Tháng 8 năm 1993 (bốn tháng trước)
Lạy Chúa, mình đang ở đếch đâu thế này?
Câu hỏi đầu tiên ấy nảy ra trong đầu tôi khi tôi thức giấc do tiếng rít không lẫn vào đâu được của bộ phận hạ cánh đang được hạ xuống từ phần bụng khổng lồ của một chiếc máy bay phản lực cỡ lớn. Từ từ tỉnh táo trở lại, tôi nhìn chiếc huy hiệu màu đỏ và xanh lam ở lưng ghế trước mặt mình và cố gắng nhớ ra mọi việc.
Rõ ràng, chiếc phản lực này là một chiếc Boeing 747; số ghế của tôi là 2A, một vị trí gần cửa sổ trong khoang hạng nhất, và lúc này đây, mặc dù mắt tôi đã mở nhưng cằm tôi vẫn gục xuống sát xương đòn đúng tư thế nằm ngủ, đầu tôi cảm thấy như thể đã bị cảnh sát nện bằng một chiếc dùi cui tuần đêm vậy.
Cảm giác khó chịu do rượu mạnh chăng?, tôi nghĩ bụng. Hay do Quaalude? Không đúng rồi.
Vẫn còn váng vất, tôi nghển cổ nhìn ra ô cửa sổ nhỏ phía bên trái mình và cố gắng lấy lại tinh thần. Mặt trời vừa nhô lên khỏi đường chân trời - buổi sáng! Một manh mối quan trọng đây! Tinh thần tôi phấn chấn hẳn. Tôi xoay đầu nhìn khắp lượt: Những rặng núi xanh trôi qua, một thành phố lấp lánh ánh đèn, một cái hồ màu ngọc lam rất rộng hình lưỡi liềm, một luồng nước khổng lồ bắn vọt lên không trung hàng chục mét - thật mê hồn!
Gượm đã. Mình đang làm quái gì trên một chiếc máy bay thương mại nhỉ? Phô trương quá! Vùng Gulfstream của mình đâu nhỉ? Mình đã ngủ bao lâu rồi? Lại còn bao nhiêu viên Quaalude nữa - Ôi, Chúa ơi! Mấy viên Restoril!
Một đám mây chán chường bắt đầu xuất hiện ở cuống não tôi. Tôi đã không tuân theo lời cảnh báo của bác sĩ, trộn Restoril với Quaalude, cả hai đều là thuốc ngủ nhưng thuộc hai nhóm xung khắc với nhau. Nếu uống riêng thì kết quả rất dễ đoán - sáu đến tám tiếng ngủ sâu. Nhưng uống chung với nhau thì kết quả là - kết quả là sao?
Tôi hít một hơi thật sâu và cố nén tâm trạng tiêu cực. Rồi tôi cũng nhớ ra - máy bay của tôi đang hạ cánh xuống Thụy Sĩ. Mọi việc rồi sẽ kết thúc ổn thỏa! Quả là một lãnh thổ thân thiện! Một lãnh thổ trung lập! Lãnh thổ Thụy Sĩ! Toàn những thứ rất Thụy Sĩ1 - những thỏi sôcôla sữa mịn màng, những nhà độc tài bị phế truất, những chiếc đồng hồ tuyệt đẹp, số vàng cất giấu của bọn Quốc xã, những tài khoản ngân hàng được đánh số, rửa tiền, những đạo luật bí mật ngân hàng, những đồng franc Thụy Sĩ và thuốc Quaalade Thụy Sĩ! Quả là một đất nước nhỏ bé tuyệt vời làm sao! Và rất diễm lệ khi nhìn từ trên cao! Không hề có lấy một tòa nhà chọc trời và chỉ có hàng nghìn ngôi nhà nhỏ nhắn rải rác đây đó ở vùng thôn quê đúng như trong sách. Và cái mạch nước phun kia nữa - thật không thể tin nổi! Ôi Thụy Sĩ! Họ thậm chí còn có hẳn loại Quaalude thương hiệu riêng của họ, lạy Chúa! Họ gọi thứ đó là Methasedil, nếu như trí nhớ của tôi không nhầm. Tôi tự nhủ phải nhớ nói với đám nhân viên gác cửa về chuyện đó.
1 Ở đây tác giả chơi chữ. Nguyên văn, “Swiss” là Thụy Sĩ nhưng cũng đồng âm với “sweet” là ngọt ngào.
Cho dù thế nào thì quý vị cũng sẽ thấy yêu Thụy Sĩ - bất kể thực tế là một nửa đất nước này toàn dân Pháp và một nửa còn lại toàn dân Đức. Đó là kết quả cuối cùng của hàng thế kỷ chiến tranh và phản bội chính trị; đất nước này bị chia làm hai, với thành phố Geneva là trung tâm của dân Pháp, nơi người ta nói tiếng Pháp, còn thành phố Zurich là trung tâm của dân Đức, nơi người ta nói tiếng Đức.
Theo thiển ý Do Thái của tôi, dân Pháp ở Geneva mới là những người đáng để cùng làm việc - ngược hẳn với dân Đức Zurich chỉ biết phung phí thời gian nói những chuyện tào lao trong khi nốc lấy nốc để cái thứ bia nóng như nước đái và ăn đồ ăn nhanh Wienerschnitzel cho tới khi bụng phưỡn ra như lũ chuột túi cái sau kỳ sinh đẻ vậy. Mà thêm nữa, chẳng cần phải động não nhiều cũng nhận thấy rằng chắc chắn vẫn còn vài thằng Quốc xã đang ẩn náu đâu đó trong đám dân chúng, sống bằng những kho vàng mà chúng đã cướp bóc của tổ tiên tôi trước khi chúng sát hại họ bằng hơi độc!
Dù sao đi nữa, làm ăn ở thành phố Geneva nói tiếng Pháp còn có một cái lợi nữa - đó là, gái gú. Ờ, phải! Không như một ả người Đức trung bình ở Zurich, vai u thịt bắp, vú to bằng cái thùng tô nô, một phụ nữ Pháp trung bình - luôn xuất hiện trên các đường phố Geneva với những cái túi đi mua hàng và những chú chó xù - thật thon thả và kiều diễm, mặc dù nách toàn lông với lá. Với ý nghĩ đó, nụ cười của tôi ngoác ra trên mặt; rốt cuộc, đích đến của tôi không phải Geneva thì là đâu được nữa.
Tôi rời mắt khỏi cửa sổ và nhìn sang bên tay phải, đó là chỗ của Danny Porush - anh ta đang ngủ như chết. Mồm anh ta há hốc như con ếch chuẩn bị bắt mồi, trong khi mấy cái răng trắng ởn của anh ta cứ ánh lên trong nắng sớm. Bên cổ tay trái, anh ta đeo một cái đồng hồ Rolex vàng dày cộp, trên mặt gắn số kim cương đủ để vận hành một máy laser công nghiệp. Chất vàng sáng chóe và những viên kim cương lấp lánh, nhưng chẳng thứ nào ăn nhập với hàm răng của anh ta, thứ còn sáng hơn cả một ngôi sao băng. Anh ta vẫn đeo cặp kính gọng sừng kỳ cục với đôi mắt kính trong suốt của mình. Thật không thể tin nổi! Vẫn chỉ là một gã WASP Do Thái - cho dù có ngự trên một chuyến bay quốc tế.
Ngồi kế bên phải anh ta là người tổ chức chuyến đi này, chuyên gia ngân hàng Thụy Sĩ tự phong Gary Kaminsky, đồng thời cũng là Trưởng phòng Tài chính (láu cá) của tập đoàn Dollar Time, một công ty mà tôi là cổ đông lớn nhất. Cũng như Danny, Gary Kaminsky đang ngủ. Anh ta đội một mớ tóc giả màu muối tiêu rất kỳ cục, một thứ có màu sắc hoàn toàn khác với món tóc mai của anh ta vốn đen như mực - rõ ràng là được nhuộm bởi một tay thợ pha màu rất có khiếu hài hước. Vẻ hơi tò mò (và theo thói quen), tôi tranh thủ săm soi mớ tóc giả kỳ cục của anh ta. Nếu cho tôi đoán thì có lẽ đây là một đặc sản của Sy Sperling; đúng là câu lạc bộ tóc cho nam giới!
Vừa lúc đó, cô chiêu đãi viên đi tới - a ha, là Franca! Một cô em Thụy Sĩ xinh xắn bốc lửa làm sao! Đầy sức sống! Nàng thật kiêu sa, đặc biệt là mái tóc vàng óng ả rủ xuống chiếc áo choàng trắng muốt với cổ áo rất cao. Sao mà gợi tình đến thế chứ! Lại còn cái phù hiệu hình đôi cánh vàng mà nàng cài bên ngực trái nữa - đúng là một chiêu đãi viên! Sao lại có cái “giống” phụ nữ tuyệt vời thế nhỉ! Đặc biệt là cô nàng này, với chiếc váy đỏ bó chặt và đôi tất dài màu đen, phát ra âm thanh sột soạt tuyệt vời khi nàng đi qua! Át cả tiếng bộ phận hạ cánh và mọi âm thanh khác!
Theo tôi nhớ thì lần gần đây nhất mà tôi trò chuyện với Franca là khi chúng tôi vẫn còn ở trên mặt đất tại sân bay Kennedy ở New York. Nàng thích tôi. Có lẽ vẫn còn cơ hội. Tối nay! Thụy Sĩ! Franca và tôi! Thế nào mà tôi lại lần mò tới một đất nước nơi im lặng là vàng vậy nhỉ? Với nụ cười tươi rói và âm lượng đủ to để át tiếng gầm rít của động cơ Pratt & Whitney máy bay, tôi nói: “Franca, cưng ơi! Lại đây. Anh có thể nói chuyện với cưng một lát không?”
Franca xoay gót và đứng lại, hai tay khoanh trước ngực, hai vai nghiêng ra sau, lưng hơi cong xuống, còn hông hếch lên vẻ xem thường. Cô nàng tiếp mình như thế đấy! Cặp mắt nheo lại… hàm răng nghiến chặt… cái mũi chun lên… nanh nọc thế không biết!
Chà, quả là không biết gọi sao. Tại sao…
Tôi còn chưa kịp nghĩ xong thì cô nàng Franca xinh xắn đã xoay gót và bỏ đi.
Đó mà là thái độ niềm nở của Thụy Sĩ ư, lạy Chúa? Tôi nghe nói rằng tất cả phụ nữ Thụy Sĩ đều rất dâm đãng. Ơ, hay là phụ nữ Thụy Điển nhỉ? Hmmm… phải rồi, nghĩ kỹ thì đúng phụ nữ Thụy Điển mới dâm đãng chứ. Mặc kệ - nhưng như thế thì Franca cũng không có quyền phớt lờ tôi! Tôi là một “Thượng đế” của hàng không Thụy Sĩ và vé của tôi tiêu tốn… chà, chắc tiêu tốn cả một gia tài mất. Và đổi lại, tôi được gì chứ? Một chỗ ngồi rộng rãi hơn và bữa ăn ngon hơn ư? Tôi đã ngủ suốt giờ ăn cơ mà!
Bất chợt, tôi thấy buồn tiểu không chịu nổi. Tôi ngước nhìn đèn tín hiệu thắt đai an toàn. Cứt thật! Nó đã bật sáng từ lúc nào, nhưng tôi không thể nhịn được nữa rồi. Bàng quang của tôi vốn nhỏ (khiến cho nữ công tước rất khó chịu), và chắc tôi đã ngủ đến bảy tiếng liền. Ôi, mẹ kiếp! Họ sẽ làm gì nếu tôi cứ đứng dậy nhỉ? Bắt giữ tôi vì tội đi đái à? Tôi cố đứng dậy - nhưng không thể được.
Tôi nhìn xuống. Không phải một mà là - lạy Đấng Toàn năng! - có đến bốn cái đai an toàn trên người tôi. Tôi bị trói thì đúng hơn! À à… một trò đùa được đấy! Tôi ngoảnh đầu sang phải. “Porush”, tôi quát lớn, “dậy đi và cởi trói cho tôi, đồ chó chết!”
Không có lời đáp. Anh ta vẫn cứ ngồi kia với cái đầu ngửa ra sau và cái mồm há hốc, với cả đống nước dãi ánh lên trong nắng sớm.
Tôi lại gọi, nhưng lần này to hơn: “Danny! Dậy, mẹ kiếp!
Pooorussshhhh! Dậy ngay, như giẻ rách, cởi trói cho tôi!”
Vẫn chẳng có động tĩnh gì. Tôi hít một hơi thật sâu và từ từ ngả đầu mình ra sau, rồi dùng đầu táng một cú thật mạnh vào vai anh ta.
Một giây sau, mắt Danny chớp chớp và miệng anh ta ngậm lại. Anh ta lắc lắc đầu và nhìn tôi qua cặp mắt kính trong suốt rất lố bịch. “Có… có chuyện gì à? Anh đang làm gì thế?”
“Cái gì, tôi đang làm gì à? Cởi trói cho tôi - tiên sư nhà anh - trước khi tôi lột mẹ cái kính ngớ ngẩn đó ra khỏi cái đầu anh!”
Hơi nhếch miệng cười, anh ta đáp: “Không được, nếu không họ sẽ gí súng điện vào anh đấy!”
“Cái gì?”, tôi sửng sốt. “Anh đang nói cái gì? Ai sẽ gí súng điện vào tôi?”
Danny hít một hơi dài và nói nhanh: “Nghe tôi nói này: Chúng ta có chút rắc rối đấy. Anh theo tán tỉnh Franca” - anh ta hất cằm về phía cô nàng chiêu đãi viên tóc vàng - “đâu như lúc đi qua Đại Tây Dương ấy. Họ đã định quay máy bay lại, nhưng tôi thuyết phục họ trói anh lại và hứa rằng tôi sẽ giữ anh ngồi yên tại chỗ. Nhưng có lẽ cảnh sát Thụy Sĩ đang đợi ở quầy thủ tục hải quan đấy. Tôi nghĩ họ đã có kế hoạch bắt giữ anh rồi.”
Tôi cố lục lọi trí nhớ của mình. Chẳng nhớ được gì. Với trái tim nặng trĩu, tôi nói: “Tôi chẳng nhớ được tý gì về những chuyện anh đang nói, Danny ạ. Tôi chẳng nhớ gì cả. Tôi đã làm gì chứ?”
Danny nhún vai. “Anh đã bóp vú cô ta và còn định ấn cái lưỡi của anh vào họng cô ấy nữa. Chẳng có gì ghê gớm nếu hai người ở một tình thế khác, nhưng đây lại tít trên trời… chà, có những quy định khác so với khi ở văn phòng đấy. Tuy nhiên, điều đáng nói là ở chỗ tôi nghĩ rằng cô nàng thật sự thích anh đấy!” Anh ta lắc lắc đầu và mím hai môi lại, như thể nói: “Anh đã để vuột mất một con bươm bướm rồi, Jordan ạ!” Rồi anh ta nói tiếp: “Nhưng sau đó anh lại kéo váy cô ta lên và cô ta nổi giận.”
Tôi lắc đầu vẻ không tin. “Sao các anh không cản tôi lại?”
“Tôi đã cố cản rồi, nhưng anh nổi xung lên với tôi. Anh đã dùng những gì nhỉ?”
“Ờ… tôi không chắc lắm”, tôi lầm bầm. “Tôi nghĩ có lẽ… ừ, có lẽ là ba hay bốn viên Lude… rồi sau đó… ba viên Restoril màu xanh… à, ờ… ừmmm - tôi không biết nữa - có lẽ một viên Xanax hay hai gì đó… và, có lẽ một ít morphine cho cái lưng của tôi. Morphin và Restoril là theo toa của bác sĩ, vì thế đó không phải lỗi của tôi.” Tôi cứ bám riết lấy cái ý nghĩ thảnh thơi đó. Nhưng dần dần thực tại lại trở lại. Tôi ngả người trên chiếc ghế hạng nhất rất thoải mái của mình và tìm cách thoát ra. Rồi đột nhiên, tôi thấy hoảng: “Ôi, chết mẹ rồi - nữ công tước! Nếu nữ công tước biết chuyện này thì sao nhỉ? Tôi thật sự chếnh choáng rồi, Danny ơi! Tôi sẽ phải nói gì với nàng đây? Nếu chuyện này phơi lên mặt báo - ôi, Chúa ơi, nàng sẽ móc mắt moi mề tôi mất! Mọi lời xin lỗi trên thế gian này đều chẳng…” Tôi không dám nghĩ nốt nữa. Tôi dừng lại một lát, cho tới khi lại rơi vào trạng thái hoảng loạn lần thứ hai. “Ôi, lạy Chúa - chính phủ! Lý do bay chuyến bay thương mại này là để che giấu lai lịch! Và bây giờ… bị bắt giữ ở nước ngoài! Ôi, lạy Chúa! Tôi sẽ giết chết lão bác sĩ Edelson vì đã cho tôi uống những thứ thuốc ấy! Lão biết tôi dùng Lude” - tôi cố tìm một lý do để đổ lỗi một cách tuyệt vọng - “nhưng lão vẫn kê cho tôi thuốc ngủ! Chúa ơi, lão luôn kê cho tôi heroin nếu, mẹ kiếp, tôi đề nghị! Ác mộng kinh khủng, Danny ơi! Còn gì tồi tệ hơn nữa đây? Bị bắt giữ ở Thụy Sĩ - kinh đô rửa tiền của thế giới! Và chúng ta còn chưa kịp rửa đồng nào thì đã gặp rắc rối rồi!” Tôi bắt đầu lúc lắc đầu vẻ tuyệt vọng. “Đúng là điểm gở, Danny ạ.”
“Cởi trói cho tôi”, tôi nói. “Tôi sẽ không ngồi dậy đâu.” Bất chợt, một ý nghĩ lóe lên: “Có lẽ tôi nên xin lỗi Franca, dàn hòa mọi việc với cô ấy chăng? Trên người anh có bao nhiêu tiền mặt?”
Danny bắt đầu cởi trói cho tôi. “Tôi có 20 nghìn, nhưng tôi nghĩ anh không nên tìm cách nói chuyện với cô ấy. Như thế chỉ làm mọi chuyện thêm tồi tệ. Tôi dám chắc rằng anh đã đưa tay vào quần lót cô ta rồi. Nào, để tôi ngửi mấy ngón tay anh xem!”
“Câm đi, Porush! Thôi chớt nhả và cởi trói cho tôi đi.”
Danny mỉm cười. “Nhân tiện, đưa nốt cho tôi mấy viên Lude còn lại của anh đi. Tôi sẽ mang chúng qua cửa hải quan cho anh.”
Tôi gật đầu và thầm cầu nguyện rằng chính phủ Thụy Sĩ sẽ không muốn bất kỳ một vụ ầm ĩ nào làm xấu tiếng thơm về sự chín chắn của họ. Như một con chó vớ được khúc xương, tôi cứ bám riết lấy ý nghĩ ấy trong khi chúng tôi từ từ hạ cánh xuống Geneva.
Mũ cầm trong tay và ngồi trên một chiếc ghế sắt xám xịt, tôi nói với ba nhân viên hải quan ngồi đối diện mình: “Tôi đã nói với các anh rồi, tôi không nhớ gì cả. Tôi thường có cảm giác bất an khi bay, đó là lý do vì sao tôi uống những viên thuốc ấy.” Tôi chỉ vào hai cái lọ nhỏ nằm trên chiếc bàn sắt xám xịt giữa chúng tôi. May mắn thay, cả hai cái lọ đều có ghi tên tôi trên nhãn; trong tình cảnh hiện nay của tôi, đây có vẻ là chi tiết quan trọng nhất. Còn nói về mấy viên Quaalude, giờ này chắc chúng đã an toàn chui xuống đến tận ruột kết của Danny và qua khỏi cửa hải quan rồi.
Ba nhân viên hải quan Thụy Sĩ bắt đầu huyên thuyên bằng một thứ thổ ngữ Pháp rất lạ lùng. Họ phát âm cứ như thể miệng họ đang đầy pho mát thối vậy. Thật kỳ quái - thậm chí khi họ nói gần bằng tốc độ ánh sáng, bằng cách nào đó họ vẫn giữ được hai môi khép chặt, hàm như khóa cứng lại.
Tôi bắt đầu quan sát căn phòng. Mình đang ở trong tù chăng?
Chẳng có cách nào để nói với đám Thụy Sĩ cả. Gương mặt họ vô cảm, cứ như thể họ là những người máy không có óc tiến hành công việc của mình với độ chính xác của một cái đồng hồ Thụy Sĩ vậy, và lúc này căn phòng như vang lên tiếng quát: “Anh vừa bước vào khu vực không xác định!” Không có cửa sổ… không tranh ảnh… không đồng hồ… không điện thoại… không bút chì… không bút mực… không giấy… không đèn… không máy tính. Chẳng có gì ngoài bốn cái ghế sắt màu xám, một cái bàn sắt cũng màu xám và một cái cây phong lữ héo hon đang chết dần chết mòn.
Lạy Chúa! Tôi có nên đề nghị được nói chuyện với đại sứ quán Hoa Kỳ không nhỉ? Không - đúng là ngu! Có lẽ tôi đã có tên trong danh sách bị theo dõi rồi. Tôi cần phải mai danh ẩn tích. Đó chính là mục tiêu - mai danh ẩn tích.
Tôi nhìn ba nhân viên hải quan. Họ vẫn huyên thuyên với nhau bằng tiếng Pháp. Một người đang cầm cái lọ Restoril, một người nữa cầm hộ chiếu của tôi, còn người thứ ba đang gãi cái cằm Thụy Sĩ èo uột của mình, cứ như thể anh ta đang quyết định số phận của tôi vậy - hay anh ta bị ngứa không biết?
Cuối cùng, anh chàng gãi cằm lên tiếng: “Ngài vui lòng kể lại câu chuyện của ngài cho chúng tôi được không.”
Ngài vui lòng? Cái chuyện vui lòng nhảm nhí này là quái gì không biết? Sao mấy thằng đần này cứ nói năng với hình thức giả định mãi thế không biết? Tất cả đều dựa trên giả định hết, và mọi thứ đều được gắn thêm những từ như vui lòng, nên, có lẽ, có thể, phải chăng. Sao họ không yêu cầu tôi nhắc lại câu chuyện của mình nhỉ? Nhưng khôôông! Họ chỉ mong rằng tôi vui lòng kể lại câu chuyện! Tôi hít một hơi thật sâu - nhưng trước khi tôi lên tiếng, cánh cửa bật mở và nhân viên hải quan thứ tư bước vào phòng. Tôi nhận thấy gã này đeo phù hiệu đội trưởng trên cầu vai.
Chưa đầy một phút, ba anh chàng đầu tiên rời khỏi phòng, vẫn vác bộ mặt vô cảm y như lúc họ bước vào. Giờ chỉ còn mình tôi với tay đội trưởng. Anh ta mỉm cười với tôi, sau đó rút ra một điếu thuốc Thụy Sĩ. Anh ta châm lửa và bắt đầu thản nhiên phà ra những vòng khói. Rồi anh ta bắt đầu làm xiếc với khói thuốc - để cả đám khói đặc quánh thoát ra từ miệng và sau đó hít tất cả qua mũi mình thành hai cột khói đặc sệt. Ái chà! Cho dù ở tình thế hiện tại thì tôi vẫn thấy quả là ấn tượng. Ý tôi là tôi chưa bao giờ thấy ông già mình làm được như thế, mặc dù ông đã viết sách về những trò ảo thuật với khói thuốc! Tôi sẽ phải hỏi anh chàng này về kỹ thuật đó nếu tôi thoát ra khỏi căn phòng này.
Cuối cùng, sau vài vòng khói thuốc và thêm vài hơi hít khói nữa, viên đội trưởng lên tiếng: “Chà, ngài Belfort, tôi rất xin lỗi vì những điều khó chịu ngài vừa phải chịu đựng do sự hiểu nhầm đáng tiếc này. Cô chiêu đãi viên đã đồng ý không kiện nữa. Vì thế ngài có thể ra về rồi. Các bạn ngài đang đợi ngài ở bên ngoài, nếu ngài vui lòng theo tôi.”
Hả? Không lẽ chỉ đơn giản vậy? Phải chăng đám chủ nhà băng Thụy Sĩ đã câu tôi ra? Chỉ để hối lộ! Sói già Phố Wall lại một lần nữa không hề hấn gì!
Giờ thì tâm trí tôi rất thảnh thơi, chẳng còn hoảng sợ nữa, và nó đang quay trở lại với nàng Franca. Tôi mỉm cười với người bạn Thụy Sĩ mới của mình và nói: “Vì các vị cứ luôn miệng nói vui lòng và những từ đại loại như vậy nên những gì tôi thật sự vui lòng là liệu ngài có thể làm cách nào đó giúp tôi liên lạc với cô chiêu đãi viên trên máy bay đó được không.” Tôi dừng lại và mỉm một nụ cười “khẩu phật tâm xà” với anh ta.
Gương mặt viên đội trưởng bắt đầu đanh lại.
Ôi, chết mẹ! Tôi giơ tay lên, lòng bàn tay hướng vào anh ta và nói: “Dĩ nhiên, chỉ nhằm mục đích nói lời xin lỗi chính thức với cô ả tóc vàng trẻ trung - ý quên, quý cô trẻ trung - đó và có lẽ thực hiện một chút bồi thường tài chính, nếu ngài hiểu đúng ý tôi.” Tôi cố gắng kìm mình không nháy mắt.
Anh chàng kia hất đầu sang bên và đăm đăm nhìn tôi như thể nói: “Nhà ngươi đúng là một thằng khốn kiếp!” Nhưng anh ta chỉ nói: “Chúng tôi rất mong quý ngài đừng liên hệ với cô chiêu đãi viên trong thời gian ở lại Thụy Sĩ. Rõ ràng cô ấy… trong tiếng Anh các ngài nói thể nào nhỉ… cô ấy…”
“Bị tổn thương?”, tôi gợi ý.
“À, phải - bị tổn thương. Đúng là từ chúng tôi định dùng. Chúng tôi mong muốn ngài vui lòng không liên hệ với cô ấy trong bất kỳ trường hợp nào. Tôi tin rằng ngài sẽ tìm được nhiều phụ nữ đúng như ý muốn ở Thụy Sĩ nếu như đó chính là mục đích của ngài. Rõ ràng ngài có nhiều bạn bè ở những vị thế rất phù hợp.” Nói xong, viên đội trưởng đích thân hộ tống tôi qua cửa hải quan, thậm chí còn không đóng dấu vào hộ chiếu của tôi.
Khác với chuyến bay, hành trình trong chiếc limousine của tôi lại rất yên tĩnh và không có chuyện gì xảy ra. Rất thoải mái. Suy cho cùng, một chút yên bình cũng là một khoảng thời gian nghỉ ngơi sau những phiền phức sáng nay. Nơi đến của tôi là khách sạn Le Richemond, được xem là một trong những khách sạn tốt nhất ở Thụy Sĩ. Thực tế, theo bạn bè tôi trong ngành ngân hàng Thụy Sĩ, Le Richemond là cơ sở lịch lãm nhất, tao nhã nhất.
Nhưng ngay khi đến nơi, tôi nhận ra rằng lịch sự và tao nhã là những từ mã hóa của Thụy Sĩ để chỉ sự đơn điệu và nhàm chán. Khi tôi bước vào đại sảnh, tôi nhận ngay ra nơi này đầy những đồ đạc cổ theo phong cách Pháp, mà theo lời tay gác cổng tự hào khoe với tôi thì đó toàn là đồ từ thời Louis XIV, vào giữa thế kỷ XVIII. Nhưng theo con mắt tinh đời của tôi thì Vua Louis cần lôi gã cận thần phụ trách trang trí nội thất của ngài lên máy chém. Trên lớp thảm rách có phần in hoa, một kiểu hoa văn xoắn mà chắc do một con khỉ mù vẽ ra, với điều kiện nó có hứng làm việc đó. Màu sắc tôi thấy cũng chẳng hề quen tý nào - một sự kết hợp giữa màu vàng cứt chó với màu hồng trông phát nôn lên được. Tôi dám chắc rằng thằng cha nào làm việc này chắc đã phải lao tâm khổ tứ với cái thứ sản phẩm vứt đi này, với một gã Do Thái trọc phú như tôi đây thì nó chính xác là cái này: giẻ rách! Tôi muốn những gì mới, tươi sáng và rực rỡ kia!
Nhưng dù sao, tôi vẫn vượt qua chuyện này dễ dàng. Xét cho cùng, tôi đang mắc nợ mấy ông chủ ngân hàng Thụy Sĩ của mình, cho nên tôi nghĩ rằng chí ít cũng phải vờ tỏ ra biết ơn họ đã chọn chỗ ăn nghỉ cho tôi. Và với cái giá 16.000 franc mỗi tối, tương đương 4.000 đô la Mỹ, sao mà cái nơi ấy lại thảm hại đến thế?
Tay quản lý khách sạn, một gã nói tiếng Pháp rất điệu đà và cao ngỏng, làm thủ tục nhập phòng cho tôi và tự hào cho tôi xem bảng liệt kê tên những vị khách tên tuổi của khách sạn, mà thực ra chẳng có ai khác ngoài anh chàng Michael Jackson. Đúng là hoang đường! Tôi nghĩ bụng. Giờ thì tôi ghét nơi này thật sự rồi.
Vài phút sau tôi đã ở trong phòng Tổng thống - nhờ tay quản lý dẫn đi thăm thú. Gã này cũng tương đối lịch thiệp, đặc biệt sau khi tôi cho gã biết bản lĩnh đầu tiên của Sói già Phố Wall, dưới hình thức món tiền boa trị giá 2.000 franc, để cảm ơn đã cho tôi nhập phòng mà không thông báo với Interpol. Khi gã đi, gã cam đoan với tôi rằng chỉ cần một cú điện thoại là có ngay những cô em Thụy Sĩ xịn nhất.
Tôi bước ra sân thượng và mở mấy cánh cửa kiểu Pháp nhìn ra hồ Geneva. Tôi ngắm nhìn đài phun nước với vẻ sợ sệt ngấm ngầm. Nó phun lên không trung cao phải đến 100… 120… không, gần 150 mét chứ chẳng chơi! Điều gì đã thúc đẩy người ta xây nên một thứ như thế nhỉ? Ý tôi là, trông rất đẹp nhưng tại sao người ta lại xây cái đài phun nước cao nhất thế giới ở Thụy Sĩ chứ?
Đúng lúc đó có tiếng điện thoại reo. Chuông kêu rất kỳ quái:
Ba hồi ngắn rồi im bặt, lại ba hồi ngắn rồi im bặt. Đúng là cái lũ Pháp quái quỷ! Ngay điện thoại của bọn họ cũng rất khó chịu! Chúa ơi, sao mà tôi nhớ Mỹ thế! Món thịt băm với pho mát và nước xốt cà chua giấm! Món thịt quay giòn tan! Rồi thịt gà nướng! Tôi sợ hãi nhìn tờ menu dịch vụ phòng. Tại sao thế giới lại lạc hậu so với nước Mỹ đến vậy chứ? Và tại sao người ta lại gọi chúng tôi là bọn Mỹ xấu xí chứ?
Lúc này, tôi đang tiến tới chỗ máy điện thoại - Chúa ơi! Sao lại có thứ thiết bị buồn thảm thế chứ. Chắc nó phải là một chiếc điện thoại kiểu mẫu đời đầu tiên. Nó trắng nhờ nhờ và trông như thể thuộc sở hữu của gia đình Fred và Wilma Flintstone1 vậy!
1 Các nhân vật chính trong loạt phim hoạt hình hài của Mỹ mang tựa đề The Flint- stones phát sóng từ năm 1960 đến 1966 trên kênh ABC. Phim do Hanna-Barbera Productions (H-B) sản xuất, kể về cuộc sống của một chàng trai thuộc tầng lớp công nhân nhưng sống ở thời kỳ đồ đá cùng gia đình, hàng xóm và bạn bè.
Tôi vươn tay và nhấc chiếc điện thoại đồ cổ lên. “Có chuyện gì thế, Dan?”
“Dan à?”, giọng càu nhàu của nữ công tước.
“Ôi, Nae! Chào em yêu! Em thế nào rồi, tình yêu của anh? Anh cứ tưởng là Danny.”
“Không, là cô vợ nữa của anh đấy. Chuyến bay của anh thế nào?” Ôi, lạy Chúa! Chẳng lẽ nàng đã biết rồi sao? Không thể có chuyện đó! Nhưng nhỡ đúng thì sao? Nữ công tước vốn có giác quan thứ sáu về những chuyện thế này mà. Nhưng thế thì quá nhanh, ngay cả với nàng! Hay đã có bài báo nào rồi chăng? Không - chưa đủ thời gian tính từ lúc xảy ra chuyện của tôi đến số phát hành tiếp theo của tờ New York Post. Nhẹ cả người - nhưng chỉ trong một phần nghìn giây thôi! Tiếp đó, một ý nghĩ u ám khủng khiếp xuất hiện: Kênh thời sự cáp! Kênh CNN! Tôi đã nhìn thấy chuyện này diễn ra trong thời kỳ Chiến tranh vùng Vịnh. Cái lão khốn kiếp Ted Turner có một bộ máy điên rồ làm việc khắp nơi để có thể đưa tin ngay khi nó còn đang diễn ra cơ! Có lẽ cô ả chiêu đãi viên kia đã xuất hiện trước công chúng rồi!
“A lô!”, vị ủy viên công tố tóc vàng lên tiếng. “Anh không định trả lời em à?”
“Ờ - không có chuyện gì đâu. Vẫn như mọi khi thôi mà. Em hiểu ý anh chứ?”
Một khoảng im lặng khá dài.
Lạy Chúa! Nữ công tước đang kiểm tra tôi, đợi cho tôi gục trước sức nặng sự im lặng của nàng đây mà! Nàng rất ranh ma, vợ tôi ấy! Có lẽ tôi nên mở lời than phiền về Danny, để đề phòng ấy mà!
Nhưng nàng đã nói: “Ôi, thế thì tốt quá, anh yêu. Dịch vụ hạng nhất thế nào hả anh? Anh có gặp em chiêu đãi viên xinh xắn nào trên máy bay không? Nào, kể cho em nghe đi! Em sẽ không ghen đâu.” Nàng cười khúc khích.
Thật không thể tin nổi! Có lẽ tôi đã cưới phải Kreskin phi thường2 chăng? “Không, không” - tôi vội đáp - “họ chẳng có gì đặc biệt cả. Dân Đức ấy mà, anh nghĩ thế. Một cô ả còn to béo đến mức có thể đá văng anh đi được ấy chứ. Với lại, anh ngủ suốt. Thậm chí anh còn bỏ mất bữa ăn.”
2 George Joseph Kresge, Jr. (sinh năm 1935), thường được biết đến dưới tên gọi Kreskin phi thường, là một nhà tâm thần học rất nổi tiếng trên truyền hình Bắc Mỹ những năm 1970. Ông được cho là có sức mạnh thần giao cách cảm.
Điều đó có vẻ làm nữ công tước hơi buồn. “Ôiiii, tệ quá nhỉ, anh yêu. Chắc anh đói meo! Thế còn lúc qua hải quan thì sao - có vấn đề gì không?”
Lạy Chúa lòng lành! Tôi phải kết thúc cú điện đàm này ngay lập tức! “Rất ổn. Vài câu hỏi qua quýt - chỉ lấy lệ ấy mà. Mà họ còn quên không đóng dấu hộ chiếu của anh nữa chứ.” Tiếp đó, tôi thực hiện chiến thuật đổi chủ đề: “Nhưng chuyện này quan trọng hơn, Channy bé bỏng thế nào rồi em?”
“Ồ, con rất ngoan. Nhưng cô hộ lý chăm sóc trẻ làm em phát điên đây này! Cô ta chẳng chịu buông cái điện thoại chết tiệt ra. Em nghĩ chắc cô ta lại đang gọi về Jamaica. Mà này, em vừa tìm được hai chuyên gia sinh vật học biển sẽ đến làm việc cho chúng ta toàn thời gian. Họ nói họ có thể trồng được tảo trong hồ bằng cách lót đáy hồ bằng một loại vi khuẩn gì đó. Anh nghĩ thế nào?”
“Bao nhiêu?”, tôi hỏi, không lo lắng lắm về câu trả lời. “90.000 đô la một năm - cho cả hai người. Họ là vợ chồng mà.
Họ có vẻ được đấy.”
“OK, giá đó cũng hợp lý. Mà em tìm ở đâu…” Vừa lúc ấy, có tiếng gõ cửa. “Chờ chút nhé, em yêu. Chắc là dịch vụ phòng đến đấy. Anh sẽ quay lại ngay.” Tôi bỏ điện thoại xuống giường và đi ra mở cửa - quái quỷ gì thế này! Tôi ngước nhìn lên… lên nữa… và ôi trời ơi! Một cô gái da đen cháy cao phải đến 1,8 mét đứng ngay trước cửa phòng tôi! Một cô gái Ethiopia, căn cứ theo vẻ ngoài của cô ấy. Tâm trí tôi bắt đầu rối lên. Cô ấy có nước da mới trẻ trung mịn màng làm sao! Một nụ cười niềm nở, dâm đãng làm sao! Và còn đôi chân nữa! Chúng phải dài hàng cây số! Cô ấy thật đẹp. Mà cô ấy lại còn mặc một chiếc váy ngắn cũn cỡn màu đen nữa. “Tôi có thể giúp gì quý cô?”, tôi lên tiếng hơi có vẻ kỳ cục.
“Chào anh!”, cô ấy đáp gọn lỏn.
Mối nghi ngờ của tôi đã được khẳng định. Chắc chắn đây là một ả gái gọi da đen từ Ethiopia đến, vốn chỉ biết nói xin chào và tạm biệt thôi! Đúng sở thích của tôi rồi! Tôi ra hiệu mời cô ấy vào phòng và dẫn cô ấy tới bên giường. Cô ấy ngồi xuống. Tôi ngồi cạnh cô ấy. Tôi từ từ ngả người ra và đặt khuỷu tay phải lên giường rồi áp má mình vào lòng bàn tay - ỐI, CHẾT CHA! VỢ TÔI! NỮ CÔNG TƯỚC!
CỨT THẬT! Tôi vội vàng đưa ngón tay trỏ lên môi và thầm mong rằng cô gái này hiểu ngôn ngữ ký hiệu quốc tế mà tất cả các cô gái buôn phấn bán hương đều biết, và trong trường hợp này được hiểu là: “Nhớ câm cái mồm đi, đồ đĩ! Vợ tôi đang nghe máy đấy, và nếu mụ ấy nghe thấy giọng phụ nữ trong phòng thì tôi ăn cứt và cô đừng có hòng nhận được tiền boa!”
May thay, cô ấy gật gật đầu.
Xong xuôi, tôi nhấc điện thoại và giải thích với nữ công tước rằng trên thế giới này chẳng có gì kinh khủng hơn món trứng nguội Benedict. Nàng tỏ ra thông cảm và bảo tôi rằng nàng yêu tôi vô điều kiện. Tôi rất tin vào những lời này. Sau đó tôi bảo nàng rằng tôi cũng yêu nàng, rằng tôi nhớ nàng, và rằng tôi không thể sống thiếu nàng được, mà tất cả những điều ấy đều là thật đấy nhé.
Quả thật lúc ấy, một cảm giác buồn kinh khủng trào lên trong tôi. Làm sao tôi lại có thể có những cảm xúc này với vợ mình trong khi vẫn làm những việc mình đã làm chứ? Tôi có gì đó không ổn chăng? Đây không phải là lối ứng xử bình thường của một người đàn ông. Thậm chí với một người đàn ông có quyền lực - không, đặc biệt là với một người đàn ông có quyền lực! Tất nhiên họa hoằn cuộc sống vợ chồng cũng có lúc vô ý; điều đó là dễ hiểu. Nhưng đến mức thành nếp thì tôi… chà, tôi quyết định không nghĩ nốt nữa.
Tôi hít một hơi thật sâu và cố gắng xua những suy nghĩ tiêu cực ra khỏi đầu, nhưng sao mà khó thế. Tôi yêu vợ tôi. Nàng là một phụ nữ tốt, mặc dù nàng phá vỡ cuộc hôn nhân đầu tiên của tôi. Tuy nhiên chuyện đó thì tôi mới đáng bị trách chứ.
Tôi cảm thấy như bị thôi thúc phải làm gì đó, không phải vì tôi thật sự muốn làm thế mà vì đó là trách nhiệm của tôi. Dường như cuộc đời tôi là một sân khấu, và Sói già Phố Wall đang phải biểu diễn vì một nhóm khán giả tưởng tượng nào đó, những người phán xét mọi cử động và lời nói của tôi.
Có hiểu rõ sự biến đổi nhân cách của tôi mới thấy khiếp. Ý tôi là, phải chăng đúng là tôi đã làm chuyện bậy bạ với Franca? Cô ấy không thể nào sánh được với vợ tôi. Lại còn cái chất giọng Pháp của cô ấy nữa chứ - tôi vốn đã quen nghe chất giọng Brooklyn của vợ mình rồi! Nhưng thậm chí sau khi tôi thoát khỏi căn phòng đó, tôi vẫn hỏi viên đội trưởng hải quan để biết số điện thoại của cô ấy. Tại sao chứ? Bởi vì tôi nghĩ đó là việc mà Sói già Phố Wall cần làm. Thật quái đản. Và cũng thật đáng buồn nữa.
Tôi nhìn người phụ nữ ngồi cạnh mình. Cô ta có bị bệnh gì không biết? Tôi tự hỏi. Không, trông cô ta rất khỏe khoắn. Quá khỏe khoắn nên không thể có AIDS được, phải không? Ấy, nhưng cô ta từ châu Phi đến… Không, không thể! AIDS là một căn bệnh đã lỗi thời rồi. Hơn nữa, tôi chẳng bao giờ lây nhiễm thứ gì cả, vì thế tại sao lần này lại phải khác đi chứ?
Cô ta mỉm cười với tôi, và tôi cười lại. Cô ta đang ngồi ở mép giường, đùi bắt chéo nhau. Sao mà đĩ thế! Sao mà gợi tình thế! Cái váy của cô ta kéo cao tít trên cả hông. Đây sẽ là lần cuối của tôi! Từ chối cái địa ngục dữ dội màu nâu sôcôla này quả là một trò đùa của công lý - chẳng có giá trị gì sất!
Với ý nghĩ đó, tôi gạt phăng mọi suy nghĩ rác rưởi tiêu cực khỏi tâm trí và quyết định tại chỗ rằng, ngay khi đã làm cho cô nàng mê tơi, tôi sẽ tống hết số thuốc Quaalude còn lại xuống bồn xí và bắt đầu một cuộc đời mới.
Và tôi đã làm đúng như thế, theo đúng trình tự như thế.