• ShareSach.comTham gia cộng đồng chia sẻ sách miễn phí để trải nghiệm thế giới sách đa dạng và phong phú. Tải và đọc sách mọi lúc, mọi nơi!

Danh mục
  1. Trang chủ
  2. Pháo đài số
  3. Trang 30

  • Previous
  • 1
  • More pages
  • 29
  • 30
  • 31
  • More pages
  • 136
  • Next

Chương 23

Susan ngồi một mình trong không gian tiện nghi của Điểm 3. Cô nhâm nhi một tách trà thảo mộc hương chanh bốc hơi nghi ngút trong khi chờ đợi trình truy vết của mình phản hồi.

Với cương vị trưởng nhóm chuyên gia giải mã, Susan có vị trí làm việc với tầm nhìn tốt nhất. Chỗ của cô nằm ở mé trong vòng tròn các máy tính đầu cuối, đối diện với sàn khu Mật mã. Từ vị trí của mình, Susan có thể bao quát toàn bộ Điểm 3. Cô cũng có thể thấy, ở phía bên kia lớp kính trong suốt một chiều, TRANSRTL nhô lên sừng sững ở chính giữa khu Mật mã.

Susan xem đồng hồ. Cô đã đợi gần 1 tiếng rồi. American Remailers Anonymous có vẻ mất kha khá thời gian trong việc chuyển tiếp thư điện tử của North Dakota. Cô thở dài nặng nề. Bất chấp những cố gắng để quên đi cuộc nói chuyện sáng nay với David, từng từ từng chữ cứ quanh quẩn trong đầu cô. Cô biết mình đã khắc nghiệt với anh. Cô cầu mong anh vẫn ổn cả ở Tây Ban Nha.

Dòng suy nghĩ của cô bị cắt ngang bởi tiếng xì xì lớn của cánh cửa kính. Cô ngẩng lên nhìn và than thầm. Nhân viên giải mã Greg Hale đang đứng trên ngưỡng cửa mở.

Greg Hale là một người cao to, cơ bắp với mái tóc dày vàng hoe và khe cằm chẻ sâu. Anh ta là người ồn ào, vạm vỡ và thường xuyên ăn vận một cách quá lố. Các đồng nghiệp giải mã đã đặt cho anh ta biệt danh “Halite” - theo tên một loại khoáng chất. Hale vẫn luôn phỏng đoán đó là một loại đá quý hiếm nào đó - tương đồng với trí tuệ vô song và thể chất cứng rắn của mình. Nếu cái tôi cho phép Hale tham khảo một cuốn bách khoa toàn thư, hẳn anh ta sẽ khám phá ra đó chỉ là thứ cặn muối còn sót lại sau khi các đại dương khô cạn đi.

Như tất cả các chuyên gia giải mã của NSA, Hale có một mức lương khá khẩm. Tuy nhiên, anh ta chả ngần ngại gì trong việc thể hiện khả năng tài chính của bản thân. Hale lái một chiếc Lotus màu trắng có cửa kính nóc và một hệ thống loa siêu trầm điếc tai. Anh ta là một con nghiện phụ kiện công nghệ, chiếc xe chính là tủ kính trưng bày của Hale. Anh ta đã lắp đặt hệ thống máy tính định vị toàn cầu, cửa xe kích hoạt bằng giọng nói, một bộ phá sóng radar năm điểm, một thiết bị fax/điện thoại di động để anh ta không bao giờ bị gián đoạn với các dịch vụ liên lạc của mình. Biển số xe thửa riêng của anh ta ghi từ megabyte và được viền đèn neon tím.

Greg Hale đã được cứu vớt khỏi thời niên thiếu đầy rẫy những hành vi phạm pháp vặt vãnh bởi Quân chủng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Cũng ở đó, anh ta học về máy tính. Hale là một trong những lập trình viên giỏi nhất Thủy quân Lục chiến từng biết đến, thênh thang trên con đường hướng tới một sự nghiệp quân sự thành đạt. Nhưng 2 ngày trước khi hoàn tất đợt phục vụ chiến đấu thứ ba, tương lai của anh ta đột ngột thay đổi. Hale lỡ tay đánh chết một đồng ngũ Thủy quân Lục chiến trong cuộc ẩu đả khi say rượu. Môn võ thuật phòng vệ Hàn Quốc, Taekwondo, đã chứng tỏ độ nguy hiểm chết người vượt quá mức phòng vệ. Anh ta lập tức bị tước quân tịch.

Sau một thời gian ngắn ngồi tù, Halite bắt đầu tìm việc làm trong vai trò lập trình viên ở lĩnh vực tư nhân. Anh ta luôn công khai về biến cố đã xảy ra hồi còn phục vụ Thủy quân Lục chiến, đồng thời tạo ấn tượng cho các nhà tuyển dụng tiềm tàng bằng việc đề nghị làm việc không lương 1 tháng để chứng tỏ giá trị bản thân. Không thiếu người muốn tuyển dụng anh ta. Và một khi khám phá ra Hale có thể làm gì với máy tính, họ không bao giờ muốn để anh ta đi.

Cùng với việc tăng tiến năng lực chuyên môn tin học, Hale bắt đầu tạo lập những mối quan hệ trên khắp thế giới qua Internet. Anh ta là thế hệ mới của những kẻ cuồng không gian ảo với bạn bè qua thư điện tử ở mọi quốc gia, thường xuyên ra vào ban quản trị các tập san điện tử và những nhóm chat ở châu u. Anh ta đã bị 2 nhà tuyển dụng khác nhau sa thải vì sử dụng tài khoản làm việc của họ để tải ảnh khiêu dâm hộ vài người bạn.

“Cô đang làm gì ở đây vậy?” Hale hỏi, dừng bước trên ngưỡng cửa và nhìn chằm chằm vào Susan. Hiển nhiên, anh ta đã trông đợi rằng sẽ có toàn bộ Điểm 3 cho riêng mình vào ngày hôm nay.

Susan cố ép bản thân tỏ ra thoải mái. “Hôm nay là thứ Bảy, Greg. Tôi cũng có thể hỏi anh câu tương tự.” Nhưng Susan biết Hale đến làm gì ở đây. Anh ta là một con nghiện máy tính cuồng nhiệt. Bất chấp quy định về ngày nghỉ thứ Bảy, anh ta vẫn hay mò tới khu Mật mã vào các dịp cuối tuần để dùng hệ thống máy tính mạnh vô đối của NSA nhằm chạy những chương trình mới viết.

“Tôi chỉ muốn chỉnh lại vài dòng và kiểm tra thư điện tử của mình,” Hale nói. Anh ta nhìn cô với vẻ tò mò. “Cô không định nói đó là những gì cô đang làm ở đây đấy chứ?”

“Không hề,” Susan đáp.

Hale nhướn một bên mày với vẻ ngạc nhiên. “Không có gì phải e ngại hết. Chúng ta không có bí mật nào trong Điểm 3 này cả, nhớ không? Một người vì mọi người, mọi người vì một người.”

Susan nhấp trà chanh của mình và tảng lờ anh ta. Hale nhún vai và sải bước tới tủ để đồ ăn của Điểm 3. Đó luôn là điểm dừng đầu tiên của anh ta. Trong lúc bước qua phòng, anh ta thở dài thườn thượt và liếc mắt ngắm nghía đôi chân Susan đang duỗi ra dưới gần bàn. Susan chẳng buồn ngước lên, tự

động thu chân lại và tiếp tục làm việc. Hale nhếch mép cười.

Susan đã quen với việc Hale châm chọc mình. Câu bỡn cợt ưa thích của anh ta là về chuyện khớp thử để kiểm tra sự tương thích phần cứng giữa họ. Nó khiến Susan buồn nôn. Cô quá kiêu hãnh để phàn nàn với Strathmore về Hale, cứ lờ tịt anh ta đi dễ dàng hơn nhiều.

Hale lại gần tủ đựng thức ăn của Điểm 3 và đẩy cánh cửa lưới ra như một con bò mộng. Anh ta kéo một hộp Tupperware đựng đậu phụ ra khỏi tủ lạnh và cho vài miếng trắng trắng mềm mềm như thạch này vào miệng. Rồi anh ta tựa lưng vào bếp và vuốt phẳng chiếc quần Bellvienne màu xám cùng chiếc áo sơ mi hồ bột tinh tươm của mình. “Cô sẽ ở lại lâu chứ?”

“Cả đêm,” Susan dửng dưng nói.

“Hừm…” Halite hầm hừ với cái miệng đầy ắp. “Một thứ Bảy ấm áp ở đây, chỉ hai chúng ta.”

“Chỉ ba chúng ta,” Susan chen ngang. “Chỉ huy Strathmore ở trên tầng. Anh có thể sẽ muốn biến mất trước khi ngài ấy thấy anh.”

Hale nhún vai. “Ngài ấy có vẻ không bận tâm chuyện cô ở đây. Hẳn ngài ấy thực sự thích có cô bầu bạn.”

Susan buộc mình phải im lặng.

Hale cười khùng khục một mình và cất chỗ đậu phụ đi. Rồi anh ta vơ lấy một chai nhỏ dầu ô liu nguyên chất và uống vài hớp. Anh ta là một kẻ giữ gìn sức khỏe cực đoan và tuyên bố dầu ô liu sẽ quét sạch ruột cho mình. Những khi không ấn nước ép cà rốt vào miệng tất cả các thành viên khác trong nhóm, anh ta lại rao giảng về tác dụng kỳ diệu của liệu pháp làm sạch ruột.

Hale cất dầu ô liu đi và tới ngồi xuống trước máy tính của mình, ngay đối diện với Susan. Thậm chí ngồi ở phía bên kia trong vòng những chiếc máy tính đầu cuối, Susan cũng có thể ngửi thấy mùi nước hoa của anh ta. Cô nhăn mũi.

“Nước hoa được đấy, Greg. Dùng cả chai à?”

Hale gõ nhẹ lên máy tính của mình. “Chỉ dành cho cô thôi, cưng ạ.”

Trong khi anh ta ngồi đó chờ máy tính khởi động, Susan đột nhiên có một ý nghĩ thật bất an. Sẽ thế nào nếu Hale truy cập vào Màn hình Chạy của TRANSLTR? Chẳng có lý do nào để anh ta làm thế, nhưng Susan biết anh ta sẽ không bao giờ bị qua mặt bởi câu chuyện sống sượng về một chẩn đoán đã làm TRANSLTR bận bịu trong 16 giờ. Hale sẽ đòi biết sự thật. Sự thật là điều Susan không hề có ý định tiết lộ cho anh ta. Cô không tin tưởng Greg Hale. Anh ta không phải kiểu người của NSA. Susan đã phản đối việc chiêu mộ anh ta ngay từ đầu, song NSA khi ấy không có lựa chọn nào khác. Họ cần tuyển dụng Hale để kiểm soát thiệt hại.

Vụ thất bại tai tiếng Skipjack.

Cách đây 4 năm, trong nỗ lực tạo ra một chuẩn mực mã hóa duy nhất cho chìa khóa mở, Quốc hội đã giao việc viết một siêu thuật toán mới cho các nhà toán học giỏi nhất quốc gia, những người làm việc tại NSA. Kế hoạch là để Quốc hội thông qua đạo luật công nhận thuật toán mới là chuẩn mực quốc gia, nhằm giảm nhẹ sự không tương thích giữa các tập đoàn sử dụng các thuật toán khác nhau.

Tất nhiên, yêu cầu NSA giúp một tay vào việc cải tiến mã hóa chìa khóa mở cũng gần giống như yêu cầu tử tù tự đóng quan tài cho mình. TRANSLTR vẫn chưa được chế tạo ra vào thời điểm đó, một chuẩn mực mã hóa sẽ chỉ khiến việc sử dụng mật mã được nhân rộng và tăng độ khó cho công việc vốn đã khó khăn của NSA lên nhiều lần.

EFF hiểu rõ sự xung đột lợi ích này và đã vận động hành lang quyết liệt rằng NSA có thể tạo ra một thuật toán có chất lượng tồi - một thứ họ có khả năng giải mã. Để làm dịu nỗi quan ngại này, Quốc hội tuyên bố khi thuật toán của NSA hoàn tất, công thức sẽ được công bố để các nhà toán học trên thế giới kiểm tra chất lượng.

Một cách miễn cưỡng, nhóm Mật mã của NSA, do Chỉ huy Strathmore dẫn đầu, đã tạo ra một thuật toán và đặt tên nó là Skipjack. Skipjack được đệ trình lên Quốc hội để phê chuẩn. Các nhà toán học trên khắp thế giới tham gia đánh giá thử Skipjack đều bị ấn tượng. Họ báo cáo rằng đây là một thuật toán mạnh và không có khiếm khuyết, nó sẽ tạo ra một chuẩn mực mã hóa tuyệt vời. Nhưng 3 ngày trước khi Quốc hội chắc chắn bỏ phiếu phê chuẩn Skipjack, Greg Hale - một lập trình viên trẻ từ Bell Laboratories - làm cả thế giới sững sờ khi tuyên bố anh ta đã tìm thấy một cửa sau ẩn trong thuật toán.

Cửa sau này gồm vài dòng chương trình khôn ngoan mà chỉ huy Strathmore đã gài vào thuật toán. Nó được cài cắm khôn khéo tới mức không ai phát hiện ra, ngoại trừ Greg Hale. Đoạn bổ sung kín đáo của Strathmore quả thực cho phép bất cứ mật mã nào được viết bằng Skipjack có thể bị giải mã qua một từ khóa bí mật chỉ mình NSA biết. Strathmore thiếu chút nữa đã biến chuẩn mực mã hóa tương lai của quốc gia thành cuộc đảo chính tình báo lớn nhất NSA từng có. NSA sẽ nắm trong tay chìa khóa để giải mọi mật mã được viết ra tại Mỹ.

Đại đa số những người hiểu biết về máy tính đều phẫn nộ. EFF bổ nhào vào vụ tai tiếng này như một bầy kền kền, xé Quốc hội thành từng mảnh vì sự ngây thơ của họ và tuyên bố NSA là mối đe dọa lớn nhất cho thế giới tự do kể từ Hitler. Chuẩn mực mã hóa thế là đi tong.

Chẳng mấy ngạc nhiên khi 2 ngày sau, NSA tuyển dụng Greg Hale. Strathmore cảm thấy an tâm khi có anh ta ở bên trong làm việc cho NSA hơn là ở bên ngoài chống lại họ.

Strathmore đối diện thẳng thừng với vụ tai tiếng Skipjack. Ông bảo vệ quyết liệt hành động của mình trước Quốc hội.

Ông lập luận rằng việc đòi hỏi quyền riêng tư của công chúng rồi sẽ quay ra khiến họ điêu đứng. Ông nhất quyết khẳng định rằng công chúng cần ai đó canh chừng cho họ, công chúng cần NSA giải các mật mã để duy trì hòa bình. Những nhóm hoạt động như EFF lại suy nghĩ khác hẳn. Và từ đó, cả hai bên tranh đấu với nhau không ngừng nghỉ.

  • Previous
  • 1
  • More pages
  • 29
  • 30
  • 31
  • More pages
  • 136
  • Next