựa vào bán cầu não phải. Điều này diễn ra một cách vô thức sau khi ta nhận ra mình đã kiệt sức với khả năng tư duy logic của bán cầu não trái trong việc giải quyết vấn đề. Đây là một trong những lý do chúng tôi thúc giục khách hàng của mình có giờ nghỉ ngơi trong ngày làm việc, ngồi thiền hoặc tập thể dục, nhất là giai đoạn cần tập trung cao độ.
Cũng trong chế độ não phải, sau khi từ bỏ việc giải quyết vấn đề một cách logic và liên tục, giai đoạn thứ tư lóe sáng sẽ diễn ra. Đây là thời điểm của sự đột phá khi giải pháp xuất hiện bất ngờ.
Đối với nhà hóa học Friedrich August Kekulé, bước đột phá đến với ông vào một buổi chiều năm 1857, lúc ông ngủ gật khi đang nghiên cứu. Trong trạng thái nửa mơ nửa tỉnh, ông thấy một con rắn đang chộp lấy đuôi của mình. Sau này, ông giải thích hình ảnh đó đã dẫn đến giả thuyết về các nguyên tử cacbon trong cấu trúc benzen là vật chất kết cấu dạng vòng. Việc tìm ra cấu trúc benzen đã trở thành chìa khóa để tìm hiểu về những điều cơ bản của nhiều hợp chất hữu cơ. Trong khi hoàn thành bức họa Bữa tiệc Cuối cùng, Leonardo da Vinci cũng thường xuyên ngừng vẽ trong nhiều giờ để mơ mộng. Bị người bảo trợ, Đức cha bề trên của Tu viện Santa Maria delle Grazie, hối thúc, Leonardo đã đáp trả một cách kiêu ngạo nhưng vô cùng chính xác: "Những thiên tài vĩ đại nhất thi thoảng sẽ đạt được nhiều, khi họ làm ít".
Giai đoạn cuối cùng của quá trình sáng tạo chính là kiểm chứng. Thông thường, giai đoạn này đòi hỏi sự ứng dụng phương pháp khoa học chính xác, đại diện tiêu biểu của tư duy bán cầu não trái. Một ý tưởng, cho dù sáng tạo nhất, cũng không có giá trị nếu chẳng ai hiểu và không ứng dụng được. Giai đoạn kiểm chứng cần nhiều giờ dài làm việc trong phòng thí nghiệm, kiểm nghiệm tỉ mỉ một phát hiện nào đó. Kiểm chứng là sự khác biệt giữa một giả thuyết hoặc trực giác và một giải pháp có thể làm thay đổi cuộc sống về lâu dài. Thông qua khả năng của bán cầu não trái, chúng ta chuyển những ý tưởng thành các định luật, quy luật chung và các ứng dụng thực tế.
Việc hiểu rõ sự khác biệt về khả năng giữa hai bán cầu não giúp chúng ta vận dụng mỗi bên tốt hơn. Khả năng di chuyển linh hoạt giữa chế độ não trái và phải là cách vận hành tối ưu toàn bộ trí não. Edwards nói: "Sử dụng đồng thời cả hai chế độ, bạn có thể học cách tư duy hiệu quả hơn, bất kể mục đích sáng tạo của bạn là gì".