• ShareSach.comTham gia cộng đồng chia sẻ sách miễn phí để trải nghiệm thế giới sách đa dạng và phong phú. Tải và đọc sách mọi lúc, mọi nơi!

Danh mục
  1. Trang chủ
  2. Mộng phù du
  3. Trang 9

  • Previous
  • 1
  • More pages
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • Next

CHƯƠNG HAI

SÁU

Vào ngày 10 tháng Chín năm 2000, tờ New York Times tuyên bố rằng Jane (được biết là Janey) Wilcox, ba mươi ba tuổi, một người mẫu đồ lót của Victoria Secret, đã kết hôn được bốn ngày với Selden Rose, bốn mươi lăm tuổi, CEO của MovieTime, tại một buổi lễ nhỏ riêng tư tại Montradonia, Ý.

Nó cũng đề cập tới chuyện Peter Cannon đã vào tù, với một mẩu tin đi kèm về chuyện những nhà tù cổ trắng không phải là câu lạc bộ miền quê như ngày xưa, và những kẻ trốn thuế, những tên lừa đảo tài chính, những kẻ buôn bán nội gián đã vào tù sẽ ngạc nhiên vì nhiều thứ như thế nào, trong đó thức ăn dở chỉ là thứ nhẹ nhàng nhất.

Nhưng với hầu hết người New York thì đó là một sáng thứ Hai rực rỡ vào tuần thứ hai của tháng Chín. Hôm đó, Comstock Dibble đang nghĩ tới chuyện mua một căn hộ mười triệu đô trên Park Avenue, bằng cách đó đẩy mình lên cao thêm trên nấc thang xã hội. Nhưng như mọi khi, đó là một quá trình khá vất vả. Đứng trong sảnh tòa nhà 795 Park Avenue, một tòa nhà mà hắn đã được đảm bảo đi đảm bảo lại bởi cả nhân viên bất động sản Brenda Lish và vợ chưa cưới của hắn, Mauve, là một trong những tòa nhà đẹp nhất ở New York, mặt hắn bóng nhẫy lên và những giọt mồ hôi lấm tấm nổi lên dưới chân tóc mỏng. Dẫu vậy, mắt hắn vẫn đảo quanh sảnh với một vẻ vui sướng. Cuối tuần trước, kế toán của hắn đã cảnh báo hắn rằng lần đầu tiên trong ba năm, Parador Pictures đang cho thấy một thua lỗ giữa năm. Nhưng vào tối thứ Năm, hắn được vinh danh bởi thị trưởng New York vì những đóng góp nhân đạo cho thành phố. Và đến cuối tuần, hắn hy vọng có thể ký được hợp đồng một vụ dễ dàng kiếm cho hắn năm mươi triệu đô hoặc hơn nữa. Gần đây, hắn đã nghĩ tới chuyện mở rộng lĩnh vực làm ăn - phải, hắn yêu phim ảnh, nhưng sau rốt thì ta cũng phải thừa nhận rằng đó là lĩnh vực kinh doanh cho trẻ con - và chẳng phải hắn có thể là một nhà chính trị tuyệt vời sao? Hắn chùi trán bằng một cái khăn tay vải lanh, và khi Brenda Lish tiếp tục những lời lảm nhảm vô tận của mình, hắn mỉm cười.

"Tớ chả phải nói với cậu về cái sảnh này," chị ta nói, quay sang Mauve. "Nó được Standford White thiết kế và được bảo dưỡng cực kỳ cẩn thận - mọi thứ đều là nguyên gốc. Nếu cậu định bán cái sảnh này ở Sotheby’s, tớ nghĩ nó sẽ trị giá tới hai mươi lăm triệu đô đấy."

Nhưng bức tường được ốp gỗ dái ngựa; một lò sưởi đá hoa cương lớn nằm ở giữa. Và trên mặt lò sưởi có một cái bình cắm những cành hoa cao tới gần một mét. Những người gác dan mặc đồng phục đeo găng tay trắng nhẹ nhàng lướt qua sảnh như những bóng ma. Không khí có vẻ giàu sang và bí mật, như thể tất cả những sự kiện trong tám mươi năm qua đã không hề tác động gì lên cái ốc đảo nhỏ xíu này.

"Comstock, anh nghĩ sao?" Brenda Lish hỏi.

Comstock nhìn chị ta - chị ta chắc là hơn bốn mươi lăm rồi nhưng chả hiểu sao vẫn có cái vẻ vừa con gái vừa có vẻ cô giáo - và cái váy hoa mà chị ta đang mặc trông làm sao ấy nhỉ?

"Tôi đang nghĩ là…," hắn chậm rãi nói, "tôi sẽ không mua cái sảnh này."

Lúc này, Mauve đảo mắt, còn Brenda thì phá lên cười như thể hắn nói gì đó thật sự buồn cười. Nếu hắn ý thức chút nào về việc trong cái bối cảnh này hắn trông ra sao - khi phong thái nhà quê của hắn chỉ càng nổi bật thêm lên trên cái nền xung quanh này - hắn sẽ không để lộ ra. Và Brenda Lish cũng sẽ không thừa nhận chuyện đó. Brenda lớn lên từ một gia đình New York gốc, từ cái thời thực sự có ý nghĩa, và bà của cô đã sống trong tòa nhà này. Năm mươi năm trước, một gã như Comstock Dibble sẽ không được cho vào, nhưng có lẽ hắn cũng đủ khôn ngoan và kiêu hãnh để không sống trong một tòa nhà như thế này. Nhưng những ngày đó đã xa rồi, cùng với gia tài của nhà Lish, tất cả đã biến mất hồi giữa thập kỷ 1980. Lúc đó Brenda đã trở thành một nhà môi giới bất động sản, sử dụng kiến thức của một người trong cuộc về những tòa nhà đẹp nhất ở New York để dựng nên một mạng lưới khách hàng sẵn lòng, và có thể, bỏ hàng triệu hàng triệu đô cho một căn hộ. Cá nhân thì cô không bằng lòng với những gã như Comstock Dibble. Nhưng mặc dù hắn thô lỗ hơn hầu hết tất cả những gã ngạo mạn, vô vị với những bà vợ lấy về làm cảnh, những kẻ đã thay đổi bộ mặt xã hội hồi những năm tám mươi, hắn không hoàn toàn lệch khỏi khuôn. Hắn có tên tuổi, hắn có tiền, hắn được thị trưởng vinh danh, và hắn sắp sửa lấy Mauve Binchely.

"Mình có nên bước ra ngoài không?" chị hỏi, và cả ba bước ra ngoài trời nắng rực rỡ.

"Giờ thì Mauve, tớ chả phải nói với cậu điều này," Brenda nói. "Nhưng cậu biết là các căn hộ trong tòa nhà này không thường xuyên trống… Căn gần đây nhất là ba năm trước. Vậy nên nếu cậu quan tâm, tớ sẽ ra giá ngay lập tức, ít nhất là hỏi về giá cả…"

Mauve khịt khịt mũi như thể đang ngửi mùi hôi và nói, "Tớ lo là hơi ồn."

"Ồn?" Comstock nói. Đột nhiên hắn có vẻ nổi đóa lên. Và Brenda, đã nghe rất nhiều chuyện về những người khác qua mạng lưới công việc của mình, tự hỏi mình có sắp sửa chứng kiến cơn mất kiểm soát khét tiếng của hắn hay không.

"Giờ em phải quen với tiếng ồn rồi chứ? Em đã sống ở Park Avenue mà," hắn nói, quay sang Mauve vẻ buộc tội, như thể cô vừa ăn cắp một thứ ở cửa hàng.

"Thì sao?" Mauve nói. "Em nghe thấy một tiếng ồn lớn."

"Đó chắc là do Brenda đang nói, em ngu thế," hắn độp lại.

"Em nghe thấy tiếng còi xe," Mauve nói, không đáp lại lời xúc phạm kia. Đó là một trong những điểm hắn thích ở cô - da cô dày như da cá sấu.

"Chà, cửa sổ hai lớp, nhưng cậu hoàn toàn có thể làm thành ba lớp, chừng khoảng… năm mươi ngàn đô?" Brenda nói. Đột nhiên chị nhớ ra một chuyện chị nghe về Comstock Dibble, hắn đã gắn cái kẹp núm vú vào một phụ nữ rồi buộc dây vào hai cái kẹp và rồi phịch cô ta từ phía sau, cưỡi cô ta như cưỡi ngựa. Và hiển nhiên là cô đó thích như thế.

"Anh biết là em không chịu nổi tiếng ồn mà," Mauve nghiêm nghị nói. "Breanda, cậu nhớ không, ngay cả hồi khi bọn mình còn nhỏ, lần nào nghe tiếng còi báo động là tớ cũng hét toáng lên.

"Còn giờ anh thì không thể chịu nổi em," Comstock nói. "Xe của tôi đâu rồi?"

Dĩ nhiên là hắn đang đứng ngay trước chiếc xe - một chiếc Mercedes đen với cửa màu và kính chống đạn. "Tạm biệt Brenda," hắn nói, lườm Mauve một phát. "Tôi sẽ gọi cho cô sau."

"Bất cứ lúc nào," Brenda nói, vẫy tay.

"Anh ta thật tởm nhỉ?" Mauve nói.

"Tởm" là một từ quá nhẹ nhàng, Breanda nghĩ, nhưng chỉ đáp, "Ừa."

"Nhưng tớ chả biết làm thế nào. Tớ yêu anh ấy," Mauve nói.

Brenda muốn phá lên cười. Không giống như bạn bè cùng lứa, chị không cảm thấy thương cho "Mauve tội nghiệp"; mà thấy sự liên minh của cô bạn với Comstock là một dạng báo thù thần thánh. Brenda và Mauve đã ở Brearley cùng nhau từ hồi còn nhỏ. Và Comstock nói hoàn toàn đúng - Mauve là, và đã luôn là, ả ngu xuẩn. Cô ta thực tình có hét toáng lên mỗi lần một chiếc xe có còi báo động chạy qua, và có lần thậm chí đã tè ra quần. Có khi người ta đã đuổi cô ta ra khỏi Brearley, nhưng cha mẹ cô ta có quá nhiều tiền và chả hiểu sao lại có họ hàng với nhà Vanderbilt.

"Nếu cậu yêu anh ấy thì đó là điều quan trọng nhất rồi," Breanda nói.

"Ồ, tớ biết," Mauve nói. Cô ta lấy một cái gương tay nhỏ từ cái túi Fendi da rắn ra và bôi phấn lên cái mũi dài nhọn hoắt. "Bạn yêu, giờ thì tớ thật sự phải đi. Tuần lễ Thời trang bắt đầu hôm nay."

"Rất vui được gặp lại cậu, bạn yêu," Brenda nói, ngả người tới trước hôn gió hai cái bắt buộc. "Trông cậu y hệt như hai mươi năm trước."

"Cậu cũng vậy," Mauve nói. "Cậu biết không, tớ đã quên mất những cái váy Laura Ashely cổ trông tuyệt thế nào. Có lẽ chúng nên được mặc lại."

"Sau rốt thì mọi thứ sẽ đều quay lại," Brenda nói. Chị mỉm cười khi nhìn Mauve rẽ xuống Park Avenue. Chị chả bận tâm chuyện Mauve cười nhạo cái váy Laura Ashley của chị. Bản thân Brenda cũng thừa nhận là mình ăn mặc lạc hậu không cứu vãn được. Nhưng dẫu vậy, chị kiếm được hơn hai triệu đô tiền hoa hồng trong một năm, và là người đã chứng kiến cú sa sút hết lần này tới lượt khác, chị sẽ không bao giờ phung phí tiền bạc vào đồ hiệu.

"Bọn nhà giàu này mới ngu xuẩn làm sao!" chị nghĩ khi giơ tay vẫy taxi. Như thể mặc đồ hiệu sẽ tạo cho Mauve Binchely một cá tính. Chị ngồi vào sau một chiếc taxi và nói địa chỉ cuộc hẹp tiếp theo. Chị cảm thấy vui sướng - mặc cho Mauve có phản đối, chị biết Comstock Dibble sẽ mua căn hộ đó, hoặc ít nhất là cũng cố mua. Căn hộ hắn quan tâm, 9B, là một căn hộ bốn nghìn foot vuông, với một phòng khách, phòng ăn, phòng làm việc, ba phòng ngủ, và một phòng người giúp việc. Nhưng chị ngờ là hắn sẽ mua căn hộ bằng cái hộp giày nếu như có loại đó. Không phải chỉ chuyện tòa nhà ở số 795 Park là tòa nhà đẹp nhất trong thành phố, mà Victory Matrick, lão CEO điên rồ của cả tập đoàn Splatch Vernerr, sống tại tòa nhà này. Và rõ là, Victor sống ở đâu, thì Comstock cũng phải sống ở đó. Trong suốt thời gian chị dẫn họ đi xem căn hộ, Comstock đã hỏi hết câu này tới câu khác về căn hộ của Victor Matrick - nó nằm chỗ nào so với căn hộ 9B, rộng bao nhiêu, thậm chí cả chuyện ai thiết kế nội thất. Brenda nghĩ, thật thảm hại và đúng kiểu cư xử của những gã quyền lực và giàu có, những người lẽ ra phải ở trên tất cả, lại gần như lúc nào cũng đưa ra quyết định dựa vào những cái tôi cá nhân nhỏ bé ti tiện.

Chỉ cách vài khu nhà về phía Nam, trên Đại lộ Năm và Phố 70, Mimi Kilroy bước vào một thang máy nhỏ xíu dẫn lên căn hộ của cô và George, và chào người gác thang máy. Người này sẽ nhấn tầng để cô không phải tự mình làm việc đó. Hai người gác cửa ngồi trong sảnh. Khi cô đi qua và gật đầu, một gã vội chạy ra cánh cửa đồng nặng nề dẫn ra phố, mở cho cô bước qua.

"Tôi nghĩ là xe chưa tới, thưa bà Paxton," gã nói, lo lắng vô độ, như thể việc cô đi bộ khiến anh ta đau đớn về mặt thể xác.

"Hôm nay tôi không đi xe, Jésus ạ. Tôi sẽ cưỡi cái đó. Tuyệt vời không?" Cô chỉ một thứ máy kỳ cục nằm bên vệ đường, gồm một cái xe kéo gắn với một cái xe đạp. Một chàng trai trẻ đội mũ lưỡi trai ngồi trên đó.

"Trông nguy hiểm quá, thưa bà Paxton," Jésus nói, và Mimi phá lên cười. "Anh biết là sẽ không bao giờ có chuyện gì xảy ra với tôi mà," cô nói.

Bước ra ngoài, tâm trạng cô hân hoan phấn chấn. Đại lộ Năm là một trong những nơi tuyệt vời nhất trên thế giới và hết năm này sang năm khác, nó đều luôn như vậy - nó là một trong số những như ít ỏi trong đời mà ta có thể thực dựa vào. Và rồi cô nghĩ chuyện này mới thú vị làm sao, khi một con đường có thể khiến ta dễ chịu hơn cả gia đình hay bạn bè. Nhưng cô nhận ra là trong cuộc sống, việc mình đón nhận hạnh phúc từ bất cứ nơi nào nó nảy sinh ra là rất quan trọng. Bởi vì thông thường, những thứ người khác nói với ta rằng sẽ khiến ta hạnh phúc thì lại không làm được thế.

Cô bước vào một cái xe kéo, sơn màu vàng bắt mắt khách du lịch mà chính vì họ, cái phương tiện đi lại này mới được tạo ra. Cô bắt chéo chân, vuốt thẳng váy. Chân cô đi một đôi bốt màu be - rất là bất tiện và đắt đến lố bịch, nhưng mục đích là chỗ đó. Người lái xe gật đầu với cô và chạy vào dòng xe. Và khi họ nhẹ nhàng chạy xuống Đại lộ Năm, cô thấy ngất ngây sung sướng.

Cô quyết định là ngày hôm đó, cô hạnh phúc. Cô bốn mươi hai tuổi, và gần đây ngày tháng của cô rơi vào hai trạng thái: hoặc buồn hoặc vui đến lố bịch. Khi vui, cô thấy mình lại là cô gái mười tám tuổi, như thể không có gì là quá muộn. Và cô vẫn có thể làm gì đó, như bắt đầu một ban nhạc rock chỉ có nữ, học chơi guitar điện và hát trên sân khấu trước hàng ngàn người. Khi buồn, cô thấy mình già nua, như thể cô đã không làm được gì trong đời. Cô cảm thấy chẳng mấy chốc sẽ chẳng ai còn ham muốn cô và không ai muốn làm tình với cô nữa. Cô sẽ mãn kinh và phía dưới của cô sẽ khô khốc - và quả tình đôi lúc thật khó bắt nó ướt át lại, đặc biệt là với George. Nhưng năm qua George không đòi hỏi cô lắm. Cô đoán là chắc anh có được từ nơi khác như mọi ông chồng mà cô biết. Nhưng cô chả quan tâm, chừng nào anh còn giữ chuyện đó kín đáo.

Vài năm trước, những suy nghĩ đó sẽ là lời nguyền rủa với cô. Cha cô là kẻ ngoại tình (mà theo như cô biết là giờ vẫn ngoại tình), và cô đã nhìn thấy sự cay đắng và khổ sở bên dưới cái vẻ ngoài lộng lẫy của mẹ mình. Khi Mimi còn thiếu nữ, cô ghét mẹ vì không bao giờ phản đối những đêm bí ẩn mà cha cô không có mặt ở nhà. Nhưng mẹ cô nói rõ rằng chủ đề đó sẽ không bao giờ được nói tới, với một câu nhận xét, "Mẹ sẽ không bao giờ chỉ trích cha con, cưng ạ." Lời nhận xét đó ám ảnh cô suốt nhiều năm. Đôi khi cô tự hỏi có phải chính vì nó mà cô đã nổi loạn đến thế trong những năm hai mươi tuổi và ngoài ba mươi, không chịu ổn định lập gia đình, để "làm gì đó." Ấy vậy mà, về mặt lý tưởng, cô ngưỡng mộ sự hy sinh của mẹ. Cô thường tự hỏi cô có làm được như thế không. Và đột nhiên cô nhận ra đó chính là điều mà cô đã làm với George. Cô đã gạt bỏ những sở thích cá nhân cho cái cô tin là lợi ích lớn hơn.

Nhưng lợi ích lớn hơn cho ai? Cô tự hỏi khi họ băng qua một tòa nhà đá trắng tuyệt đẹp từng là nhà riêng của một tỉ phú hồi những năm 1920 nhưng giờ là Frick Museum. Dĩ nhiên, những chuyện cô làm là vì cô. Sau cùng, George là một người đàn ông giàu có, và mọi người đã luôn trông đợi cô sẽ lấy một người giàu, với mục đích duy nhất là để thêm vào gia sản của nhà Kilroy. Nhưng cô cũng biết rằng mình là một người vợ tuyệt vời cho George, rằng cô làm anh mạnh thêm. Việc nhận ra và cuối cùng chấp nhận việc này là mục đích trong đời cô không hề đến một cách dễ dàng, và đã bao năm nay cô dằn vặt mình với suy nghĩ đó. Khi còn nhỏ, cô đã luôn nghĩ mình sẽ là thứ gì đó - một ngôi sao - một vận động viên cưỡi ngựa Olympic, hay thậm chí là một kẻ gây hài, một nữ diễn viên, một nhà báo. Nhưng mỗi lần cô cố làm những việc này thì đều bị gia đình phản đối một cách ngấm ngầm. Mặc dầu sự phản đối của họ chẳng bao giờ nói rõ ra, nó cũng nặng như cùm. Cô không được xuất hiện quá nhiều trong mắt dân chúng, nơi cô có thể thất bại hay bị những nhà phê bình chế giễu. Cô không được làm xấu hổ gia đình và, trên hết, là cha cô. Thông điệp không nói ra luôn là: Tại sao cô phải làm gì khi mà cô không cần phải làm? Việc duyên dáng và quyến rũ, ăn mặc đẹp và trông xinh đẹp không đủ sao? Và vì vậy, cô tự hỏi, làm thế quái nào mà cô lại ngoại tình với Zizi?

Cô đang bị khủng hoảng tuổi trung niên. Không ai bảo với phụ nữ chuyện gì sẽ xảy ra với họ về mặt cảm xúc khi họ bước sang tuổi bốn mươi. Đầu tiên, sẽ có cảm giác thanh thản tột độ. Ta hiểu ra rằng ta không thể kiểm soát mọi thứ, rằng không phải mọi chuyện xảy ra đều liên quan tới ta, và có quá nhiều thứ ta từng nghĩ là quan trọng thì đột nhiên ta nhận ra không phải vậy. Vậy mà ta vẫn thấy mình còn trẻ, vẫn có thể đọc thực đơn nhà hàng vào buổi tối. Nhưng rồi một cú huých về mặt cảm xúc xảy ra, khi ta tự hỏi mục đích của cuộc đời, đặc biệt là mục đích của cuộc đời mình. Đột nhiên ta muốn ý nghĩa, ta muốn sự liên hệ, ta muốn tình yêu, và ta thấy những thứ này đã phai nhạt đi; ta là con robốt, làm mọi việc ta luôn làm, nhưng ta không còn thấy phấn khích nữa, ta thấy sự vô nghĩa nằm bên dưới mọi thứ. Có những đêm cô đi ngủ và ước buổi sáng sẽ không bao giờ tới. Nhưng lúc nào, nó cũng tới.

Dĩ nhiên, không ai kể cả George biết cảm xúc của cô. Cô sẽ không bao giờ nói về nó. Mẹ cô đã luôn bảo rằng không có gì kém hấp dẫn bằng việc một cô gái giàu có than phiền về cuộc đời. Cô biết mình may mắn. Cô biết mình sung sướng hơn hầu hết mọi người trên thế giới. Ngày nào cô cũng tự nhắc nhở mình điều đó. Cô cố tận hưởng niềm vui nho nhỏ, nhưng đôi khi không được.

Và rồi cô gặp Zizi. Cô biết Janey thích anh và anh tò mò về cô ấy, nhưng Mimi nhanh chóng dập tắt chuyện đó. Cái lão Harold Vane đã cảnh cáo anh phải dứt Janey ra. Kiểu gì đó thì tiếng tăm của Janey khá xấu. Có tin đồn khá ác rằng cô là gái điếm, lấy tiền của đàn ông, nhưng Mimi không nhất thiết phải tin chuyện đó. Lỗi của Janey là cô không có đủ sức mạnh để tóm lấy một chàng như Zizi, mà bố của anh, Janey cũng như mọi người đều không biết, thực ra là một bá tước Đức. Gia đình anh đã chuyển tới Argentina trước khi Zizi ra đời. Và Zizi, là con trai thứ hai, vì thế anh không hưởng thừa kế hay tước vị, đã chuyển sang chơi polo.

Zizi là người Mimi sẽ cưới nếu như cô không cưới George, và nếu như Zizi già hơn mười lăm tuổi. Đây là một trong những trò ác độc của cuộc đời, không thể nào giải quyết được cho đến khi nó tự lộ ra ý nghĩa thật. Cô không thể bỏ George (phải giải quyết vụ scandal sau đó với cô là chuyện không thể tưởng tượng nổi), nhưng trong khoảnh khắc, cô cũng không thể bỏ Zizi được. Anh có lẽ là chàng trai đẹp nhất cuối cùng mà cô làm tình trong suốt quãng đời còn lại.

Xe cộ đi chậm lại trên Phố 65, và người lái xe tranh thủ quay lại và mỉm cười. "Nhân tiện, tôi là Jason."

"Tôi tên là Mimi," Mimi nói. Cô nhoài người tới chìa tay ra để che giấu sự trịnh trọng mà cô vừa nói tên mình. "Anh sống ở đây à, Jason?" cô hỏi.

"Tôi ở với một người bạn ở Brooklyn," anh nói. Và đột nhiên cô tưởng tượng ra căn nhà xập xệ - cô chỉ mới đi qua Brooklyn trên đường ra sân bay, khi tài xế phải đi tuyến đó để tránh tắc đường.

"Ồ thế à," cô nói.

"Chỉ vào mùa hè thôi," Jason nói. "Tôi quê ở Iowa. Vào mùa hè, tôi làm việc này để trả tiền học."

"Chà," Mimi nói. "Tôi ngưỡng mộ việc anh làm quá."

Cô mỉm cười và, liếc sang trái, thấy rằng họ đang đi qua một tòa nhà bằng sa thạch lớn nơi cô đã lớn lên. Gia đình cô sỡ hữu toàn bộ một tầng - mười nghìn foot vuông - với hai giúp việc người Ireland sống cùng. Nhìn lên, cô thấy cửa sổ phòng ngủ cũ, và đột nhiên nhớ tới lúc còn nhỏ. Sở thú của Công viên Trung tâm ở ngay đối diện bên đường, và khi còn nhỏ, cô nghe tiếng sư tử gầm trong đêm… Và lần đầu tiên trong nhiều năm, cô nhớ mình thích nghĩ rằng cha mình đã ở với những con sư tử vào những đêm ông không về nhà.

Bọn sư tử đã từ lâu không còn nữa, được cứu thoát khỏi sở thú nhiều năm trước bởi những nhà hoạt động vì quyền động vật. Nhưng giờ trong công viên có chim ưng, ăn bồ câu, sóc, chuột, và có khi là con chó nhỏ - thật ra, một con chó Chihuahua của một bà già đã bị một con chim ưng bắt mất trên Phố Đông 63 khi bà ta dắt nó đi dạo buổi sớm hai ngày trước đó. Chuyện đó được đăng trên trang hai tờ New York Times. Và người ta ngờ rằng một đôi chim ưng làm tổ ngay bên dưới rìa mái nhà chạm trổ của Khách sạn Lowell.

Hai tầng bên dưới, trong một căn hộ suite lớn có sảnh, phòng khách, hai phòng ngủ, ba phòng tắm, và một lò sưởi, một đôi mới cưới đang chuẩn bị cho ra phố. Selden Rose cài đôi măng sét vàng lên chiếc áo trắng phau của mình trong khi vợ anh, Janey, vẽ một đường chì màu nâu lên mí mắt.

Selden ở trong phòng ngủ số hai, ngân nga một mình. Cho đến lúc này, mọi thứ sẽ thành công tốt đẹp. Và anh tự chúc mừng mình vì đã nhìn xa trước mà thuê một phòng suite hai phòng ngủ rất nhiều tháng trước khi anh chuyển tới New York. Thế cho phép anh và Janey có thể thoải mái ở khách sạn trong lúc tìm một căn hộ. Người hầu đã chuyển quần áo của anh vào tủ trong phòng ngủ thứ hai và thư ký đã sắp xếp đồ đạc của Janey vào phòng ngủ thứ nhất khi họ ở Tuscany. Thật là một chuyến đi tuyệt vời, anh nghĩ. Họ đã đi xem ít nhất là hàng chục nhà thờ và rất nhiều bảo tàng nhỏ. Và họ đã rất hòa hợp với nhau, trừ ngày thứ ba khi Janey nổi đóa lên trên quảng trường thị trấn có tường bao quanh Puntadellesia. Họ đang uống những tách nhỏ cà phê Ý đen của địa phương, vừa chụp ảnh nhau trước một cái cổng bằng đá lớn, bên dưới trải ra một thung lũng những nông trại dường như đủ mọi màu sắc xanh, vàng, lá cây. "Khi nhìn thấy cảnh như thế, em hiểu người Thiên Chúa giáo nghĩ ra ý tưởng thiên đường ở đâu," anh nói. Và khi cô chả nói gì mà gật đầu, anh nghĩ chắc do trời nóng làm cô không nhiệt tình.

"Em uống ly nước chanh nhé? Hay ăn kem?" anh đã hỏi. Và khi cô không trả lời, chỉ đăm đăm nhìn anh bằng đôi mắt xanh lớn như màu của sapphire, anh lấy bản đồ Tuscany và trải ra trên chiếc bàn sắt màu xanh lá cây tròn. "Anh nghĩ tối nay mình sẽ lại ăn tối ở biệt thự," anh nói. "Suy cho cùng, khi mà mình có đầu bếp mà đi ăn ngoài thì thật vô nghĩa. Rồi mình có thể chạy xe tới Montrachet vào sáng hôm sau. Nghe nói ở bảo tang có vài bức tranh rất đẹp từ hồi thế kỷ mười sáu - Met đã cố có được chúng bao năm rồi nhưng người ta không cho phép chúng rời khỏi đất nước này, và chắc chắn không phải vùng quê này…

Thông thường, anh nghĩ cô sẽ thích câu đùa của anh. Nhưng thay vào đó anh nhận thấy trong mắt cô một vẻ lạ lùng, và đột nhiên, cô hất tách cà phê của mình xuống nền đá cuội.

"Anh không hiểu à?" cô hét lên. "Tôi đếch quan tâm tới mấy bức tranh thế kỷ mười sáu của anh."

Trong một lúc, họ chỉ đờ đẫn nhìn nhau, cả hai sợ hãi vì câu nói ác nghiệt của cô.

"Nhưng anh nghĩ…"

"Anh không nghĩ, Selden ạ. Anh chỉ làm… bất cứ thứ gì anh muốn… và anh muốn tôi cũng thích thế." Và rồi cô òa khóc nức nở.

Quảng trường đầy những người già - phụ nữ mặc đồ đen quàng khăn trên đầu và đàn ông chơi cờ - và tất cả nhìn họ, tự hỏi không biết có chuyện gì. Anh nghe được vài câu tiếng Ý, và cùng với những ánh mắt giận dữ của họ, anh hiểu họ đang tự hỏi tại sao "cái gã" kia lại "hành hạ" cô gái người Mỹ xinh đẹp.

Anh ném năm nghìn lira lên bàn và cầm lấy tay cô. "Đi nào," anh nói.

"Em không đi. Em nóng và mệt… Sao mình không đi Portofino hay Capri, nơi mình ít nhất biết vài người. Em chán ngấy nhữung người Ý già nua này rồi, em chán ngấy bảo tàng với nhà thờ bẩn thỉu này… Anh không thấy là chỗ này bẩn thỉu đến chết được à?"

"Nhanh lên," anh độp. "Trừ phi em muốn gặp cảnh sát."

Cô để anh dẫn ra xe. Và một khi vào xe, và họ bắt đầu chầm chậm chạy khỏi thị trấn, cô mới nín khóc. "Có chuyện gì thế?" anh hỏi. "Ngày trong tháng à?"

"Không, không phải ngày trong tháng," cô cáu kỉnh nói. "Em chán ngấy phải đi lại bằng ôtô. Em chán ngấy mì Ý. Và em chán tranh vẽ chết đi được."

"Nhưng mình đã bàn bạc," anh tuyệt vọng nói. "Em bảo em thích Caravaggio…"

"Mình chưa thấy Caravaggio gì cả…"

"Mình sẽ thấy. Mình sẽ tới Rome…"

Cô lại bắt đầu thút thít, nước mắt chảy xuống hai má.

Anh cho xe tạt vào bên trường. Cô là vật quý của anh. Anh không thể chịu đựng nổi việc nhìn cô bị tổn thương. Anh vòng tay quanh cô và kéo đầu cô gục lên vai anh. "Sao thế cưng?" anh khẽ hỏi. "Xin em đừng khóc mà. Em muốn làm gì?"

"Em muốn đi Capri," cô nói. "Hay ít nhất là Milan. Em muốn đi mua sắm. Và đồ ở đó rất rẻ…"

"Giờ đi Capri thì muộn quá rồi, nhưng mai mình sẽ đi Milan, anh hứa đấy," anh nói, nghĩ, với một chút ân hận, thật đáng tiếc phải rời khỏi biệt thự sớm ba ngày bởi anh phải mất hai mươi nghìn đô tiền thuê một tuần. Nhưng anh đủ thông minh để hiểu rằng đây không phải là lúc nghĩ tới chuyện tiền bạc. "Mình sẽ đi Milan," anh trấn an cô, "và mình sẽ ở một căn phòng suite ở khách sạn Bốn Mùa…"

Và rồi, khi họ sung sướng ở trong phòng suite một ngàn năm trăm đô một năm, khi cô mở hàng đống túi quần áo mà anh đã mua (được giảm giá - ơn Chúa là đám nhân viên đã nhận ra cô), anh bảo rằng nếu có gì cô cảm thấy không vừa lòng, cô chỉ việc nói với anh rằng mình thấy thế nào và anh sẽ hiểu…

Lúc này, quay lại New York và chuẩn bị ngày đầu tiên đi làm sau khi cưới xong, anh nghĩ đến những thay đổi nhỏ khi bắt đầu một cuộc hôn nhân, và có khi cuộc hôn nhân này phải thay đổi nhiều. Xem xét sự thật rằng Janey và anh chỉ mới biết nhau hơn ba tháng, thì họ đang làm mọi thứ rất tốt, anh nghĩ, thắt cà vạt trước gương. Và sáng hôm đó cô đã làm cho anh cực khoái đến đê mê. Và nhớ tới chuyện đó, đột nhiên anh thấy nhớ cô, mặc dù cô chỉ ở ngay phòng kế bên.

Anh đeo chiếc đồng hồ vàng Bulgari quanh cổ tay gầy và rồi qua phòng khách vào phòng ngủ chính.

Cô đang trong phòng vệ sinh, cẩn thận trang điểm trước một cái gương tròn. Mắt cô cười với anh qua gương. Và anh bước tới sau cô, nâng tóc cô lên và khẽ hôn lên gáy cô.

"Chào anh yêu," cô nói.

"Chào bà Rose," anh nói. "Thế cả ngày nay em phải làm gì?"

"Đi xem trình diễn thời trang. Với Mimi. Bọn em sẽ chọn quần áo cho mùa tiếp theo," cô vui vẻ nói.

"Anh nghĩ em nên làm người mẫu quần áo."

"Ừmmmm," cô nói, nhắm một mí mắt lại để đánh mí màu tím. "Cả đống việc… mệt kinh… và tất cả bọn con gái họ dùng đều trẻ và ngực phẳng - họ không muốn phải trả cho chúng… Anh có tiếc mình bị lỡ mất lễ Emmy không?" đột nhiên cô hỏi. "Em đọc trên báo thấy bộ phim của Johnny Block đạt giải…"

"Emmy thì năm nào chả có. Tuần trăng mật của chúng ta thì chỉ có một lần trong đời.

"Ừa," cô nói. "Em nghĩ là… Dù sao, luôn có giải Cầu Vàng. Và Oscar…"

"Mấy cái đó còn xa lắc," anh dễ chịu nói, không muốn bảo với cô rằng CEO của MovieTime lẽ ra phải hộ tống một trong những nữ diễn viên của họ. "Anh đang nghĩ," anh nói, thay đổi chủ để khi ngồi lên rìa bồn tắm Jacuzzi. "Sao tối nay mình không ở nhà nhỉ? Đêm đầu tiên chúng mình quay về, và mình có thể gọi phục vụ phòng… trứng cá và thịt bò với xốt béarnaise…"

Trong một giây, anh nghĩ mình nhìn thấy ánh mắt kỳ lạ của cô mà anh đã thấy lần đầu tiên ở Tuscany, nhưng cô nói vẻ nuối tiếc, "Ôi Selden. Anh biết là không được mà. Tối nay là đêm đầu tiên của Tuần lễ Thời trang, và mình phải tới dự chương trình của Calvin Klein và sau đó là bữa tối của ông ta, và rồi bữa tiệc Visionnaire lớn… Anh không phải đi. Nhưng nếu em không đi, mọi người sẽ coi là rất kỳ cục."

"Và chuyện đó," anh vừa đứng lên vừa nói, "là chuyện là anh bao giờ hiểu được."

"Ồ, nhưng anh sẽ hiểu, cưng ạ," cô nói, mỉm cười với anh. "Và mình còn có bữa tiệc Armani vào thứ Tư và lễ khai trương boutique mới của Prada, và thứ Năm, lễ trao giải thưởng của thị trưởng - mình tuyệt đối không được vắng mặt bởi chủ tịch của Victoria’s Seret muốn vợ chồng mình ngồi ở bàn ông ấy…"

Selden muốn vắng mặt trong tất cả các chuyện đó. Nhưng mắt vợ anh sáng rực lên vì phấn khích đến nỗi anh không nỡ lòng nào làm cô thất vọng. "Tối nay em muốn anh gặp em ở đâu?"

"Ở lều trong Bryant Park. Bảy giờ tối - anh đến muộn mười lăm phút cũng không sao, các show thường bắt đầu muộn đến nửa tiếng. Cứ đi thẳng vào trong - họ hứa cho anh một ghế hàng đầu tiên cạnh em…"

Đột nhiên cô quay lại và vòng tay ôm lấy anh. "Ngoan nào cưng," cô nói. "Hôm nay em sẽ nhớ anh lắm đấy. Em sợ mình không chịu đựng nổi tới lúc bảy giờ cơ."

"Nếu thế thì anh sẽ không đến muộn," anh nói, và tiếc khi phải tách người đi ra.

Vài phút sau, anh bước xuống đường và vào sau một chiếc Lincoln Town Car màu đen đưa đón anh đi làm hàng ngày. Anh ngồi ngả ra ghế da và cầm điện thoại lên, quay số văn phòng.

Thư ký của anh trả lời, "Tôi đây," anh hỏi. "Có ai gọi không?"

"Gordon White vừa gọi," cô kia nói. "Tôi có nên gọi lại cho anh ta?"

Vài giây sau, Gorden White, phó của anh ở MovieTime, gọi cho anh. "Selden, kỳ trăng mật thế nào?" anh ta nói.

"Tuyệt lắm," Selden nói.

"Anh xem lễ Emmy chưa?" Gordon hỏi.

"Jonny Block thắng. Với chúng ta, thế quá tuyệt."

"Nhưng anh ta không cám ơn MovieTime."

Selden cau mày và đột nhiên trở thành một con người khác. "Bảo bên bộ phận kinh doanh xem hợp đồng của anh ta," anh nói, nhìn ra ngoài cửa sổ khi chiếc xe bò qua Khách sạn Sherry-Netherland ở Đại lộ Năm. "Có khi có lỗ hổng. Xem thử anh có cách này tước đi uy tín của anh ta không."

***

Anh ta đi rồi! Janey nghĩ. Và đột nhiên thấy nhẹ nhõm.

Cô có thể thở được.

Cô đặt cây chổi trang điểm xuống và lăn ra giường. Không phải là cô không yêu Selden Rose - có những khoảnh khắc, những giờ, thậm chí nhiều ngày, cô yêu anh điên cuồng. Nhưng cũng có những khoảnh khắc, những giờ, những ngày, cô cảm thấy không hề yêu anh chút nào, khi cô nhìn anh và thấy sợ hãi rằng cô đã phạm sai lầm lớn nhất trong đời. Thật không thể biết được cảm giác nào mới là đúng, bởi ai cũng nói rằng sợ hãi là một phần tự nhiên, thông thường khi tiến hành kết hôn.

Khi nằm trên giường, cô nhớ lại những cảm xúc đã dẫn tới cuộc hôn nhân này. Cái khoảnh khắc định mệnh khi Mimi bảo với cô rằng cô ta đang hẹn hò Zizi đã khiến Janey nhớ ra sự thật nghiệt ngã của tình yêu và lãng mạn. Cái sự thật rằng sự lựa chọn chồng của một phụ nữ luôn bị giới hạn trong những người đàn ông muốn cô ta, không có chuyện ngược lại. Và khi cô lái xe từ nhà Mimi về chiều hôm đó, cô quyết định rằng mình không thể để bị tụt lại phía sau. Và vì vậy, như hàng triệu phụ nữ khác, cô đã buộc mình phải yêu người đàn ông đã phải lòng cô.

Thoạt đầu chuyện này không dễ gì. Và trong hai tuần đầu tiên, khi cô cho phép anh hộ tống cô đi quanh Hamptons và thậm chí nắm tay anh, mọi phần trong cô đều cưỡng lại điều đó. Cô thậm chí không thể buộc mình hôn nổi anh. Nụ hôn của anh nhỏ và cứng quèo, như của một ông già. Cái ý nghĩ phải làm tình với anh khiến cô thấy phát tởm. Nhưng dẫu vậy, anh kiên trì, còn cô nhìn và đợi, tìm những điểm tốt trong anh, hy vọng vào thời điểm khi đột nhiên anh có thể phá tan sự phòng vệ của cô…

Và sự nhiệt tình của Mimi giúp cô tiến tới. Không có gì một người phụ nữ đã có gia đình thích hơn việc ghép đôi cho người khác, và ngày qua ngày, cô ta liên tục lấy ra các ví dụ ủng hộ cho Selden: Anh ấy là loại đàn ông độc thân không hay có đâu; phụ nữ đã xếp cả hàng dài đợi hẹn hò với anh ấy. Anh có thể không phải là người Janey đã luôn tưởng tượng là mình sẽ lấy, nhưng người mà ta lấy cũng chả bao giờ là vậy. Janey đã hẹn hò với mọi đàn ông ở New York và không có mối quan hệ nào thành công cả. Mà Selden thì phát điên lên vì cô - những ai thấy họ đi cùng nhau đều nói thế - và lấy một người chồng yêu mình hơn là mình yêu anh ta vẫn là tốt hơn.

Và rồi cuối cùng, khoảnh khắc cô đổ cái rập vì anh cũng đến.

Họ đã hẹn hò được ba tuần thì anh gợi ý một chuyến đi đến Block Island trên chiếc thuyền của anh. Thoạt tiên cô chẳng hề muốn đi, nhưng Mimi đã chỉ ra rằng có thể giúp nhìn thấy một vẻ mới lạ của Selden. Và đúng thế thật: Cách xa khỏi sự hối hả và đua tranh của Hamptons, Selden thật sự lớn lên…

Con thuyền của anh tuyệt đẹp - một con Christ-Craft ba mươi foot bằng gỗ cổ có ghế đỏ. Ngay khi bước chân lên thuyền, tính cách Selden thay đổi ngay. Đột nhiên anh trở thành thuyền trưởng, lái con tàu với một sự nhuần nhuyễn vui sướng. Lần đầu tiên, anh không tập trung vào cô mà vào việc anh đang làm, và việc có được không gian như thế đã giúp cho tình cảm của cô phát triển. Đứng cạnh anh ở tay lái, cô uống bia với anh và cười cợt về những người xuẩn ngốc mà họ cùng quen biết, như Mauve Binchely. Và khi cô mặc bộ bikini màu hồng nhỏ xíu còn anh vòng tay quanh eo cô, cô nhận ra rằng, trong một trong vài lần ít ỏi trong đời mình, cô cảm thấy thoải mái với một người đàn ông. Không giống hầu hết những người đàn ông cô đã cặp kè, bản ngã của anh không bị thổi phồng lên…

Họ đến Block Island đầy gió thổi và mặn hương vị biển cả, và cả chiều đạp xe quanh đảo, đi picnic trên bãi biển đầy đá. Họ kể chuyện riêng cho nhau nghe. Và tối đó, khi họ ở trong cái khách sạn cổ rộng lớn trông ra cảng, việc vào giường với anh thật dễ dàng, và nụ hôn của anh không hề khô cứng chút nào. Sau đó, cô ngắm nhìn khuôn mặt anh. Anh có bộ xương hàm mạnh và các nét rất đều. Và mặc dù không có nét nào có thể coi là đẹp trai, cô thấy rằng mặt anh là loại mặt có thể trở nên đẹp trai nếu nhìn qua đôi mắt của người có tình yêu.

Và cô quyết định sẽ yêu anh.

Mặc dù đã cương quyết vậy, vẫn có những giây phút khi sắp sửa kết hôn cô thấy hoảng loạn đến nỗi đờ đẫn, không thể nói gì được, cô thấy như mình sắp sửa chết đuối. Và rồi cô mơ thấy mình chuẩn bị kết hôn, và khi đi tới bàn thờ, một người không đúng đang đợi ở đó. Và vào những ngày đó, khi cảm thấy hoảng loạn, tất cả những gì cô nhìn thấy là khuyết điểm của Selden.

Vào những ngày không tốt lành, những ngày cô cảm thấy mình không yêu anh, mọi thứ khác đều bị xóa sạch. Ngày thứ hai của họ ở Tuscany, Selden đi tất đen với xăng đan. Khi cô nhìn thấy anh như vậy, cô nhận ra cô không thể nào lấy anh. Và suốt buổi chiều hôm đó, khi họ đi "khám phá vùng quê" (có vẻ như là một trong những thú tiêu khiển của anh), những ngọn đồi vàng đẹp đẽ như trở nên vô hình truớc mắt cô - tất cả những gì cô hình dung là đôi tất sậm màu đó, đi trong đôi xăng đan da màu nâu. Đôi xăng đan của hãng Prada, nhưng ngay cả giày hàng hiệu cũng không thể cứu được một gã khỏi gu thẩm mỹ tồi tệ, và suốt cả buổi chiều cô khó chịu vì điều đó. Cô có nên hủy đám cưới? Nhưng hủy đám cưới chỉ vì một lý do vớ vẩn thế sao? Cô có nên bảo anh cởi tất ra không? Nhưng cô sợ là khi mình làm thế, giọng cô sẽ có vẻ kinh tởm ghê gớm làm lộ ra toàn bộ những khó chịu của cô về anh. Vì vậy cô không làm gì cũng không nói gì, chịu đựng sự tuyệt vọng đến buồn nôn, như một tù nhân trên đường đến chỗ máy chém.

Cuối cùng, khi họ kết thúc chuyến đi và nhìn thấy mốc bờ chỉ sang một con đường đất dẫn tới căn biệt thự của họ, anh nhận ra sự khổ sở của cô.

"Sao em im lặng thế?" anh nói.

Cô chỉ có thể sợ hãi gật đầu.

"Em sợ à?"

"Anh không sợ ư?" cô rụt rè hỏi.

"Dĩ nhiên là anh có hơi sợ," anh nói. Mắt anh chuyển từ con đường sang nhìn cô và anh giơ tay ra siết lấy tay cô. Dưới mặt trời Tuscan, đôi mắt màu nâu của anh ánh lên màu vàng. "Nhưng trên hết mọi thứ, anh biết bọn mình sẽ rất tuyệt khi ở bên nhau. Mình sẽ hạnh phúc. Mình sẽ có mọi thứ mình đã luôn muốn… Và anh rất nóng lòng được trao nó cho em, cưng ạ. Anh yêu em rất nhiều…"

Lúc anh cầu hôn cô anh cũng nói y hệt như vậy, một tuần sau chuyến đi tới Block Island. Họ lấy nhau năm ngày sau, và nếu anh lộ ra chỉ một tí lưỡng lự hay sợ hãi hay giận dữ, cô có thể tìm cách thoát ra khỏi nó.

Nhưng không. Anh quả không hổ danh là một CEO tại Splatch Verner.

Và, cô nghĩ, nằm trên giường trong phòng suite khách sạn Lowell và nhìn vào cái nhẫn cưới của mình (đó là một buổi chiều buồn cười - họ đã mua chiếc nhẫn này tại Harry Winston hôm trước khi họ đi Tuscany để tổ chức lễ cưỡi), vào ngày cưới, cô đã không hề sợ hãi. Cô hân hoan vì phấn khích và anh cũng vậy. Họ làm tình ngay khi thức dậy và rồi bắt đầu uống champagne, hết chai Cristal này đến chai kia, mà Selden đã đặc biệt đặt hàng từ Paris. Họ bơi trong bể bơi dài, nằm ngâm nước nóng, không thể quên được sự thật là chỉ trong vài tiếng, họ đã thành vợ thành chồng. Rồi họ cùng mặc quần áo. Cô mặc một chiếc đầm dài Valentino kiểu Grecian màu trắng cỡ chuẩn (nhưng vẫn giá sáu ngàn đô); anh mặc bộ vest Ralph Lauren với áo sơ mi hồng. Khi cô nhìn anh, cô tự hỏi trước đây mình đã nghĩ gì không biết, vì đột nhiên với cô, anh là người đàn ông đẹp nhất thế giới. Và cô nghĩ, một cách điên rồ, rằng mọi người khác cũng phải thấy như vậy.

Và rồi bốn vị khách của họ tới. Họ vẫn tự hào cười về chuyện đó – chuyện họ chỉ có đúng bốn khách, và những người đó được mời vì tình cờ họ cũng đi nghỉ ở Tuscany vào thời gian đó. Họ là Harold Vane và cô bạn gái mới nhất của ông ta, Mariah. - Cô này bằng tuổi Janey và là chủ một tạp chí mới ra đời về thời trang, liên tục bảo với Janey là cô may mắn đến mức nào - và Ross Jared cùng vợ anh ta, Constance, mà Selden quen ở Splatch Verner. Ross là CEO của bộ phận Internet và vợ anh ta là vũ công ba lê. Cô ta nhỏ bằng cỡ hạt đậu, Janey nghĩ, tóc đen, cao năm foot hai và có lẽ chưa đến một trăm pound. Cô ta hầu như không nói một lời nào nhưng có vẻ rất say, vì sau đó cô ta chạy qua bãi cỏ và nhảy cẫng lên như một nàng tiên.

Buổi lễ diễn ra trên một sân vườn lớn. Selden, một lần nữa, một cách kỳ diệu đã tìm được người trang trí hoa cho nó. Một vị cha Công giáo đã chủ trì cuộc hôn nhân (Selden có một người bà người Ý và bảo anh cảm thấy gắn bó với tôn giáo) và buổi lễ được tiến hành bằng tiếng Ý và Janey không hiểu một từ nào, trừ phần cô nói tên mình và rồi, "Con đồng ý."

Sau đó, ai đó bật nhạc của ban Grateful Dead và Allman Brothers lên, và rồi họ nhảy như điên. "Cưới là phải như thế này chứ," Harold Vane cứ liên tục nói đi nói lại. "Đây là đám cưới vui nhất mà tôi từng dự trong đời mình."

Và Janey đã nghĩ rằng nỗi sợ hãi đó đã biến mất vĩnh viễn.

Nhưng không. Kể từ lúc kết hôn, có rất nhiều lần cô thấy mình kinh tởm chồng mình ở một mức độ mà cô chưa bao giờ cảm thấy với bất kỳ người đàn ông nào trước đây. Cô bị kẹt với anh và những khuyết điểm của anh, như kiểu phải mất rất nhiều thời gian mới lôi được anh ra khỏi nhà. Bởi anh lúc nào cũng phải kiểm tra chìa khóa và ví tiền tới ba lần, và cái kiểu anh đứng giữa đường nói chuyện điện thoại, khiến cô phải đứng chờ có khi tới năm phút, và khi cô mở miệng phản đối, anh sẽ thô lỗ giơ tay lên. Hay cái bụng mỗi lúc mỗi phệ của anh, cái mông xẹp lép và cả thằng cu của anh – nó hoàn toàn bình thường, nhưng sao nó không thể to hơn một chút chứ? Và vấn đề là anh đã tước đi mọi cơ hội của cô. Khi cô nghĩ lại, cô băn khoăn sao mình không nhắm vào những người hoành tráng hơn.

Cho đến lúc kết hôn, cô luôn mộng tưởng khi lấy chồng, cô sẽ lấy hoàng tộc ở châu Âu hoặc là ngôi sao điện ảnh, hay một họa sĩ hay tiểu thuyết gia thành công. Cô đã tưởng tượng ra mình với ai đó ngoại lệ, ai đó trong mỗi phút giây đời mình đều vượt trội lên trên toàn bộ nhân loại. Và khi lấy Selden Rose, cô đã cự tuyệt không cho mình cơ hội đó một cách vĩnh viễn.

Chà, có lẽ không phải là vĩnh viễn. Selden đã liên tục bảo với cô rằng không có cách nào để dự đoán được một cuộc hôn nhân có thành công hay không, không thể nào biết được chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai. Chả quan trọng là đôi đó đã biết nhau năm năm hay năm phút trước khi cưới, điều quan trọng là phải tận dụng cơ hội, và phải cam kết. Và rồi sống từng ngày khi nó đến.

Điện thoại đổ chuông – hai tiếng chuông ngắn, báo hiệu cuộc gọi từ bàn tiếp tân – và cô cầm máy lên, biết rằng nhân viên tiếp tân báo Mimi đến. Cô mới ngu xuẩn làm sao, cô nghĩ, nhảy khỏi giường. Căn phòng suite đầy những thứ xa xỉ cô mua ở Milan – váy, giày, túi, thậm chí cả găng tay – và Selden đã rất dễ thương, và hào hứng, trả cho tất cả. Hiển nhiên là như mọi đàn ông, anh sẽ càm ràm về chuyện giá cả, lắc đầu trước một cái áo cổ lọ không tay gập thành một hình vuông nhỏ xíu mỏng dính tới một phần tư inch (‘năm trăm đô cho một mẩu vải không che nổi mông một đứa trẻ á?’ anh kêu lên). Nhưng cô có thể thấy trong ánh mắt anh lộ vẻ sung sướng khi được mua sắm quần áo cho cô vợ trẻ xinh đẹp của mình. Và cô cũng vui sướng khi tạo cho anh sự vui sướng đó…

Giá như thỉnh thoảng anh để cô yên! Cô nghĩ, lục lọi chiếc vali tìm chiếc áo cổ lọ. Lúc nào anh cũng bám lấy cô, nhìn ngắm cô, như thể anh rất thích thú muốn biết cô sẽ làm gì kế tiếp. Chỉ sáng hôm đó thôi, sau khi cô thổi kèn cho anh và họ ngồi ở bàn uống cà phê, đọc báo, đột nhiên anh đặt tách cà phê xuống, và cô nhận ra, khi đang lật trang báo, anh đang nhìn chằm chằm vào ngón tay cô. Cô bắt gặp ánh mắt anh, trừng trừng nhìn anh một phát. Anh bật cười e thẹn, và miệng anh ngoạc ra cười cái kiểu luôn khiến bụng cô quặn lên vì khó chịu. Giá như cô có thể huấn luyện để anh không cười như thế! "Tay em khi lật tờ báo đẹp quá," anh nói, nhoài tới dùng cả hai tay cầm lấy tay cô. Anh cúi đầu xuống và nhìn lên cô, xòe một tay ra để lộ tay cô, như thể nó là một con chim nhỏ, và rồi anh nhoài xuống hôn nó.

Cô có thể làm gì được đây? Cô không muốn tỏ ra không tử tế, nhưng cô có thể cảm thấy những giọt nước mắt bực bội dâng lên ở khóe mắt mình. "Ôi, Selden," cô nói. "Móng tay em nhìn tởm lắm…"

Chuông cửa reo và cô vội chạy ra mở. "Xin chào, quý cô đã có chồng," Mimi nói. "Gặp em, chị vui quá."

"Tuyệt vời nhỉ?" Janey nói, khi họ hôn nhau. Những khó chịu của cô về Selden biến mất khi đột nhiên cô nghĩ, Giờ thì tôi chả kém gì chị cả…

Cô nói lớn, "Chị vào đi. Dĩ nhiên là trong này lộn xộn lắm, bọn em vừa mới về tối hôm qua và hầu phòng vẫn chưa có dịp nào để dọn dẹp…"

"Đừng vì chị mà vội vã," Mimi nói, bước vào phòng khác. "Họ sẽ không dám bắt đầu khi mà không có chị, khi mà chị đã bỏ ra ngần ấy tiền cho buổi lễ Oscar… Thật là buồn cười quá, giờ em với Selden sống ở đây như một cặp vợ chồng. Em biết đấy, khách sạn Lowell là nơi tất cả đàn ông ở khi họ ly dị vợ."

"Ồ, em biết," Janey nói. Trong nhiều năm qua cô đã đích thân đến khách sạn Lowell vài lần.

Hai phụ nữ nhìn nhau vẻ thông hiểu. Giữa họ không phải là một tình bạn thực sự, nhưng có lẽ là một thứ cũng mạnh mẽ gần như vậy: Tình cảm tự nhiên mà hai người phụ nữ xinh đẹp dành cho nhau khi cùng trải qua những trải nghiệm tương tự trong đời.

Vài phút sau, họ hào hứng buôn chuyện khi chiếc xe kéo đưa họ đi trên Đại lộ Năm tới Phố 42, nơi các cuộc trình diễn thời trang diễn ra dưới những căn lều lớn màu trắng. Những cái đầu quay lại, và ý thức được rằng mình được chú ý chỉ khiến cuộc trò chuyện của họ thêm phần hào hứng. Khi họ tới cổng vào, đám đông thợ chụp ảnh tò mò nhìn lên và giơ máy ảnh lên.

"Rắc rối đến rồi đây," một người nhận xét.

"Họ là ai thế?"

"Janey Wilcox, người mẫu của Victoria Secret. Mimi Kilroy, người giao thiệp cực rộng," một kẻ rít lên.

"Gái hot."

"Trừ việc họ quanh quẩn ở đây vĩnh viễn."

"Gái hot đang già."

"Janey! Mimi! Ở đây," họ hét lên.

"Chào Janey, lấy chồng thế nào?"

"Chúng tôi muốn xem chiếc nhẫn!" một người nói.

"Chiếc nhẫn! Chiếc nhẫn!"

Janey chìa tay ra.

Mimi quàng tay qua eo bạn và kéo cô lại gần. "Selden thế nào?" cô hỏi. "Em có đang yêu điên cuồng không?"

"Anh ấy nói những câu vô cùng dễ thương lúc bọn em bay về đây," Janey nói. "Anh ấy cầm lấy tay em, và với vẻ cực kỳ nghiêm túc mà nói rằng, ‘Janey, chúng mình sẽ cai trị New York.’"

Họ mỉm cười để chụp ảnh.

  • Previous
  • 1
  • More pages
  • 8
  • 9
  • 10
  • 11
  • Next