T
háng 10-1994, gia đình tôi được phòng Giáo dục Gò Vấp sắp xếp chuyển về tá túc tại một phòng tập thể ở trường An Hội, phường 12, Gò Vấp. Khi giúp tôi sắp xếp lại hòm sách cũ từ quê Nam Định mang vào, Ngọc Anh - con gái tôi sung sướng reo lên: “A! Cuốn nhật ký năm 70 của bố đây rồi!”. Tôi mừng một, bà xã mừng hai. Và thế là đêm ấy, trong căn phòng “chỉ có hai ta”, dưới ánh đèn nê-ông, chúng tôi lặng lẽ chụm đầu bên nhau lần giở lại từng trang giấy đã ố vàng, có chỗ mực đã phai gần hết, cố tìm lại những kỷ niệm một thời mới đến với nhau. Chữ tôi viết bằng chân theo kiểu tốc ký, nên đọc càng khó. Có dòng cả hai phải thi nhau “luận” mãi mới trúng ý “tác giả”.
12-8-1970
Sáng nay anh Chi dẫn N. xuống chơi. Qua lời anh, mình biết N. là em vợ anh, đã học xong Sư phạm 7+3 Nam Điền (nhưng chưa tốt nghiệp). Tiễn N. và anh Chi về rồi, mình cứ thấy bâng khuâng vương vấn. “Ừ! Cô bé trông cũng được. Mặt đầy đặn, phúc hậu, lại có vẻ nhanh nhẹn. Nghe đâu là hoa hậu nhà họ Vũ cơ đấy!”. “Không được đâu. Lấy gì người tóc xoăn. Vất vả lắm. Dưới mắt phải lại cồm cộm một nốt ruồi tướng. Trông chẳng giống ai”. Chưa gì các chị mình đã lắm chuyện. Thôi được. Để rồi xem. “Người đâu gặp gỡ làm chi/ Trăm năm biết có duyên gì hay không?”.
- Ngày ấy em mà biết được ý các bà chị anh vậy thì có kề vàng em cũng “gút bai”.
Biết lòng tự ái của “nàng” bị chạm nọc, tôi chậc lưỡi dàn hòa:
- Chuyện ngày xưa mà lị. Thôi trật tự, nghe tiếp.
25-8-1970
Mình thật không ngờ, sáng nay N. lại đạp xe một mình vượt gần 30 cây số xuống chơi. Cứ tưởng sẽ có anh Chi cùng đi.
- Anh Chi cũng hẹn em đấy. Nhưng rồi mắc việc. Em đạp xe định về. Thế rồi chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào em lại rẽ xuống đây. - N. cười, nói như thanh minh với giọng e ấp thật hồn nhiên.
Bố mẹ đi làm cả. Mình liền rủ N. đi chơi Hải Nam chỗ chị Bình. Suốt đoạn đường ngược chiều gió heo may giữa một sáng thu êm mát, chất ngất màu xanh của lúa, của trời, lần đầu tiên ngồi sau xe một người con gái, mình thực sự thấy hồi hộp, vui vui, ngường ngượng.
- Em có sợ người ta trêu khi đèo anh không?
- Thế anh có ngượng khi bị em đèo không?
- Chắc em hiểu. Chỉ có trai đèo gái chứ chẳng khi nào gái lại đèo trai.
- Sao anh phong kiến thế. Nếu nghĩ vậy em đã chẳng một mình xuống đây.
Cả hai cùng cười. Xa xa mấy cánh chim cuối trời đang mải miết sải cánh.
Anh chị Bình giữ lại dùng bữa trưa. Hai đứa về qua chơi nhà Cách ở Xướng Cau. Khi trở lại nhà thì trời đã nhá nhem. N. đòi về. Nghĩ cảnh đường xa, phận gái, mình nói mãi N. mới chịu ở lại.
Khuya. Đèn các nhà đã tắt. Câu chuyện giữa chúng mình nơi bậc thềm trước nhà cứ chốc chốc lại chùng xuống, sôi lên.
- Nghe nói N. có người bạn trai đang học ở Trung
Quốc, tốt bụng lắm phải không?
- Vâng! Nhưng vẫn chỉ là bạn thôi.
- N. có sợ rằng nếu kết thân với anh cả đời, sẽ chịu nhiều thiệt thòi?
- Em chẳng nghĩ thế. Bà chị họ em lấy chồng mới được mấy tháng đã bỏ nhau. Chồng gì mà suốt ngày đánh đập vợ không tiếc tay.
- Thế nghĩa là sợ bị đánh như bà chị nên tìm đến với anh chứ gì?
- Anh đừng có mà coi thường em nha…
- Nếu rồi đây có người chọc gậy bánh xe, gièm pha em dại dột đi làm bạn với người không còn tay thì em tính sao?
- Em chẳng tính sao cả. Cứ bụng em em làm.
- Thuyền mạnh vì lái, gái mạnh vì chồng. Em có sợ rồi đây khi con thuyền của chúng ta gặp phong ba?
- Em sợ, nhưng em vẫn tin. Để vượt qua sóng gió, theo em cái chính là ở ý chí, nghị lực chứ đâu phải chỉ ở cái tay, cái chân... Khối người lành lặn mà vừa gặp vũng nước nhỏ đã chùn bước.
Mình không ngờ N. lại có được những suy nghĩ sâu sắc và táo bạo vậy. Đây thực là người bạn đời mình mơ rồi chăng? Thế rồi... một nụ hôn đầu... một vòng tay âu yếm từ N.... Một vòng chân ngường ngượng run run. Mình lặng đi trong phút giây hạnh phúc đầu tiên. Cả không gian không một tiếng gió. Chị Hằng Nga đầu tháng cũng đã kéo rèm đi ngủ từ lúc nào. Chỉ những vì sao là vẫn tinh nghịch nhấp nháy giữa khoảng đêm tím thẫm mông lung.
- Kể ra ngày đó mình dại thật, liều thật. Một mình mà dám xuống, lại dám ở lại qua đêm nữa chứ. Thật táo bạo hơn cả Thúy Kiều “xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”. - Vừa nói bà xã tôi vừa nheo mày, nhéo miệng, véo vào tai tôi một cái khá mạnh. - Giá khôn như bây giờ thì đừng hòng!
- Hóa ra dại đôi khi lại được việc hơn khôn...
Cả hai cùng cười trong hạnh phúc. Ngừng một lát, tôi lên giọng:
- Em còn nhớ bức thư viết cho anh sau mấy ngày anh và anh Cách lên nhà em không ?
- Nhớ chứ. Nhưng anh còn giữ không?
- Không còn. Rất may còn vài đoạn anh có chép lại đây. Em nghe nhé.
23-9-1970
Mình mới trở lại Hà Nội (ở nhờ chỗ Nghiệp đen, trường Đại học Thủy lợi) để chờ phân công tác chưa được một tuần. Trưa nay mình nhận được thư N., còn có cả ảnh nữa. “... Anh yêu!... Tình hình gia đình em vừa qua rất phức tạp. Ngoài anh Chi, cả nhà không ai đồng ý chuyện của chúng mình đâu. Hôm anh và anh Cách lên chơi về, tối đó cha bảo thẳng với em: “Thôi từ nay không Ký Cách gì nữa nhé. Bảo không nghe thì đừng có trách!”. Và thế là em không chịu, đã cãi lại, liền bị cụ cầm gậy đuổi. May mà có em Đậu hứng đòn thay và thím Phẩm thương, cho trốn vào buồng chứ không thì... Nói thế thôi, chứ anh đừng buồn.
Dù cho bão nổi phong ba
Tình ta vẫn thấy thiết tha mặn nồng…
Dù cho sóng gió phũ phàng
Lòng em vẫn đứng vững vàng bên anh...
Tái bút: Em xin báo với anh một tin mừng: Nhà thơ Đoàn Văn Cừ, tác giả bài thơ Chợ Tết, người gọi mẹ bằng cô đấy, rất ủng hộ tình yêu của chúng ta. Ông ấy mà nói, chắc là cha ưng thôi.
Thế mới biết, mọi chuyện ở đời chẳng có gì đơn giản. Rất cảm ơn em đã cho anh niềm tin vào chính mình.
- Sao? Có đúng nguyên bản không? Thơ của em hay quá. Anh hiểu em, thương em, tin và phục em những ngày ấy cũng như bây giờ và mãi mãi bắt đầu chính từ những câu thơ để đời ấy đấy. Thế mà sao suốt gần 30 năm qua chẳng thấy em viết thêm được câu nào.
- Anh lầm rồi. Đấy đâu phải thơ. Ngày đó viết thư cho anh, cảm xúc quá bột phát nghĩ ra vậy chứ có ý làm thơ phú gì đâu. Thôi, còn trang nào đọc nữa đi.
- Bà xã tôi vừa giục vừa dùng tay phải còn lại (tay trái liệt từ ngày bị tai biến vào tháng 7-1994) pha ly atisô sữa, nâng lên miệng cho tôi.
Uống vừa xong, hắng giọng một tiếng thật to, tôi hồi hộp mở đi mở lại cuốn nhật ký đã cũ nát, mong tìm được trang vừa ý để đọc tiếp.
- Này, cái ngày anh Chi dẫn chị Lĩnh lên Hà Đông thăm anh, anh có ghi không?
- Anh tìm hoài không thấy em ơi! - Vừa tiếp tục lật mở cuốn nhật ký tôi vừa lên tiếng. - Kỷ niệm đó có gì quan trọng mà em nhớ vậy?
- Ố, quan trọng chứ! Anh biết không, ngày đó chị Lĩnh vợ anh Chi là người phản đối quyết liệt nhất chuyện tình duyên của chúng ta đấy. Để thuyết phục chị, anh Chi liền nghĩ ra cách đưa chị đi thăm quan cảnh Hà thành rồi thăm luôn anh đấy. Sau chuyến đi ấy có vẻ chị hiểu anh hơn. Bà ấy cứ tấm tắc khi gặp Thu Hằng, nghe đâu lúc đó đang cảm tình với anh lắm đúng không?
- Ừ, anh Chi tuyệt vời thật đấy! Lúc ấy chị Lĩnh đang đi học trung cấp y tế. Bé Kỳ mới hơn một tuổi. Vậy mà anh dám bỏ ra mấy tháng lương còm, động viên chị gửi con cho em để đi thăm thằng em kết nghĩa.
- Chung quy cũng vì chuyện tình duyên của chúng mình! Ngày đó nếu không có anh Chi chắc chúng mình khó lòng đến được với nhau.
Tôi phụ hoa luôn lời khẳng định của bà xã:
- Mình cũng không hiểu tại sao chỉ là anh em kết nghĩa mà anh ấy lại quý mình, thương mình và lo cho mình hết lòng đến vậy. Em biết không, hai anh em chỉ gặp nhau trong một hội nghị giáo dục tiêu biểu của tỉnh, vậy mà trở thành tri kỷ. Em còn nhớ ngày 1-1-1966 không? Đó là ngày cưới của anh chị. Hôm ấy Nghiệp đen đi xe đạp đến chở anh lên dự. Đêm đó, lo đường xa về khó thế là anh giữ hai thằng ở lại. Cả nhà chỉ có 2 chiếc giường. Một dành cho mẹ. Còn giường kia anh dành cho ba anh em nằm ôm nhau cùng cười vui cùng tri âm, tri kỷ giữa đêm đông giá. Chị Lĩnh đêm đó ngủ chung với mẹ chồng. Đêm tân hôn thiêng liêng đến vậy mà anh vẫn hy sinh cho mình như thế thật là khó lý giải.

“Em có cảm tưởng như trời sinh ra anh Chi (người đứng bên rìa trái) để anh lo cho tình duyên của hai đứa mình”. (Ảnh chụp năm 2000.)
- Còn tên của thằng Kỳ nghe đâu cũng là xuất phát từ tên của anh thì phải.
- Ừ, đúng thế. Tên cháu là Đặng Ngọc Kỳ lái từ Ngọc Ký mà. Ngay hôm cháu ra đời, anh ấy đã viết thư khoe: “Con anh anh đặt là Kỳ/ Con em em đặt tên gì em ơi!”.
- Em có cảm tưởng như trời sinh ra anh Chi để anh lo cho tình duyên của hai đứa mình. Chuyện về anh ấy còn nhiều kỷ niệm lắm. Thôi, anh xem còn trang nào khác cần đọc anh đọc tiếp đi. - Bà xã lại giục.
- À, đây rồi. Hay quá, anh quên chưa đọc lại em nghe vài đoạn nhật ký bằng văn vần anh viết tặng em ngay sau cái đêm khó quên nhé!
- Có phải bài “Tối nay hai đứa bên thềm” và bài “Con đường phi lao” không?
- Ồ, em vẫn còn nhớ sao?
- Chẳng những nhớ mà em vẫn còn thuộc lòng kia đấy. Nhưng em chỉ nhớ thơ thôi, chứ không nhớ ngày đâu.
- Được rồi, em cứ đọc đi, anh sẽ theo dõi trong đây xem có chuẩn không nhé!
Chiều 25-8-1970
Yêu sao đôi mắt của em
Càng nhìn càng thấy thân quen lạ lùng
Phải chăng đây cõi vô cùng
Phải chăng đây cả muôn trùng biển khơi
Phải chăng đây cả đất trời
Phải chăng đây cả muôn lời lặng im.
Khuya 25-8-1970
Tối nay hai đứa bên thềm
Trời không trăng, đất dịu hiền lặng im
Khuya về thăm thẳm màn đêm
Vẫn đôi mắt ấy ánh lên sắc hồng
Đây của em cả tấm lòng
Muốn dâng anh trọn giữa vòng yêu thương
Đây của anh cả quê hương
Muốn dành em hết bốn phương đất trời.
Sáng 26-8-1970
Sáng nay em vội về rồi
Bồi hồi anh đứng, anh ngồi chẳng an
Nhìn trời, trời nắng chang chang
Biết là thương lắm nhưng làm sao đây
Ước gì được hóa đám mây
Để anh theo với em ngay bây giờ.
Chiều 26-8-1970
Tình em là một mỏ thơ
Để anh người thợ say sưa kiếm tìm
Thời gian gạn lọc con tim
Biết yêu hẳn có niềm tin vô bờ.
- Ồ, trí nhớ của em còn tuyệt vời lắm. Không sai một chữ. Vậy mà anh cứ lo nó sẽ bị giảm nhiều sau những ngày em bị tai biến vừa qua.
- Anh thì chỉ khéo “nịnh đầm”. Thực ra hiện nay em chẳng còn nhớ gì đâu. Riêng mấy câu thơ này không hiểu sao nhắc đến là em nhớ ngay. Còn bài “Con đường phi lao” thì em chỉ nhớ bỗ bã thôi. Anh đọc cho trọn vẹn đi.
- Được. Nhưng trước khi đọc, anh xin em nhớ lại đây là những cảm xúc đầu tiên rất thật anh ghi lại sau mấy ngày gặp em hôm 25 tháng Tám năm ấy đấy.
Con đường phi lao
Chạy dài sau xóm nhỏ
Có ai ngờ từ đó em ơi
Cùng nhau không hẹn một lời
Mà gặp nhau mà bồi hồi chia ly
Con đường không đi
Chỉ hai ta lặng bước
Giữa hai hàng phi lao xanh mướt
Và bát ngát mênh mông
Giữa hai cánh đồng lúa biếc.
Thế rồi em ơi có biết
Từ bấy đến nay
Anh vẫn một mình qua lại nơi đây
Nhìn những bóng cây, những dáng người thấp thoáng
Mơ màng anh tưởng có em qua
Ôi! Không biết nơi xa
Em có nóng lòng hiểu hết
Nỗi lòng anh tha thiết chờ trông.
- Anh biết không, ngày ấy nếu không có những bài thơ này của anh làm hành trang thì có lẽ không biết em sẽ vượt qua chính mình như thế nào trước sự dị nghị, phản đối của gia đình, bè bạn. Thế rồi cũng nhờ chính chùm thơ này mà mọi người đã hiểu anh, hiểu tình yêu của chúng mình nên đã có thái độ khác hẳn. Nhà thơ Đoàn Văn Cừ mừng lắm khi em đem “khoe”. Thế là ông đến nhà gặp ngay cha để hàn huyên. Em nghe “lỏm” được mấy câu. “Này cụ ạ! Ngọc Ký tài hoa đấy. Học đại học mà đã có tác phẩm 'Những năm tháng không quên'. Nay đọc chùm thơ Ký tặng cô Nhiễu, xúc động chân tình lắm. Trên đời này cuối cùng rồi ai cũng về cõi hết, chỉ nhà văn, nhà thơ là sống mãi thôi cụ ạ!”. Nghe vậy, em thấy cha tủm tỉm cười rồi khẽ gật gật đầu. Dừng giây lát, ông xé tờ lịch viết thật to hai chữ “Ngọc Ký” đưa cha với câu hỏi: “Cụ thấy cái tên này thế nào?”. “Ừ, cũng hay hay đấy! Ngọc Ký là chữ viết trên ngọc. Thảo nào ai cũng thích xin chữ ký của cậu ta!”. “Vâng, đúng thế. Cụ cứ gả cô Nhiễu cho Ký đi. Cô ấy sẽ hạnh phúc đấy, không khổ đâu cụ ạ!”. Anh biết không, sau buổi đó thái độ cha khác hẳn. Thế là mấy hôm sau cha bằng lòng cùng ông Cừ đạp xe xuống nhà mình chơi đấy. Còn mấy đứa bạn phản đối quyết liệt nhất khi đọc được mấy bài thơ này lại vui vẻ nhiệt tình nhất trong hôm dự đám cưới của chúng mình mới vui chứ.
- À! Đây rồi, kỷ niệm về ngày cưới của chúng mình đây rồi!

Ngày cưới 26-12-1970.
26-12-1970
Vậy là cái gì đến, đã đến. Ngày cưới của mình hôm nay thật vui và trang trọng. Trời tạnh ráo, rét nhẹ chứ không mưa dầm dề, buốt giá như mấy hôm rồi.
Phòng hội hôn được các anh phòng Văn hóa Hải Hậu lên trang trí giúp khá công phu, lộng lẫy. Giữa phông chính màu lam nhẹ nổi bật bức tranh một đóa hồng rực rỡ nở trên nền một trang sách mở với cây bút được cách điệu như một cây đuốc đang rực cháy bên cạnh một cặp chữ cái K - N được đan lồng vào nhau rất duyên dáng giữa hình một trái tim đỏ và chữ song hỷ thiếp vàng rực rỡ. Một góc phông bên phải là đôi chim bồ câu trắng đang sải cánh bay lên giữa một bầu trời đầy sao thấp thoáng lơ thơ một khóm trúc đầy mộng mơ ở góc trái. Những tấm dù màu trắng, hồng, xanh được căng làm mái che phía đầu khán phòng càng tôn thêm sự huyền ảo lung linh. Mình ưng nhất chiếc băng rôn màu điều phía phải nổi bật những nét chữ vàng thanh nhẹ khỏe khoắn: “Tình chỉ đẹp khi trọn lòng chung thủy. Đời chỉ vui khi nhiệm vụ hoàn thành”. Nghe đâu đây là tác phẩm của Chinh, bạn chí thân của Cách đã làm và mang về từ Hà Nội kia đấy.
Phòng hội hôn nối dài suốt hai sân với 50 bàn mà không còn chỗ trống. Cả làng Cồn Quay từ trẻ con đến cụ già có lẽ không thiếu một ai. Thầy Chử làm chủ hôn thật rôm rả. Các tiết mục văn nghệ cứ nối nhau không dứt giữa những tràng vỗ tay như pháo lớn liên hồi. Ông Rao - thợ xây nổi tiếng khắp vùng, già thế vẫn góp vui bài chèo cổ thật độc đáo. Cả bà Kinh nữa. Tóc đã bạc phơ mà giọng ca cổ cứ ngọt ơ như chuối chùa. Mình xúc động nhất là nghe phần đọc thơ, ngâm thơ của thầy Chử, cô Cương, bà Vân, ông Hợp, nhà thơ Đoàn Văn Cừ, anh Chi và cả của cha N. nữa. Mình rất thích mấy câu trong bài thơ của Lê Huy Hòa - bạn chung giường với mình những ngày cuối cùng ở Đại học:
…Nam Quan em có đường Vàng
Hải Thanh anh cũng đường làng xanh cây
Chưa xuân lộc đã dâng đầy
Em là cánh én tháng ngày đời anh…
Bác Trần Trọng Tân, Phó Bí thư thay mặt Huyện ủy Hải Hậu cũng về dự và tặng một phích nước, một chăn bông lớn. May quá, mình đang lo đêm tân hôn phải dùng chiếc chăn “bông đất” cũ mềm đã đằng đẵng theo mình suốt 4 năm đại học từ Thái Nguyên về Hà Đông rồi Hà Nội với cả chục lần được chần đi chần lại bằng đường kim mũi chỉ từ đôi bàn chân “vụng về”.
- Kể cũng kỳ thật. Bố mẹ mình ngày đó đâu có nghèo. Mang tiếng cưới con trai độc nhất mà chiếc chăn bông không sắm được cho con là thế nào?
Để giải tỏa nỗi băn khoăn của bà xã, tôi nhẹ nhàng tìm lời phân trần:
- Em có nhớ ngày đó bố mẹ đã ở tuổi bao nhiêu không? Thưa, gần 70 rồi đấy. Bố lại mắt mờ, mẹ thì viêm phế quản mãn tính. Nuôi anh ăn học trong hoàn cảnh sức khỏe như vậy mười mấy năm trời, hỏi còn gì. Tiếng cả nhà thanh3. Trước hôm cưới, dành dụm được trăm ngàn (tương đương khoảng một triệu hiện nay) tiền nhuận bút cuốn “Những năm tháng không quên” và tiền học bổng, anh đưa cả cho bố mẹ lo liệu. Nghĩ thương các cụ vô cùng, nên quần áo ngày cưới anh cũng có cầu kỳ yêu cầu may sắm gì đâu. Chiếc áo vest màu ghi sáng đã sờn vai anh mặc rước dâu hôm đó, chắc em nhớ chứ, của Nghiệp đen trút cho đó. Chiếc quần vải màu da đá là anh chị Giảng may cho. Đôi dép Tiền Phong thì thầy Chử tặng. Chiếc mũ thầy Châu cho. Khoản thuốc lá cả chục túp cũng nhờ bạn bè giúp. Riêng Nguyễn Tất Thắng (sau này làm Giám đốc Sở Giáo dục Nam Định) tặng hẳn 3 túp.
3 Mang tiếng là giàu có, nhưng thực ra không có gì cả.
- Còn thư và quà của bác Đồng nữa?
- Anh chẳng quên đâu. Việc đó anh lại ghi ở trang khác. Em nghe nhé.
5-02-1971
“Với Ký, theo bác cháu càng xây dựng gia đình sớm càng tốt… Nếu khó khăn gì bác sẽ giúp cho”. Lời dặn ấy của bác Phạm Văn Đồng đã giúp mình thêm tự tin trong việc quyết định đi tìm “nửa còn lại”. Ngày vui trăm năm đã đến, mình nhớ ngay việc viết thư báo hỷ để bác mừng.
Nào ngờ chiều nay mình nhận được quà mừng của bác, cũng vừa lúc N. từ trường Sư phạm Nam Bình về nghỉ Tết sau gần một tháng biền biệt xa nhau ngay sau đêm tân hôn. Niềm vui nhân mãi niềm vui. Cả hai hớn hở mở quà. Một tấm vải kaki Trung Quốc màu ghi xám chừng 4 mét. Có lẽ bác muốn tặng mình để may bộ đồ đại cán(4) lên lớp cho đàng hoàng, nhất là vào mùa đông. Một tấm lụa trắng muốt cũng chừng 4 mét. Có lẽ bác muốn dành để N. may áo dài. Một phong thư nho nhỏ xinh xinh chừng bằng nửa chiếc bì thư bình thường trong có tấm danh thiếp ngắn gọn do chính tay bác viết và ký tên: “Nhân dịp năm mới, đồng thời nhân việc vui lớn của cháu, bác thân ái gửi đến cháu Ký và cháu Nhiễu những lời chúc mừng tốt đẹp nhất của bác. Chúc hai cháu hạnh phúc, tiến bộ và giành thành tích mới. 25/1/1971”. Đặc biệt hơn, trong gói quà còn có chiếc khăn trùng tên với N. (Nhiễu).
(4) Y phục gồm quần Âu và áo mặc ngoài, cổ đứng, có bốn túi (loại trang phục mà sau Cách mạng tháng Tám, cán bộ thường mặc).
Thật ân tình, gần gũi quá. Tâm lý sâu sắc, cao cả quá! Món quà vô giá đó đã nhân lên gấp bội lần hạnh phúc thuở ban đầu của chúng mình. N. vội mở tấm vải lụa khoác lên người rồi choàng tấm khăn lên cổ. Đến trước tấm gương lớn, nàng xoay đi xoay lại ngắm nghía không chán mắt. Mình sung sướng phụ họa luôn:
- Tuyệt quá em ơi! Em mặc áo dài hợp lắm. Nhất là màu trắng như thế này càng nổi. Thôi, mai em đi may luôn đi. Tết sắp đến rồi, ta cũng phải “lên đời” một tý chứ.
Nàng nhìn tôi cười mãn nguyện:
- Vậy là Tết này vợ chồng ta đều có bộ đồ mới rồi. Vui quá. Em cứ lo Tết mà hai đứa vẫn khoác bộ y phục cũ hôm cưới thì buồn quá. Em không thể tưởng tượng nổi tại sao bác Đồng với ngàn việc trọng đại mất còn của đất nước từng giờ, từng phút như vậy thì thời gian đâu mà vẫn quan tâm đến vợ chồng mình một cách cụ thể, thiết thực, chu toàn đến vậy.
- Ừ, bác Đồng là thế đấy. Em biết không. Thời gian với bác là siêu vàng ngọc. Ấy vậy mà khi anh gửi biếu bác quyển “Những năm tháng không quên”, bác nói bác đọc hết, có đoạn tới hai lần cơ đấy. Thầy Mai kể với anh, bác có nhờ anh Việt Phương (thư ký của bác) hỏi thầy nhân vật L. mà anh kể trong sách có phải là vợ Ký bây giờ không. Thầy Mai nói với bác là không phải. Tên vợ Ký bây giờ là Hồng Nhiễu chứ không phải nhân vật L. như Ký kể trong sách tự truyện. Và chính điều đó đã gợi ý bác tặng em chiếc khăn quàng hồng nhiễu đấy chăng. Thật tuyệt vời quá.
Nhiễu nâng chiếc khăn ngắm đi ngắm lại, mắt chớp chớp, rồi lặng lẽ gấp lại xếp vào tủ, chậc lưỡi tủm tỉm cười:
- Kể ra mình cũng vinh dự thật đấy!

Tấm danh thiếp do chính tay bác Đồng viết.