Công ty ngân hàng - đầu tư Stratton Oakmont chiếm trọn lầu một của một tòa nhà văn phòng lắp kính đen vươn cao 4 tầng từ đống bùn lầy của một vùng đầm phá mốc xì ở Long Island. Thực ra, cũng không đến nỗi tệ lắm. Phần lớn cái đầm cũ đã được cải tạo từ đầu những năm 1980, và đến nay nó hãnh diện với một quần thể văn phòng hạng nhất có bãi đỗ xe rộng mênh mông và nhà chứa xe ba tầng dưới lòng đất, nơi các nhân viên giao dịch của Stratton nghỉ giải lao giữa buổi chiều và thư giãn với một tiểu đội gái bán hoa.
Hôm nay, cũng như mọi ngày, khi chúng tôi dừng lại trước tòa nhà văn phòng, tôi thấy mình tỏ ra rất hãnh diện. Lớp kính đen có thể soi gương được lấp lánh sáng trong ánh nắng buổi sớm, nhắc cho tôi nhớ xem mình đã tiến xa đến đâu trong 5 năm qua. Thật khó tưởng tượng được rằng trên thực tế, tôi đã gây dựng nên Stratton từ buồng điện của một công ty chuyên buôn bán xe hơi đã qua sử dụng. Và giờ đây là… thứ này!
Ở mé phía tây của tòa nhà có một lối vào rất lớn đủ làm choáng ngợp tất cả những người đi bộ qua đó. Nhưng chẳng có ma nào của Stratton từng làm việc này cả. Đi lối đó quá xa trong khi thời gian là tiền bạc. Thay vào đấy, tất cả mọi người, kể cả tôi, đều sử dụng một cái dốc bê tông ở mé phía nam của tòa nhà, dẫn thẳng tới phòng họp của Ban Giám đốc.
Tôi chui ra khỏi chiếc limousine, nói mấy câu tạm biệt với George (anh ta chỉ gật đầu chứ không nói một lời nào), và sau đó tự mình leo lên cái dốc bê tông ấy. Khi đi qua những cánh cửa sắt, tôi có thể nhận ra những tiếng vọng mơ hồ của cái không khí ồn ào kinh khủng, chẳng khác gì tiếng ồn ào của một đám đông hỗn loạn. Với đôi tai tôi, đó lại là âm nhạc. Tôi đang thẳng tiến tới đó, đầy hăm hở.
Sau hơn chục bước chân, tôi ngoặt qua góc tường và đến nơi: phòng họp Ban Giám đốc Công ty Stratton Oakmont. Đó là một không gian rất rộng, còn hơn cả một sân bóng đá xét về chiều dài và gần bằng một nửa xét về chiều rộng. Đó là một không gian mở, không hề có vách ngăn và trần rất thấp. Những dãy bàn màu gỗ thích được bố trí san sát như trong phòng học và cả một biển áo sơ mi trắng bảnh bao di chuyển nháo nhào. Các nhân viên giao dịch đều cởi bỏ áo khoác của mình, và họ đang hét ầm ầm vào ống nghe của những chiếc điện thoại đen ngòm, tạo nên một âm thanh ồn ào kinh khủng. Đó là âm thanh của những chàng trai lịch thiệp sử dụng logic và lý trí để thuyết phục các chủ doanh nghiệp trên toàn nước Mỹ đầu tư tiền của mình cùng với Stratton Oakmont:
“Lạy Chúa, Bill ạ! Hãy vén váy lên, tóm lấy hai hòn dái của ông, và đưa ra một quyết định chết tiệt đi!”, tiếng Bobby Koch, một anh chàng người Ireland 22 tuổi mập mạp mới học hết trung học, một tay nghiền cocaine và có tổng thu nhập đã cân đối là 1,2 triệu đô la. Cậu ta đang nhiếc móc một chủ doanh nghiệp giàu có nào đó có tên là Bill sống ở đâu đó trên đất nước Hoa Kỳ này. Mỗi chiếc bàn đều có một máy vi tính màu xám bên trên, các con số và chữ cái màu xanh cứ nhấp nháy chạy ngang qua, cung cấp những thông số trích lục cổ phiếu cho các nhân viên của Stratton. Nhưng chẳng có ma nào thèm để mắt đến những thứ ấy. Họ đang quá bận rộn vã mồ hôi như tắm và thét lác vào những chiếc điện thoại màu đen trông chẳng khác gì những quả cà to tướng mọc ra từ tai họ.
“Tôi cần một quyết định, ông Bill ạ! Tôi cần một quyết định ngay lúc này!”, Bobby cáu kỉnh. “Steve Madden là đề tài mới nóng hổi nhất ở Phố Wall, và chẳng có gì phải nghĩ ngợi cả! Mẹ kiếp, đến chiều nay thôi, nó sẽ trở thành một con khủng long là cái chắc!” Bobby mới xuất viện Hazelden được hai tuần và lại bắt đầu có biểu hiện tái phát bệnh. Mắt cậu ta có vẻ như sắp lồi ra khỏi cái sọ Ireland rắn chắc. Quý vị có thể cảm nhận được những tinh thể cocaine đang tiết ra từ các tuyến mồ hôi của cậu ta. Lúc đó là 9 giờ 30 phút sáng.
Một nhân viên Stratton trẻ tuổi có mái tóc đen bóng mượt, khuôn mặt vuông chữ điền, một cái cổ bằng cỡ cả hòn đảo Rhode, trong tư thế ngồi thu lu, đang cố gắng giải thích cho một khách hàng về những điều hơn lẽ thiệt của việc cho cả vợ ông ấy tham gia vào quy trình đưa ra quyết định. “Có nói với vợ ngài không ạ? Ôi, đàn bà, khiến ta phát điên lên được?” Anh chàng này chỉ hơi hơi nhận ra rằng cái chất giọng New York của mình nặng như đeo đá vậy. “Ý tôi là, ngài nghĩ rằng vợ ngài nói với ngài khi bà ấy đi mua một đôi giày mới ạ?”
Cách đấy ba dãy bàn, một nhân viên Stratton trẻ tuổi có mái tóc xoăn tít màu nâu và mặt đầy trứng cá như thanh niên mới lớn đang đứng đuỗn ra như cái que thông nòng súng, chiếc điện thoại đen chũi kẹp dính giữa cằm và xương đòn. Hai cánh tay cu cậu dang ra như cánh máy bay, để lộ cả mảng mồ hôi lớn ở nách áo. Trong lúc cu cậu đang gào tướng lên vào máy điện thoại thì Anthony Gilberto, thợ may đo của công ty, đo người cậu ta để chuẩn bị may một bộ com lê. Suốt ngày, Gilberto đi từ bàn này sang bàn khác chỉ để lấy số đo của những nhân viên Stratton rồi may cho họ những bộ com lê với giá 2.000 đô la một bộ. Sau đó, anh chàng nhân viên Stratton trẻ tuổi kia ngửa đầu ra sau và dang rộng hai cánh tay hết cỡ, cứ như thể cu cậu sắp thực hiện một cú nhào xuống nước từ cầu bật ở độ cao 10 mét. Rồi cậu ta cất tiếng, với giọng điệu mà quý vị chỉ dùng khi ở vào thế vô phương kế: “Lạy Chúa tôi, ông tự ban ơn cho mình chắc, ông Kilgore? Và kiếm 10.000 cổ phiếu à? Xin mời, ông đang giết tôi ở đây đấy… ông đang giết tôi đấy. Ý tôi là, liệu tôi có phải bay ngay tới Texas để bẻ ngoéo tay ông không, bởi vì nếu phải làm thì tôi sẽ làm thế đấy!”.
Quả là tận tình! Tôi nghĩ bụng. Anh chàng có gương mặt non choẹt ấy hết lời quảng cáo cổ phiếu ngay cả khi đang sắm sửa quần áo! Văn phòng của tôi ở mé bên kia phòng họp, và khi len qua cái biển người nháo nhào ấy, tôi cảm thấy như Moses đi ủng cao bồi vậy. Các nhân viên giao dịch chạy lối này lối kia như thể đang dọn đường cho tôi đi vậy. Anh chàng nào tôi đi qua cũng nháy mắt hoặc mỉm cười với tôi như thể đang bày tỏ lòng cảm kích của họ vì được tận hưởng một mảnh đất thiên đường ngay trên Trái Đất do tôi tạo ra. Phải, họ là người của tôi. Họ đến với tôi để có được hy vọng, tình yêu, lời khuyên lẫn sự chỉ bảo, và tôi còn điên rồ gấp 10 lần tất cả bọn họ. Nhưng có một điều mà tất cả chúng tôi cùng sở hữu ngang nhau, đó là tình yêu không bao giờ cạn đối với cái không khí ồn ào khủng khiếp ở đây. Thật ra, với chúng tôi, không biết thế nào là đủ:
“Nhấc cái điện thoại quái quỷ lên đi nào!”, một trợ lý bán hàng tóc vàng nhỏ nhắn rít lên.
“Nhấc ngay cái điện thoại chó chết lên đi! Đó là công việc chết tiệt của quý vị đấy.”
“Tôi chỉ xin một cơ hội thôi mà!” “… 20.000 ở mức 8 rưỡi…”
“… lấy 100.000 cổ phiếu…”
“Cổ phiếu đang tăng vọt đấy!”
“Lạy Chúa tôi, Steve Madden là thương vụ nóng hổi nhất Phố Wall đấy!”
“Tiên sư thằng Merrill Lynch! Bữa nay nhắm mắm thối làm điểm tâm rồi.”
“Nhân viên giao dịch ở chỗ ông à? Kệ con mẹ thằng ấy nhé! Nó còn đang bận đọc báo Wall Street Journal số ra ngày hôm qua kia kìa!”
“… tớ kiếm được 20.000 lệnh B ở mức 4…” “Mẹ kiếp, là cái đéo gì chứ!”
“Ờ, được, nhưng mẹ kiếp cả ông nữa, cùng với cái Volkswagen chả ra đéo gì mà ông cưỡi tới đây ấy!”
Mẹ kiếp cái này, mẹ kiếp vào cái kia! Chỗ này văng đéo, chỗ kia văng đếch! Đó là ngôn ngữ của Phố Wall. Đó là tinh túy của cái không khí ồn ào khủng khiếp nơi này, và nó vượt qua tất thảy mọi thứ. Nó đầu độc quý vị. Nó dụ dỗ quý vị! Mẹ kiếp, nó làm cho quý vị thấy tự do thoải mái! Nó giúp quý vị đạt được mục tiêu mà quý vị không bao giờ dám mơ rằng mình có thể đạt được! Và nó cuốn tất cả mọi người đi, đặc biệt là tôi.
Trong số cả nghìn linh hồn ở cái phòng họp này, hiếm hoi lắm mới có một cơ thể ấm áp trên 30 tuổi; hầu hết đều mới ngoài 20. Đó là một đám đông điển trai, luôn tự cao tự đại và trong trạng thái thèm khát nhục dục rõ nét đến mức quý vị có thể “ngửi” thấy ngay. Quy chuẩn phục trang cho nam giới - những cậu bé mới đúng! - là một bộ com lê may đo theo yêu cầu, áo sơ mi trắng, cà vạt lụa và đồng hồ đeo tay vàng. Với phụ nữ, quân số chỉ đếm trên đầu ngón tay, thì là váy ngắn, cổ áo khoét sâu, áo lót độn căng và giày cao gót nhọn hoắt, càng cao càng tốt. Đó là kiểu trang phục bị nghiêm cấm trong cẩm nang nhân sự của Stratton nhưng lại được ban quản lý cực kỳ khuyến khích (nói rất chân thành).
Mọi thứ vượt khỏi tầm kiểm soát đến mức những nhân viên trẻ trung của Stratton động dục ngay dưới gầm bàn, trong các buồng tắm, trong phòng thay đồ, trong nhà để xe dưới hầm và dĩ nhiên là cả trong thang máy lắp kính của tòa nhà. Cuối cùng, để phần nào vãn hồi trật tự, chúng tôi phải ban hành một bản ghi nhớ nói rõ rằng tòa nhà là một khu vực không được phép làm tình trong khoảng thời gian từ 8 giờ sáng đến 7 giờ tối. Ngay trên đầu bản ghi nhớ là dòng chữ này, khu vực không được phép làm tình, bên dưới là hai hình người que vẽ rất chính xác về mặt giải phẫu học, đang trong tư thế yêu đương của loài chó. Chạy vòng quanh hai hình que đó là một vòng tròn màu đỏ khá dày với một đường chéo chạy qua tâm: Một ký hiệu Ghostbusters1 (Chắc chắn phải là một Phố Wall trước đã). Nhưng, lạy Chúa, chẳng ai nghiêm túc chấp hành cả.
1 Ghostbusters (Thợ săn ma) là một phim hài khoa học viễn tưởng năm 1984 kể về ba chuyên gia cận tâm lý học trở thành những thợ săn ma ở New York. Sau khi bị tống cổ khỏi một trường đại học, để mưu sinh, ba giáo sư nghiên cứu cận tâm lý học chuyên về ma buộc phải lập một công ty lấy tên là Ghostbusters, chuyên cung cấp dịch vụ phát hiện và tiêu diệt ma quỷ. Sau thành công đầu tiên, họ trở nên đắt khách không chỉ ở New York mà còn khắp cả nước.
Mặc dù vậy, mọi việc vẫn tốt đẹp và đem lại cảm giác hoàn hảo. Tất cả mọi người đều trẻ trung và xinh đẹp, họ đang chớp lấy từng thời khắc. Chớp lấy từng thời khắc - chính câu thần chú kinh doanh này đã cháy ngùn ngụt trong trái tim và tâm hồn của tất cả những nhân viên trẻ tuổi của Stratton và rung lên trong những trung khu khoái cảm cực kỳ tinh nhạy của một nghìn bộ óc vừa mới qua tuổi vị thành niên này.
Và ai có thể phản bác được sự thành công như thế chứ? Lượng tiền được làm ra tăng lên đến chóng mặt. Một nhân viên giao dịch lính mới tò te cũng có thể kiếm được 250.000 đô la trong năm đầu tiên. Nếu ít hơn thì anh ta thật đáng ngờ. Vào năm thứ hai, quý vị sẽ kiếm ra 500.000 đô la hoặc quý vị bị coi là kém cỏi và vô giá trị. Và sang năm thứ ba, tốt hơn hết là quý vị phải kiếm ra 1 triệu hoặc hơn thế, nếu không quý vị chỉ là một thứ trò cười tội nghiệp. Mà đây mới chỉ là mức tối thiểu thôi; những tay tổ còn kiếm được gấp ba lần số đó.
Và từ đó, tiền bạc cứ thế chảy xuống. Các trợ lý bán hàng, vốn là những thư ký môi son má phấn, kiếm được hơn 100.000 đô la một năm. Ngay cả cô gái ngồi trực tổng đài cũng thu được 80.000 đô la một năm, mà chỉ phải trả lời điện thoại thôi. Không kém gì một cơn sốt vàng trước kia, và Lake Success trở thành một thành phố phát triển cực nhanh. Những nhân viên trẻ tuổi của Stratton, những đứa trẻ thì đúng hơn, bắt đầu gọi nơi này là Broker Disneyland, từng người trong số họ đều biết rằng nếu họ bị tống ra khỏi cái công viên giải trí ấy thì họ sẽ không bao giờ còn kiếm được số tiền như thế nữa. Và tâm lý lo sợ tuyệt vời ấy luôn tồn tại trong “nền móng” hộp sọ của tất cả các nhân viên Stratton - rằng sẽ có ngày nào đó anh bị mất việc. Vậy thì họ phải làm gì? Nói cho cùng, khi là một nhân viên của Stratton, quý vị sẽ được tận hưởng cuộc sống: Lái những chiếc xe xịn nhất, ăn tại các nhà hàng nổi tiếng nhất, đưa tiền boa hậu hĩnh nhất, mặc loại quần áo đẹp nhất và sống trong một biệt thự ở khu Bờ biển Vàng thần tiên thuộc Long Island. Thậm chí nếu chỉ mới bắt đầu và chưa hề có tên tuổi gì, quý vị hãy cứ vay tiền từ bất kỳ ngân hàng đủ dở hơi nào chấp nhận cho quý vị vay tiền, bất kể lãi suất, và bắt đầu tận hưởng cuộc sống, dù quý vị sẵn sàng hay chưa.
Mọi việc vượt khỏi tầm kiểm soát đến mức những thằng nhóc mặt vẫn còn đầy mụn trứng cá của tuổi dậy thì và chỉ mới làm quen với dao cạo râu cũng biết đi dự các cuộc vui và mua biệt thự. Một số cu cậu còn trẻ đến mức chưa bao giờ dám nhập cuộc; chúng vẫn cảm thấy việc ngủ ở nhà với ba mẹ thoải mái hơn. Vào dịp hè, bọn họ thuê những căn nhà sang trọng ở Hamptons, có bể bơi nước nóng và không gian cực đẹp nhìn thẳng ra Đại Tây Dương. Ngày nghỉ cuối tuần, họ tổ chức những bữa tiệc cuồng loạn suy đồi đến mức luôn luôn phải để cảnh sát can thiệp. Các ban nhạc sống tới biểu diễn; đội quân tiếp thị quảng cáo đủ loại đĩa hát; những thiếu nữ Stratton cởi trần nhảy múa; đội múa thoát y được coi như khách quý; và chắc chắn là đến một thời điểm nào đó, đám nhân viên Stratton này sẽ khỏa thân rồi bắt đầu làm tình ngay dưới bầu trời xanh trong, như một bầy gà vịt trong nhà, vui vẻ thực hiện một màn biểu diễn cho bàn dân thiên hạ xem đến mát mắt.
Nhưng thế thì có gì là sai nào? Bọn họ nghiện ngập khi còn trẻ, được tiếp sức thêm nhờ thói tham lam và bay cao hơn cả những cánh diều. Mỗi ngày, món lợi bất chính càng tăng, vì ngày càng có nhiều người tìm vận may bằng cách cung cấp những yếu tố sống còn mà đám nhân viên Stratton trẻ tuổi cần để tận hưởng cuộc sống. Có những nhân viên giao dịch bất động sản bán cho họ những biệt thự hay thế chấp bảo đảm về tài chính; những chuyên gia trang trí nội thất phủ kín các biệt thự ấy với những món đồ đắt tiền; những chuyên gia thiết kế cảnh quan phục vụ sát đến tận đất (bất kỳ nhân viên Stratton nào bị bắt gặp đang xén bãi cỏ nhà mình sẽ bị ném đá đến chết); những thương nhân bán xe hơi sang trọng bán những chiếc Porsche, Mercedes, Ferrari và Lamborghini (nếu lái chiếc xe nào rẻ hơn thế thì quý vị sẽ bị coi là nỗi nhục chung); có những nhân viên quản lý bồi bàn giữ sẵn bàn tại các nhà hàng danh giá nhất; có những con buôn vé lùng bằng được những chỗ ngồi ở hàng ghế đầu trong các sự kiện thể thao, chương trình hòa nhạc rock và những buổi biểu diễn sân khấu Broadway; và có cả tá thợ kim hoàn, thợ làm đồng hồ, thợ may, thợ đóng giày, người trồng hoa, chủ khách sạn, thợ cắt tóc, thợ chăm sóc thú nuôi, chuyên viên xoa bóp, chuyên gia chữa bệnh bằng phương pháp nắn xương khớp, người bán xe hơi và tất tần tật những nhà cung cấp dịch vụ chuyên biệt2 (đặc biệt là đám gái bán hoa và bọn buôn ma túy) sẵn sàng xuất hiện tại phòng họp này và cung cấp những dịch vụ của họ đến tận chân những nhân viên trẻ tuổi của Stratton, cho nên những nhân viên ấy sẽ chẳng phải mất dù chỉ là một giây trong quỹ thời gian bận rộn trong ngày của họ hay dính dáng đến bất kỳ hoạt động ngoại khóa nào không trực tiếp làm tăng khả năng thực hiện một hành động duy nhất của họ: Bấm số điện thoại. Có vậy thôi. Quý vị cười và bấm điện thoại từ giây đầu tiên bước vào văn phòng cho đến giây cuối cùng quý vị ra về. Nếu quý vị thấy chưa đủ động lực để làm việc này hoặc không thể chịu được cái cảnh liên tục bị đám thư ký ở tất cả 50 bang từ chối bằng cách dập điện thoại đến 300 lần một ngày thì sau lưng quý vị đã có cả chục người sẵn sàng làm công việc đó. Và khi đó thì mời quý vị ra đi - vĩnh viễn.
2 Nguyên văn: niche-service.
Vậy Stratton đã phát hiện ra bí quyết gì khiến cho tất cả những chú nhóc còn quá trẻ này kiếm được số tiền lớn đến như vậy? Chủ yếu điều đó dựa trên hai chân lý đơn giản: Thứ nhất, đa số trong 1% những người Mỹ giàu nhất là những con bạc máu mê không đủ kiên nhẫn để gieo mãi viên súc sắc, cho dù họ biết viên súc sắc ấy đã bị moi ruột để lừa họ; và thứ hai, ngược với những giả thiết trước, những nam thanh nữ tú cùng sở hữu phong thái lịch thiệp xã hội chung của một đàn trâu cuồng dục và có chỉ số thông minh trong phạm vi của Forrest Gump2, có thể được dạy dỗ để trở thành những thầy phù thủy Phố Wall, chừng nào quý vị viết rõ từng chữ ra cho họ và sau đó liên tục nhồi nhét vào đầu họ - hằng ngày, hay mỗi ngày một lần - trong suốt cả năm trời là được.
2 Tên nhân vật trong bộ phim cùng tên sản xuất vào năm 1994 và đã giành được nhiều giải thưởng có uy tín trên thế giới, thu được 667 triệu đô la ngay sau khi phát hành. Forrest Gump là người thiểu năng trí tuệ, có chỉ số IQ chưa đến 80.
Và khi cái bí quyết nho nhỏ này bắt đầu lan rộng khắp Long Island - rằng có một văn phòng xô bồ tại Lake Success, nơi tất cả những gì quý vị phải làm là trình diện, tuân lệnh, tuyên thệ trung thành mãi mãi với ông chủ, và ông ấy sẽ làm cho quý vị giàu có, thì đám trẻ ranh bắt đầu xuất hiện ở phòng họp mà không hề báo trước. Ban đầu còn ít nhưng sau đó thì họ đổ xô tới. Đầu tiên mới chỉ có bọn trẻ ở các quận trung lưu ven Queens và Long Island nhưng sau đó thì nhanh chóng lan ra khắp tất cả năm khu của thành phố New York. Tôi chưa kịp hiểu thì họ đã đổ xô đến từ khắp nước Mỹ, chỉ để xin xỏ việc làm từ tôi. Những chú nhóc đó đã vượt nửa chiều dài đất nước để đến phòng họp này của công ty Stratton Oakmont, thề thốt sẽ trung thành mãi mãi với Sói già Phố Wall. Và phần còn lại, như họ nói, là lịch sử Phố Wall.
Như thường lệ, Janet* - trợ lý riêng cực kỳ trung thành của tôi - ngồi trước bàn của cô ấy, bồn chồn đợi tôi đến. Lúc này, cô ấy đang gõ gõ ngón trỏ phải lên mặt bàn và lắc lư cái đầu như muốn nói: “Thế chó nào mà mình cứ phải mất cả ngày chỉ chăm chăm vào chuyện khi nào thì lão sếp dở hơi của mình mới quyết định vác mặt đến sở nhỉ?”. Hoặc có thể đó chỉ là do tôi tưởng tượng trong khi cô ấy chỉ đơn giản thấy chán. Nhưng dù sao thì cái bàn của Janet cũng được bố trí ngay trước cửa phòng tôi, cứ như thể cô ấy là hậu vệ biên tấn công có nhiệm vụ bọc lót cho tiền vệ vậy. Đấy chẳng phải là chuyện ngẫu nhiên. Trong rất nhiều chức năng của mình, Janet còn có chức năng là người gác cổng của tôi. Nếu muốn gặp tôi hoặc thậm chí muốn nói chuyện với tôi, trước tiên quý vị phải qua Janet đã. Đó không phải là một nhiệm vụ đơn giản. Cô ấy bảo vệ tôi giống như một con sư tử cái bảo vệ con của nó, sẵn sàng trút cơn giận đôi khi rất chính đáng của mình lên bất kỳ một linh hồn sống nào tìm cách chọc thủng phòng tuyến.
Vừa nhìn thấy tôi, Janet liền nở một nụ cười ấm áp, và tôi dành chút thời gian nhìn ngắm cô nàng. Cô ấy mới chỉ gần 30 nhưng trông già hơn đến vài tuổi. Cô ấy có một mái tóc màu nâu sậm rất dày, nước da trắng trẻo và một thân hình rắn rỏi. Cô ấy có đôi mắt xanh biếc rất đẹp, nhưng man mác một nỗi buồn không tên, cứ như thể đôi mắt ấy đã chứng kiến quá nhiều nỗi buồn khổ vì một ai đó từ khi còn rất trẻ. Có lẽ đó là lý do tại sao Janet đến nơi làm việc hằng ngày mà ăn mặc như Thần Chết vậy. Phải, từ đầu đến chân, cô ấy luôn mặc đồ đen, hôm nay cũng không phải là ngoại lệ.
* Tên đã được thay đổi.
“Chào sếp”, Janet lên tiếng, miệng cười rạng rỡ và trong giọng nói cô ấy hơi có phần không vui. “Sao sếp đến trễ vậy?”
Tôi mỉm cười thân mật với cô trợ lý cực kỳ trung thành của mình. Trên thực tế, bất chấp vẻ ngoài như đưa đám của Janet cùng với ham muốn bất tận của cô ấy là được biết tất tần tật mọi chuyện ngồi lê đôi mách về đời tư của tôi, cứ nhìn thấy cô ấy là tôi thấy vô cùng hài lòng. Cô ấy là đối trọng của Gwynne trong văn phòng. Cho dù là việc thanh toán các hóa đơn của tôi, quản lý các tài khoản môi giới của tôi, duy trì tiến độ của tôi, sắp xếp việc đi lại cho tôi, trả tiền cho gái bao của tôi, giao dịch với đám buôn ma túy của tôi, hay nói dối bất kỳ cô nàng nào hiện là vợ tôi, không có nhiệm vụ nào quá lớn hoặc quá nhỏ mà Janet lại không vui vẻ hoàn thành. Cô ấy quả là xuất sắc và không bao giờ gây ra sai sót.
Janet cũng lớn lên ở Bayside, nhưng cha mẹ cô ấy đều đã mất khi cô ấy còn nhỏ. Mẹ cô ấy là một phụ nữ lương thiện, nhưng cha cô ấy lại bạc đãi bà cụ, quả là một tay đốn mạt. Tôi đã luôn cố gắng hết mình làm cho cô ấy cảm thấy được yêu thương, cảm thấy được cần đến. Và tôi bảo vệ cô ấy chẳng khác gì cô ấy bảo vệ tôi.
Tháng trước, khi Janet lấy chồng, tôi đã dành cho cô ấy một lễ cưới hoành tráng và hãnh diện dẫn cô ấy vào giáo đường. Hôm đó, cô ấy mặc một chiếc váy cưới hiệu Vera Wang trắng như tuyết - do tôi trả tiền và đích thân nữ công tước chọn lựa. Nàng còn dành ra cả hai tiếng đồng hồ trang điểm cho Janet (Phải, nữ công tước cũng là một nghệ sĩ trang điểm đầy hoài bão). Trông Janet vô cùng lộng lẫy.
“Chào em”, tôi đáp lời kèm theo một nụ cười thân mật. “Hôm nay cả phòng có vẻ vui, nhỉ?”
Giọng nghe thiếu sinh khí: “Lúc nào chả vui, nhưng sếp vẫn chưa trả lời em. Tại sao sếp đến trễ vậy?”.
Cô ấy đúng là một ả đàn bà cao ngạo, mẹ kiếp, lại còn tọc mạch nữa. Tôi buông một tiếng thở dài và nói: “Nadine có gọi đến không?”.
“Không ạ. Nhưng sao ạ? Có chuyện gì vậy ạ?” Những câu hỏi dồn dập. Rõ ràng cô nàng cảm nhận được có chuyện để buôn đây.
“Không có gì đâu, Janet. Anh về nhà muộn, và Nadine say rượu nên hắt cả một ly nước vào anh. Có thế thôi; ờ thật ra là ba ly, nhưng ai lại đi đếm cơ chứ? Dù sao đi nữa thì phần còn lại của câu chuyện nói ra không tiện, nhưng anh cần tặng hoa cho cô ấy ngay bây giờ, nếu không thì chưa hết ngày, anh đã phải săn tìm cô vợ thứ ba mất.”
“Em cần gửi bao nhiêu đây?”, cô ấy hỏi, cầm một mảnh giấy nhắc việc và cây bút Montblanc lên.
“Anh cũng chẳng biết… khoảng 3000 hoặc 4000 gì đó. Chỉ cần bảo họ gửi cả một xe tải đầy tổ bố. Nhớ yêu cầu họ gửi thật nhiều hoa loa kèn vào. Cô ấy thích hoa loa kèn.”
Janet nheo mắt và bĩu môi, cứ như thể định nói: “Anh đang vi phạm thỏa thuận ngầm của chúng ta rằng, một phần trong các quyền lợi em được hưởng có quyền được biết tất cả các chi tiết gay cấn, bất kể gay cấn đến mức nào!”. Nhưng vốn là người thạo đời, lại thêm trách nhiệm với công việc nên cô ấy chỉ nói: “Được rồi, nhưng rồi anh nhớ kể cho em mọi chuyện đấy”.
Tôi gật đầu không mấy quả quyết. “Có thể, Janet, chúng ta sẽ tính sau. Giờ cho anh biết mọi việc ở đây nào.”
“Chà… Steve Madden xuất hiện đâu đó quanh đây, dường như anh ấy có vẻ bồn chồn. Em không nghĩ công việc hôm nay của anh ấy sẽ ổn.”
Lập tức một đợt adrenaline3 trào lên. Steve Madden! Thật mỉa mai là với tất cả những chuyện hỗn độn và cuồng loạn của buổi sáng nay, thực tế trong tâm trí tôi không hề nhớ rằng hôm nay hãng giày Steve Madden ra mắt công chúng. Thật ra, trong ngày, tôi sẽ gọi cho phòng đăng ký để đặt 20 triệu đô la. Không quá tệ đâu! Và Steve phải xuất hiện trước phòng họp cùng đôi lời phát biểu, một hình thức được gọi là “màn biểu diễn xiếc rong”4. Giờ thì chuyện đó sẽ thú vị đây! Tôi không chắc liệu Steve có phải là tuýp người có thể nhìn thẳng vào những đôi mắt man dại của tất cả đám nhân viên Stratton điên khùng kia mà chẳng hề vấp váp không.
3 Adrenaline là hormone đồng thời là neuron vận chuyển thuộc họ Catecholamine. Phân tử này cũng mang tên Epinephrine (nguồn gốc từ hai từ Hy Lạp: epi và neph-ros), có nghĩa là: Trên cùng thắt lưng. Nó được tiết ra khi đáp lại tình trạng stress hay khi thực hiện một hoạt động thể chất; gây tăng nhịp tim; tăng co thắt tim và tăng sức ép hệ động mạch.
4 Nguyên văn: Dog-and-pony show, từ thông dụng ở Mỹ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX để chỉ những gánh xiếc rong biểu diễn dạo ở các thị trấn nhỏ và vùng nông thôn, chủ yếu sử dụng chó và ngựa trong các tiết mục chính. Thuật ngữ này ngày nay được sử dụng trong kinh doanh, mô tả giai đoạn trước khi chào bán chính thức một cổ phiếu mới ra công chúng. Trong giai đoạn này, ban quản lý công ty thường đi khắp nước để trực tiếp thuyết trình về công ty mình với các nhà đầu tư tiềm năng nhằm khiến họ quan tâm mua cổ phiếu.
Những màn biểu diễn xiếc rong là một truyền thống của Phố Wall: Ngay trước khi một cổ phiếu mới phát hành ra thị trường, vị CEO của công ty ấy sẽ đứng trước một đám đông các nhân viên giao dịch chứng khoán và có một bài phát biểu được ghi âm lại, tập trung vào khía cạnh tương lai công ty của mình sẽ xán lạn như thế nào. Đó là một kiểu gặp mặt thân mật với rất nhiều loại đâm bị thóc chọc bị gạo và những cái bắt tay thật chặt một cách giả tạo.
Và còn có Stratton, nơi nhiều khi mọi chuyện trở nên rất xấu. Vấn đề là ở chỗ nhân viên Stratton không phải là những người thờ ơ nhất; họ chỉ muốn mua cổ phiếu và kiếm tiền. Vì thế nếu diễn giả không quyến rũ được họ ngay từ lúc mới mở lời thì họ sẽ nhanh chóng thấy chán. Khi đó họ bắt đầu la ó, huýt sáo rồi văng ra đủ thứ ngôn từ tục tĩu. Cuối cùng, họ sẽ ném mọi thứ vào diễn giả, bắt đầu với những tờ giấy vo tròn và tiếp đến sẽ chuyển sang những thực phẩm như cà chua thối, cẳng gà gặm nham nhở và táo ăn dở.
Tôi không thể để một kết cục thảm hại như thế trút xuống Steve Madden. Trước hết và trên hết, anh ấy là một người bạn thiếu thời của Danny Porush, phó tướng của tôi. Và thứ hai, cá nhân tôi sở hữu hơn một nửa trong công ty của Steve, vì thế gần như là chính tôi đang chuẩn bị đưa vụ làm ăn của mình ra công chúng. Khoảng 6 tháng trước, tôi đã góp với Steve 500.000 đô la vốn khởi nghiệp và trở thành cổ đông lẻ lớn nhất công ty, nắm giữ đến 85% cổ phần. Vài tháng sau, tôi bán bớt 35% cổ phiếu của mình được hơn 500.000 đô la một chút, thu hồi được khoản đầu tư ban đầu của mình. Giờ tôi nắm giữ 50% mà không lo lỗ nữa! Hãy kể về những vụ làm ăn có lời của quý vị đi!
Nói thật, chính quy trình mua cổ phần trong các công ty tư nhân rồi bán lại một phần vốn đầu tư ban đầu của mình (và thu hồi tiền) này đã biến Stratton thành một cỗ máy in còn hơn cả thời kỳ trước đây. Vì tôi sử dụng sức mạnh bộ máy của mình để giới thiệu chính các công ty của mình ra công chúng nên giá trị ròng của tôi cứ tăng lên không ngừng. Ở Phố Wall, cái quy trình này được gọi là “nghiệp vụ ngân hàng thương mại”, nhưng với tôi, nó giống như là cứ bốn tuần lại trúng một con lô vậy.
Tôi bảo Janet: “Anh ta sẽ ổn thôi, còn nếu không, anh sẽ đến đó và cứu anh ta ra. Còn chuyện gì khác không?”.
Với một cái nhún vai: “Ba anh đang tìm anh đấy, hình như ông cụ hơi say”.
“Ê, chết cha rồi!”, tôi lầm bầm. Ba tôi, Max, là Giám đốc Tài chính trên thực tế của Stratton và còn là Giám đốc “Cơ quan Mật vụ Gestapo” tự phong nữa. Ông cụ được “lên dây cót” căng đến mức mới 9 giờ sáng mà đã dạo khắp phòng họp với một cốc Styrofoam đựng đầy vodka Stolichnaya, miệng phì phèo điếu thuốc thứ 20. Trong thùng xe của ông cụ có hẳn một chai Louisville Slugger cỡ 42 ounce, với bút tích của Mickey Mantle5, cho nên ông cụ có thể đập tan “cửa sổ chó chết” của bất kỳ tay môi giới chứng khoán nào dám đỗ xe ở vị trí đỗ xe vinh dự của cụ. “Ba tôi có nói ông muốn gì không?”
5 Cầu thủ bóng chày nổi tiếng người Mỹ.
“Không!”, cô trợ lý trung thành của tôi đáp. “Em đã hỏi cụ, và cụ quát vào mặt em, như một con chó dữ. Cụ tỏ ra rất khó chịu với chuyện gì đó, và nếu anh định đoán thì em cho rằng chắc lại chuyện hóa đơn tháng 11 của bên American Express.”
Tôi nhăn mặt. “Em nghĩ thế à?” Ngay lập tức, con số nửa triệu hiện lên trong đầu tôi.
Janet gật đầu. “Ông cụ cầm xấp hóa đơn trên tay và chắc phải dày chừng này.” Khoảng trống giữa ngón cái và ngón trỏ của cô ấy phải cỡ 7 đến 8 centimet.
“Hừmmmmm…”, tôi mất một lúc cân nhắc chuyện hóa đơn của American Express, nhưng có thứ gì đó ở đằng xa khiến tôi chú ý. Nó đang lơ lửng… lơ lửng… cái chó gì thế không biết? Tôi nheo mắt. Lạy Chúa tôi, ai đó đã mang một quả bóng nhựa màu đỏ, trắng và xanh lam vào văn phòng! Cứ như thể trụ sở công ty Stratton Oakmont là một sân vận động, phòng họp này là sân khấu hòa nhạc và nhóm Rolling Stones sắp biểu diễn vậy.
“… Nó lại đang rửa cái bình nuôi cá chết tiệt của nó đây mà!”, Janet nói. “Thật không tin nổi.”
Tôi chỉ nghe được phần cuối những gì Janet nói, vì thế lầm bầm: “Ờ, phải, anh hiểu ý em là…”
“Anh chẳng nghe em nói gì cả”, cô ấy cằn nhằn, “cho nên đừng có giả vờ nữa đi”.
Chúa ơi! Còn ai khác ngoài ba tôi dám nói với tôi như thế chứ! Chà, có lẽ là vợ tôi, nhưng trong trường hợp của nàng, tôi đáng bị như vậy. Tuy nhiên, tôi yêu quý Janet, bất kể cái miệng lưỡi độc địa của cô ấy. “Vui đấy. Giờ nói cho anh biết em định nói gì.”
“Em định nói rằng em không tin nổi thằng ôn ở đằng kia”, cô ấy chỉ một chiếc bàn cách đó khoảng 20 thước, “tên nó là gì nhỉ, Robert hay gì gì đó, đang rửa cái bình nuôi cá của nó ngay giữa chỗ này. Ý em là, hôm nay là ngày phát hành đầu tiên! Anh không thấy thế là kỳ cục sao?”.
Tôi nhìn về hướng của thủ phạm đã được xác định: Một nhân viên Stratton trẻ - không, hoàn toàn không phải là một nhân viên Stratton - một thằng nhóc chẳng giống ai, với mớ tóc nâu quăn tít rất ngứa mắt và đeo nơ con bướm. Việc nó để một cái bình nuôi cá ở trên bàn chưa hẳn đã là chuyện lạ. Nhân viên Stratton được phép nuôi sinh vật cảnh tại văn phòng. Cho nên có rất nhiều cự đà, chồn sương, chuột nhảy, vẹt, rùa, nhện đen, rắn, cầy và bất cứ giống gì khác mà những kẻ điên kia có thể kiếm được bằng tập ngân phiếu dày cộp của họ. Thực tế, thậm chí còn có cả một con vẹt đuôi dài biết nói khoảng hơn 50 từ tiếng Anh sẵn sàng chửi cha quý vị nếu nó không bận bắt chước đám nhân viên Stratton quảng cáo cổ phiếu. Lần duy nhất tôi để ý đến chuyện nuôi sinh vật cảnh là khi một nhân viên mang tới một con tinh tinh đi patanh và đeo bỉm.
“Gọi Danny tới đây”, tôi càu nhàu. “Anh muốn gã trông thấy cái thằng ôn dịch kia.”
Janet gật đầu và đi triệu tập Danny, trong khi tôi đứng đó, vẻ cực kỳ sốc. Làm sao cái thằng giẻ rách đeo nơ bướm kia lại có thể mắc phải một hành động… tàn ác chó chết đến thế chứ? Một hành động đối chọi với tất cả mọi thứ mà phòng họp của Stratton Oakmont đang phấn đấu! Thật là báng bổ! Không phải là chống lại Chúa, dĩ nhiên rồi, mà là chống lại cuộc sống! Đó là hành vi vi phạm những quy tắc đạo đức tuyệt vời nhất của Stratton. Và hình phạt sẽ là… hình phạt gì đây nhỉ? Chà, tôi sẽ để việc đó cho Danny Porush, phó tướng của tôi, người rất có tài thi hành kỷ luật những nhân viên ương ngạnh. Nói thật, anh ta khoái chuyện đó.
Ngay sau đó, tôi nhìn thấy Danny đang tiến về phía mình, Janet lững thững phía sau, cách hai bước. Danny trông như thằng say, đấy là nếu coi thằng nhãi đeo nơ bướm kia là thứ rác rưởi cặn bã. Khi anh ta lại gần hơn, tôi dành chút thời gian ngắm anh ta, và tôi chẳng biết làm gì hơn là cười thầm rằng sao trông anh ta ăn mặc bình thường thế. Quả là rất nực cười. Trên thực tế, với cách ăn mặc như mọi ngày, với bộ com lê sọc nhỏ màu xám, áo sơ mi trắng là phẳng và cà vạt lụa đỏ, quý vị sẽ chẳng bao giờ đoán được rằng anh ta sắp thực thi cái mục tiêu đã tuyên bố công khai của mình là nện bất kỳ trợ lý bán hàng nào trong phòng họp này.
Danny Porush là một gã Do Thái cực kỳ nghiêm khắc. Anh ta có chiều cao và cân nặng đều ở mức trung bình, cao khoảng 1,7 mét và nặng 85 ký. Anh ta hoàn toàn không có đặc điểm gì rõ nét để có thể nhận ra là một thành viên dân Do Thái. Ngay đến cả đôi mắt màu xanh lơ của anh ta, có cái nhìn ấm áp chẳng khác gì núi băng trôi, không hề có lấy một chút Do Thái trong đó.
Nhưng như thế là thích hợp, ít nhất xét từ góc độ của Danny. Sau rốt, như nhiều người Do Thái trước mình, Danny luôn có một ước muốn bí mật đến cháy bỏng là được nhận nhầm là một gã WASP, và anh ta làm tất cả mọi việc có thể để khoác lên mình cái chất WASP hoàn toàn, bắt đầu từ hàm răng được tẩy trắng và nắn cho đến khi chúng to tướng và trắng ởn, tới cặp kính gọng đồi mồi màu nâu với mắt kính trong suốt (Danny có thị lực 20 - 20), tới đôi giày da đen được đóng theo yêu cầu và phần mũi giày bóng loáng đến soi gương được.
Đúng là một trò đùa ác nghiệt làm sao, nếu xét đến cái độ tuổi chín chắn 34, thì Danny đã đem tới một ý nghĩa mới cho thuật ngữ tâm lý bất bình thường rồi. Có lẽ tôi nên nghi ngờ từ 6 năm trước khi lần đầu gặp anh ta. Lúc đó tôi chưa khai trương Stratton và Danny đang làm việc cho tôi với tư cách nhân viên giao dịch tập sự. Lúc đó là mùa xuân, tôi đề nghị anh ta theo tôi tới Manhattan để gặp kế toán của tôi. Khi tới đó, anh ta thuyết phục tôi ghé lại một ổ ma túy ở khu Harlem, nơi anh ta kể cho tôi câu chuyện đời mình: Giải thích chuyện hai dự án kinh doanh cuối cùng của anh ta, một dịch vụ tin nhắn và một dịch vụ vận chuyển cấp cứu, đã sa sút ra sao. Anh ta còn giải thích chuyện đã kết hôn với Nancy, cô em họ con ông chú ruột mình như thế nào bởi vì cô nàng thật sự “búa bổ”. Khi tôi hỏi anh ta liệu anh ta có e ngại chuyện hôn phối đồng huyết thống không, anh ta thản nhiên trả lời rằng nếu anh ta đẻ ra một đứa con thiểu năng thì anh ta chỉ việc bỏ nó trên bậc cấp một cơ sở từ thiện nào đó, có vậy thôi.
Có lẽ ngay lúc đó tôi nên có một quyết định khác, khi nhận ra rằng một thằng cha như thế này có thể đem lại nhiều xui rủi cho mình. Thế nhưng, tôi lại cho Danny vay tiền để giúp anh ta gượng dậy, rồi đào tạo anh ta trở thành một chuyên gia môi giới chứng khoán. Một năm sau, tôi khai trương Stratton, cho Danny từ từ tham gia và trở thành một đối tác. Năm năm qua, Danny đã chứng tỏ mình là một chiến binh xuất sắc, đánh bật bất kỳ ai trên con đường của mình, củng cố vững chắc vị trí nhân vật số hai ở Stratton của anh ta. Và bất chấp những điều này, bất chấp sự điên khùng của anh ta, có một điều không thể phủ nhận là anh ta khôn ngoan như một chính trị gia, tinh ranh như một con cáo, tàn bạo như một gã Hung Nô, và trên hết thảy, trung thành như một con chó. Trên thực tế, hiện nay, tôi phải dựa vào anh ta để thực hiện hầu như tất cả những công việc nhơ nhớp của mình, một công việc anh ta say mê còn hơn mức quý vị có thể hình dung được.
Danny chào tôi theo kiểu xã hội đen, với một cái ôm rất chặt và một cái hôn lên má. Đó là biểu hiện của lòng trung thành và kính trọng, và trong phòng họp Ban Giám đốc Stratton Oakmont, đây là một cử chỉ được đánh giá cao. Mặc dù vậy, tôi vẫn thoáng nhìn thấy Janet, cô nàng cay nghiệt, đảo mắt như thể dè bỉu cái kiểu thể hiện lòng trung thành và tình cảm của Danny.
Danny buông tay để tôi thoát khỏi cái ôm kiểu Mafia của anh ta và lầm bầm: “Tôi sẽ giết thằng khốn kiếp ấy. Tôi thề có Chúa đấy!”.
“Đấy là một biểu hiện không tốt, Danny ạ, nhất là hôm nay”, tôi nhún vai. “Tôi nghĩ anh nên nói cho nó biết rằng cuối ngày hôm nay mà cái bình nuôi cá của nó không biến khỏi đây thì cái bình ấy sẽ ở lại còn nó thì cút xéo. Nhưng đó là việc của anh; hãy làm bất kỳ việc gì anh muốn.”
Janet xúi bẩy: “Ôi, lạy Chúa! Nó lại còn đeo nơ bướm nữa chứ!
Các anh có tưởng tượng được không?”.
“Tiên sư cái thằng chuột bọ khốn kiếp!”, Danny nói, bằng cái giọng điệu dùng để mô tả ai đó vừa hãm hiếp một bà xơ và bỏ mặc nạn nhân đến chết. “Tôi sẽ chăm sóc thằng ranh này ngay lập tức, theo cách của tôi!” Vẻ điên tiết, Danny hùng hổ tiến lại bàn gã môi giới và bắt đầu lời qua tiếng lại với gã.
Sau vài giây, gã kia bắt đầu lắc đầu như nói không. Lại lời qua tiếng lại, và thằng ranh lại lắc đầu. Giờ thì Danny bắt đầu lắc đầu, cái kiểu người ta vẫn làm khi đã hết kiên nhẫn.
Janet, vẻ từng trải: “Em không biết họ đang nói gì? Ước gì em có đôi tai điện tử giống Nữ nhân 6 triệu đô6. Anh hiểu ý em không?”
6 Biệt danh mô phỏng từ The Six Million Dollar Man, loạt phim truyền hình được phát sóng ở Mỹ trên kênh ABC từ năm 1974 đến 1978. Phim nói về một nhân vật hư cấu nửa người nửa máy (cyborg) làm việc cho OSI (Cục Tình báo Chiến lược). Phim dựa theo tiểu thuyết Cyborg của Martin Caidin (1927 - 1997).
Tôi lắc đầu khó chịu. “Thậm chí anh chẳng bận tâm với chuyện đó, Janet ạ. Nhưng làm gì có Nữ nhân 6 triệu đô. Chỉ có Nữ nhân sinh học7 thôi.”
7 Nguyên văn: Bionic Woman, là loạt phim truyền hình khoa học viễn tưởng gồm 8 trường đoạn của David Eick, phát sóng năm 2007, dựng lại từ loạt phim truyền hình gốc mang tên The Bionic Woman của Kenneth Johnson. Phim xoay quanh cô gái phục vụ quầy bar Jaime Sommers, được cứu sống sau khi trải qua một cuộc thử nghiệm y học. Trong khi vừa phải thích nghi với những sức mạnh sinh học mới của mình, vừa nuôi dạy cô em gái luôn tìm cách nổi loạn, Jaime đồng ý làm việc cho Berkut Group, một tổ chức tư nhân đã thực hiện cuộc phẫu thuật cấy ghép cho cô.
Lúc đó, Danny vươn bàn tay về phía tay trái đang cầm một cái vợt cá của gã môi giới, và bắt đầu vẫy lại gần, như thể nói: “Đưa cái vợt chết tiệt ấy đây!” Gã môi giới phản ứng bằng cách buông thõng tay, giữ cái vợt ở ngoài tầm với của Danny.
“Anh nghĩ anh ta sẽ làm gì với cái vợt ấy?”, Nữ nhân sinh học hỏi.
Trong đầu tôi lướt nhanh tất cả các khả năng. “Thật sự anh không chắc… Ờ, mẹ kiếp, anh biết chính xác là gì rồi…”
Ngay lập tức, còn nhanh hơn có thể, Danny giựt tung áo vest của mình, ném mạnh xuống nền, cởi khuy tay áo, kéo lên quá khuỷu và thọc tay vào cái bình cá. Cả cánh tay anh ta ngập trong nước. Rồi anh ta bắt đầu khoắng cánh tay khắp mọi phía, cố gắng tóm lấy con cá vàng vào lòng bàn tay mình. Gương mặt anh ta nặng như đeo đá, với cái nhìn của một người bị quỷ ám hoàn toàn.
Cả chục trợ lý bán hàng ngồi gần đó nhảy bật ra khỏi ghế rồi lùi lại đầy hoảng hốt khi nhìn thấy Danny đang cố bắt cho được con cá vàng vô tội.
“Ôi… lạy… Chúa”, Janet nói. “Anh ta giết chết con cá mất.” Rồi đôi mắt Danny trợn tròn và hàm anh ta trễ xuống đến cả gang tay. Đó là một gương mặt như đang nói: “Chết mẹ mày rồi!”.
Chỉ một phần giây sau, anh ta rút mạnh tay mình ra khỏi bình cá, bàn tay nắm chặt con cá vàng.
“Anh ta tóm được nó rồi!”, Janet kêu lên, đưa tay lên che miệng. “Ừ, nhưng vấn đề là anh ta sẽ làm gì nó?”, tôi ngừng lời một lát, rồi tiếp: “Nhưng anh sẵn sàng đánh cược với em 1.000 đô la, tỷ lệ 100 ăn 1, rằng anh ta sẽ ăn nó. Chơi không?”
Câu trả lời tức thì: “100 ăn 1 à? Chơi luôn! Anh ta sẽ không ăn nó! Như thế quá tởm. Ý em là…”
Janet bị cắt ngang vì Danny leo lên mặt một chiếc bàn và chìa hai tay ra, cứ như thể Chúa Jesus trên thập giá vậy. Anh ta rít lên: “Đây là kết cục khi đứa nào đú đởn với lũ sinh vật cảnh của mình vào đúng ngày phát hành cổ phiếu!”. Như chợt nhớ ra, anh ta nói tiếp: “Và đéo được đeo nơ bướm trong phòng họp! Việc đó kỳ cục… đéo chịu được!”
Janet vội đánh tháo: “Em muốn xí xóa vụ cá cược của em ngay bây giờ!”.
“Xin lỗi em, muộn quá rồi!”
“Thôi mà! Chẳng công bằng tý nào!”
“Cuộc sống cũng vậy mà, Janet.” Tôi nhún vai thản nhiên. “Em cần biết điều đó.” Và đúng như vậy, Danny há miệng và thả con cá vàng vào họng.
Có đến một trăm trợ lý bán hàng thở hắt ra cùng lúc, trong khi đám nhân viên giao dịch gấp 10 lần con số đó bắt đầu hò reo thán phục, tỏ lòng kính trọng đối với Danny Porush, đao phủ của sinh linh vô tội. Chưa bao giờ bỏ lỡ cơ hội cường điệu thêm, Danny đáp lại bằng một cái cúi đầu trịnh trọng, cứ như thể anh ta đang ở trên sân khấu Broadway vậy. Rồi anh ta nhảy xuống bàn trong vòng tay những kẻ ái mộ.
Tôi bắt đầu cười nhạo Janet. “Ờ, đừng lo chuyện trả anh tiền. Anh sẽ trừ vào số ngân phiếu của em.”
“Thách anh đấy!”, cô nàng rít lên.
“Được rồi, em có thể nợ anh!”, tôi mỉm cười và nháy mắt. “Giờ thì đi đặt hoa và mang cho anh ít cà phê. Anh phải bắt đầu ngày làm việc như khỉ này rồi.” Bước chân nhún nhảy và nụ cười trên môi, tôi đi vào văn phòng của mình và đóng cửa lại, sẵn sàng tiếp nhận bất kỳ điều gì thế giới trút lên mình.