S
au ngày cưới đúng 9 tháng 10 ngày, con gái đầu lòng của chúng tôi chào đời: 5-10-1971(Chúng tôi thành hôn ngày 26-12-1970). Biết bao khắc khoải, chờ mong; biết bao hồi hộp mong chờ òa vỡ. Ai cũng mừng rỡ thở phào, cười reo hỷ hả khi nhận ra sức khỏe cháu bình thường; nặng 3,7 kg; đôi tay không có biểu hiện gì “giống bố”. Tôi quyết định đặt tên con là Ngọc Ánh với hy vọng bé sẽ là viên ngọc luôn ánh ngời tỏa rạng sắc màu yêu thương, hạnh phúc, niềm tin. Ngày đầu tiên đón cháu từ trạm xá về nhà, tôi ngây ngất trong niềm hân hoan được bà xã đặt vào “vòng chân” để tôi ru ngủ trên chiếc võng đay. Và cứ thế một bài thơ ngẫu hứng được vang lên thật tự nhiên từ lòng tôi, từ cửa miệng tôi theo nhịp võng nhẹ nhàng à ơi, kẽo kẹt…
Cha nằm trên võng ru con
Tưởng như ru cả nước non quê nhà
Con ơi con ngủ đi mà
Trời xanh gió mát hiền hòa tiếng chim.
Đời cha bảy nổi ba chìm
Đời con cất cánh đi tìm tương lai
Đời cha đã có hôm nay
Đời con sẽ có ngày mai huy hoàng
Con là viên ngọc thời gian
Thiết tha thương mến muôn vàn con ơi!
Bao nhiêu ngang trái nỗi đời
Nhìn con cha thấy đất trời đầy hoa
Con là hạnh phúc cả nhà
Con là hy vọng, con là niềm tin.
Ngủ ngoan con nhé cho yên
Mai rồi con sẽ lớn trên đất này
Mở lòng giang cánh con bay
Bốn phương đất nước trời mây núi rừng…
Con đi đi đến tận cùng
Ước mơ ngày tháng cha từng đợi trông.
(Sau này, bài thơ đã trở thành bài hát ru của cả nhà. Ba con tôi lại dùng nó ru các con mình bằng việc thay đại từ nhân xưng.)
Từ ngày có bé Ngọc Ánh, vợ chồng tôi bận bịu, vất vả, chật vật hơn rất nhiều; song cũng vui hơn bội phần. Tôi luôn tìm cách hỗ trợ bà xã trong việc chăm sóc cháu. Thấy tôi ngày ngày ngồi ở cầu ao giặt tã lót cho con, mẹ tôi liền lên tiếng khá gay gắt:
- Việc này đàn bà phải làm chứ? Bắt chồng dùng chân giặt tã cho con vậy mà coi được à!
Tôi cười trừ, “phản biện”:
- Ấy chết, nhà con có bắt đâu. Con thích làm cho vui và cũng là cách để giải lao đầu óc mà mẹ!
Mẹ không chịu, khăng khăng bắt tôi phải rời xa cái việc mẹ cho là “khó coi” ấy. Phần nể mẹ, phần thương vợ, tôi quyết định “dung hòa”: Cứ sáng sáng, khi cả nhà còn im lìm trong giấc ngủ, tôi “bí mật” nhắc vợ mang tã lót con và quần áo mình xếp vào chậu mang ra cầu ao. Sau khi mớ đồ đó được khẩn trương giặt sạch sẽ, tôi nhanh chóng vào bàn làm việc, thắp đèn xem lại lần cuối trang giáo án chuẩn bị cho ngày lên lớp mới. Vừa lúc mẹ dậy, bà tỏ ra rất hài lòng khi thấy tôi đang say sưa bên bàn làm việc, còn vợ tôi đang lặng lẽ bê chậu đồ đầy tú hụ vào sân vắt lên dây phơi.
Vậy là chỉ một việc nhỏ tôi đã đạt ba mục đích: Vợ vui, mẹ vui và dĩ nhiên, tôi là người vui nhất.
Đến ngày Ngọc Ánh ăn dặm, tôi quyết định mua hẳn chiếc cối đá nhỏ về nhà tự xay bột nấu cháo cho con (ngày đó chưa có máy nghiền bột như bây giờ). Khi vận hành, xuất hiện một hiện tượng: lúc thớt trên của cối xoay thì thớt dưới cũng bập bênh xoay theo. Người vận hành phải một tay xoay thớt trên, một tay giữ thớt dưới. Tôi tay đâu làm việc đó. Thế là tôi liền nghĩ cách dùng ba thanh gỗ đóng thành chiếc kiềng nhỏ đặt chiếc cối cố định trên đó. Tôi lại gia công thêm cái núm cầm ôm trọn cái trục tay xoay. Khi vận hành, tôi thoải mái dùng chân phải giữ chặt cái núm xoay, cái lõi tay xay cứ thế xoay thoải mái; chẳng cần giữ, chiếc cối vẫn “ngoan ngoãn” nằm im theo sự điều khiển của tôi. Chân lại không hề bị cọ xát, bỏng rát như trước. Bột xay ra không bị dính bẩn vào đáy cối như bình thường mà được hứng sạch sẽ gọn gàng trong chiếc mẹt nhỏ đặt vừa trọn trong ba chân cối vòng kiềng cách mặt đất chừng năm, bảy phân.
Có bột rồi, việc nấu cháo và cho Ánh ăn cũng là một việc không dễ dàng với tôi. Nếu nấu bằng bếp rơm rạ, buộc phải một tay tiếp nhiên liệu cho ngọn lửa cháy đều; một tay quấy xoong bột liên tục để cháo không bị khê. Để tiện cho cách dùng đôi chân thực thi công việc này, tôi dùng bếp dầu thay cho bếp đun bằng rơm rạ (cũng tốn kém hơn nhiều đấy. Biết vậy, nhưng đành chấp nhận thôi!). Bếp được đặt ngay ở góc nhà. Sau khi mọi thứ đã chuẩn bị, nhóm lửa xong, tôi ung dung ngồi trên chiếc ghế dựa một chân điều khiển cho ngọn lửa to nhỏ theo yêu cầu, một chân khuấy bột. Mọi thao tác vừa nhẹ nhàng đơn giản; cháo lại dẻo ngon, không bị tro bụi vương vào như nấu bếp rơm rạ.
Khi cho bé ăn, dĩ nhiên tôi không thể vừa bế vừa đút cho con được. Những hôm bà xã vắng nhà, việc bế cháu thường do mẹ tôi đảm nhiệm. (Thời điểm này mẹ tôi đã gần 70, bị bệnh phế quản mãn tính nên rất yếu.) Khi bé biết ngồi vững, tôi nhờ mẹ đặt bé vào chiếc xe đẩy. Cứ thế tôi vừa bày đủ trò cho Ánh cười vui thích thú vừa nhẹ nhàng dùng chân phải, ngồi ở chiếc ghế đối diện bón từng thìa cháo ngon lành vào miệng con trong niềm vui dâng trào.
Giữa thời bao cấp khó khăn, cả nước dồn sức cho sự nghiệp chống Mỹ, mọi nhu yếu phẩm đều mua bằng tem phiếu theo định lượng rất khiêm nhường. Vợ chồng tôi dù phải ăn mì nắm, mì sợi, bo bo, ăn ngô răng ngựa bung, nhai đến sái quai hàm vẫn luôn có gạo tám xoan, có hạt đậu xanh dành xay bột cho con (phần lớn số gạo, đậu này do bố mẹ tôi dành dụm ưu tiên phần cháu). Tiêu chuẩn thịt hàng tháng, vợ chồng chỉ ăn chút mỡ, chút da; còn bao nhiêu nạc ngon dành chế biến ruốc cho con.
Được chăm sóc chu đáo, bé Ngọc Ánh ngày một dễ thương. Mười tháng tuổi đã nặng tới cả chục ký, trông mũm mĩm trắng trẻo như cục bột, ai nhìn cũng mê, cũng muốn bế nựng. Một hôm, đưa bé về quê ngoại ở huyện Nam Trực thăm ông bà ngoại, người làng Đô Đò tíu tít vây quanh, ai cũng tranh được ôm, được cưng nựng. Một người thốt lên:
- Trông bé Ngọc Ánh dễ thương như búp bê thế này ai dám tin đây là con Ký Nhiễu. Vậy mà lúc đầu nhà cụ Khúc cứ lo…
- Ơ, sao bà biết tên cháu vậy? - Bà xã tôi ngạc nhiên hỏi lại.
- Thì tên ở đây chứ đâu! - Người đàn bà trạc trung niên, mặc áo gụ bạc có mái tóc búi gọn phía sau gáy chỉ vào chỗ chiếc váy ngắn màu hoa lý nổi bật hai chữ Ngọc Ánh đỏ tươi được thêu nơi ngực cháu.
- Ồ, mẹ Nhiễu cũng khéo tay đáo để nhỉ? - Một cụ bà tóc đã hoa râm chít khăn mỏ quạ trên đầu tấm tắc.
- Dạ, không phải cháu thêu đâu. Đây chính là tác phẩm đầu tay của bố cháu đấy ạ!
- Ủa, thế anh Ký dùng chân mà thêu được à? - Tiếng xầm xì lan truyền.
- Vâng! Chân anh ấy khéo lắm. Nào khâu vá, thêu thùa. Nào bế nựng con ngủ. Nào xay bột nấu cháo, cho con ăn. Thương vợ vất vả, hàng ngày anh ấy còn đảm đang cả việc chăm sóc vườn rau, và cả đàn heo nái nữa đấy! - Nhiễu vui vẻ lên tiếng.
- Trời, bằng chân anh ấy làm những việc ấy thế nào được nhỉ?
Mấy người ngạc nhiên cùng đặt câu hỏi. Bà xã tôi lại được dịp thổ lộ:
- Với đàn heo anh ấy làm hai việc: dùng chân tỷ mẩn ngồi thái cây chuối làm thức ăn thô, và việc thứ hai là nấu cám. Xoong cám lớn nặng cả chục ký. Việc đun thổi thì bình thường. Khó nhất là lúc bê xuống vùi vào hung tro. Người dùng tay cũng không đơn giản. Bằng chân vậy mà anh ấy cứ làm ngon ơ. Anh nghĩ ra cách uốn một thanh sắt phi 6 theo hình cầu vòng có móc ở hai đầu. Khi cần, anh móc thanh sắt vào hai quai xoong. Chân trái đứng trụ; chân phải luồn giữ, nhấc bổng xoong cám đặt xuống vị trí mong muốn; cứ thế dùng bàn cùi xúc tro nóng phủ lên cho xoong cám nhừ.
Tiếng tấm tắc xuýt xoa lại vang lên:
- Anh ấy sáng kiến thật đấy!
- Thế còn việc chăm vườn rau anh ấy làm thế nào nhỉ?
- Vâng! Ngày ngày anh ấy coi việc chăm sóc vườn rau như một thú vui giải trí.
Bà xã say sưa tiếp tục mạch “khoe khoang” chồng.
- Sáng tinh mơ trước khi đến lớp, dù trời lạnh đến đâu anh cũng lội xuống ao; một chân đứng, một chân cứ thế vẩy nước lên vườn. Khi ngồi soạn bài, chấm bài cứ khi nào thấy mền mệt là anh lại ra vườn ngắm nghía, nhổ cỏ, vạch từng chiếc lá bắt sâu, cầm cây chép dăm cho đất tơi xốp. Chả thế mà vườn rau nhà cháu lúc nào cũng mơn mởn. Su hào, cải bắp, mùng tơi, rau diếp, cà chua, cà giòn… mùa nào rau ấy cứ ăn thoải mái.
- Bà con biết không, vừa rồi tôi xuống nhà chơi còn bắt gặp chuyện chú ấy cùng cô Nhiễu đi mót rạ về làm đồ đun bếp mới cảm động chứ! - Bà chị dâu vừa từ đâu về cũng vội góp lời.
- Chuyện thế nào, chú kể cho bà con nghe đi! - Tiếng mấy bà lại thúc giục.
- Vâng, cảm ơn sự quan tâm của mấy bà. - Nể lời mọi người, tôi đành dè dặt chia sẻ. - Bà con biết đấy, mới sinh con được ít ngày, một hôm nhà tôi đi dạy về qua mấy thửa ruộng xã viên vừa gặt, thấy phần gốc rạ còn khá cao, cô ấy liền dừng lại xin cắt mót về đun bếp. Được ông tổ trưởng cho phép, buổi chiều cô ấy mang liềm ra mấy mảnh ruộng cắt lấy cắt để từng bó rồi ôm lên đường phơi. Thấy vợ vất vả quá, tôi liền nghĩ cách dùng một cánh cửa nhỏ, buộc dây vào đó rồi bảo Nhiễu mang ra ruộng. Rạ cắt đến đâu cô ấy xếp lên cánh cửa đến đó. Đầu dây kia, tôi quàng qua bụng cứ thế lôi vào bờ, dùng chân hất lên đường phơi. Cũng không ít lần bị ngã lên ngã xuống vì vấp gốc rạ hoặc bị sụt bùn. Có lần sóng soài giữa ruộng; mặt mũi bị sặc bùn, Nhiễu phải vội vàng chạy đến “cấp cứu”. Mỗi lần như vậy, Nhiễu lại “bắt” tôi phải dừng ngay cái việc “bất đắc dĩ” này để về nhà chơi với con. Dù khắp người dính đầy bùn đất hòa cùng những giọt mồ hôi chảy ròng ròng, tôi vẫn “ngoan cố” cự tuyệt “mệnh lệnh” của cô ấy. Và càng làm càng hăng hái phấn khích. Mọi người qua đường nhìn thế, tỏ ra rất ái ngại. Song với tôi thì đó lại như một trò giải trí mới; được gắn mình với đồng ruộng, với thiên nhiên, tôi vui lắm bà con ạ!
Vừa lúc bà xã đưa tay đón bé Ngọc Ánh từ tay mấy bà, cười vui:
- Vâng, các bà mừng cho. Thương vợ thương con chỉ bằng chân mà việc gì anh ấy cũng làm được cả đấy ạ!
- Thế là nhà cụ Cửu Khúc có phúc rồi. Lúc đầu, ai cũng lo lấy cậu Ký cô Nhiễu sẽ khổ, sẽ khó có tương lai. - Mấy bà già cùng lên tiếng.
Bé Ngọc Ánh nhoẻn cười trong vòng tay âu yếm của mẹ và nụ hôn trìu mến của bố; vừa lúc ông bà ngoại chạy ra đón cháu. Nhiễu nhìn tôi với đôi mắt ướt long lanh vời vợi.
Càng lớn lên, Ngọc Ánh càng tỏ ra đứa trẻ chăm ngoan, giàu lòng trắc ẩn. Năm lên ba tuổi, một đêm đông rét giá, gió đông bắc rú từng hồi ngoài vườn, cả nhà đang ngủ yên ắng, bỗng nghe tiếng Ánh khóc. Vợ chồng tôi càng tìm lời dỗ ngọt, bé càng khóc to hơn. Giận quá, chúng tôi đành tung chăn cho bé dậy. Thật bất ngờ đến sửng sốt khi tôi thấy bé lao ra mở cửa chạy ra hiên rồi cúi xuống ôm chú cún nhỏ (mới được người bạn cho lúc chiều) đang ăng ẳng kêu cứu vì bị ngã xuống sân.
Khi bắt đầu đi học, Ánh siêng năng lắm. Ở trường về đến nhà là lao vào bàn học. Tối đến cha mẹ chỉ bận tâm việc đốc thúc cháu phải đi ngủ sớm chứ chẳng lúc nào phải giục học cả. Một đêm trăng suông, Ánh giật mình dậy, tưởng trời đã sáng, vội đòi cắp sách đi học. Nhà không có đồng hồ, chúng tôi giải thích thế nào cũng không chịu. Thế là tôi đành dẫn Ánh đến trường. Tới nơi mới nghe tiếng gà gáy, hai bố con phải đợi hơn hai tiếng đồng hồ cổng trường mới mở.
Không chỉ chăm học, Ánh còn rất chăm làm. Những năm học tiểu học, cứ chiều chiều học xong bài vở là xách giỏ đi bắt ốc sên, đập ngóe về nấu cám “bồi dưỡng” cho đàn heo con. Có ngày mang về cả ký “thực phẩm” tươi sống giá trị này. Đàn heo nhà tôi nhờ vậy lớn nhanh trông thấy. Mới hơn tháng tuổi có con đã nặng tới hơn 10 kg. Những ngày mùa, Ánh lại tranh thủ cùng bạn bè đi mót lúa. Trong khi bạn bè chỉ mót được chừng hai ba cân, còn Ánh nhờ chịu khó, có ngày mót được cả yến lúa.
Suốt thời gian đi học, Ánh làm lớp trưởng (riêng 3 năm trung học phổ thông làm Bí thư Chi đoàn) và luôn là học sinh giỏi. Tốt nghiệp trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nam Ninh, sau vài năm dạy ở quê, khi chúng tôi chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh, Ánh được nhận về dạy Toán ở trường Trung học cơ sở Phan Tây Hồ, Gò Vấp. Với năng lực và nhiệt tình vốn có, Ánh được bầu giữ chức Bí thư Đoàn trường và có năm đã giành giải nhất cuộc thi Bí thư Đoàn giỏi của quận. Hiện nay, Ngọc Ánh là hiệu trưởng có uy tín một trường trung học cơ sở quận Gò Vấp. Chồng của Ánh là chàng trai cùng làng đã từng 7 năm gắn bó với Trường Sa, nay là sĩ quan cao cấp một đơn vị của Quân khu 7. Hai con gái đều ngoan hiền giỏi giang; một cháu đã ra trường đi làm.

Ông và cháu Trà My (con gái đầu của Ánh) giữa Đà Lạt mộng mơ. (Ảnh chụp năm 2000.)
Ánh thực sự là tấm gương sáng cho hai em (Thanh Hương sinh năm 1973 và Tuấn Anh sinh năm 1977). Cả hai ngay từ nhỏ đã thể hiện nhiều nét đáng yêu. Thanh Hương sinh ra không được như chị, người lở lói mụn nhọt và nhỏ thó như con mèo hen. Đang học lớp 12 bị viêm khớp chân, Hương phải nghỉ học nằm ở nhà cả tháng trời. Vậy mà trở lại trường, con bé vẫn thuộc tốp dẫn đầu lớp chuyên Toán, khi thi tốt nghiệp vẫn đoạt thủ khoa tỉnh Hà Nam Ninh. Học mầm non, Hương đã biết thêu thùa, đan len, móc túi cước. Học giỏi lại tốt bụng, Hương luôn được bạn bè quý mến, có kẹo bánh đồ ăn gì cũng cho. Tất cả, Hương lại dành dụm gói mang về cho em. Thương bố mẹ nghèo, suốt những năm học phổ thông và cả thời gian học sư phạm, Hương vẫn không một lần đòi may quần áo mới. Chị Ánh thải ra bộ nào dùng bộ ấy. Học sư phạm xa nhà, Hương vừa học vừa tranh thủ móc túi cước, tháng tháng mang về cho mẹ bán lấy tiền trang trải chi phí. Không hề ngửa tay xin bố mẹ một xu, vậy mà ra trường, con bé vẫn tằn tiện mua được nửa chỉ vàng để khi chị Ánh cưới, dành hết mừng chị. Hiện Hương là hiệu phó một trường tiểu học cũng tại Gò Vấp. Chồng là cán bộ ngành công an phòng cháy chữa cháy. Con trai lớn sinh năm 1996 đang học trường trung cấp ngành của bố; con trai thứ hai học lớp 11.
Cũng như hai chị, dù là cục cưng của cả nhà, Tuấn Anh vẫn luôn biết nhường nhịn. Những năm cả nước thiếu đói (khoảng 1985-1987), nhiều bữa cả nhà ăn cháo, mẹ ưu tiên vẫn có cơm dành cho Tuấn Anh, song cậu một mực bắt chia đều cho hai chị mới chịu ăn. Một hôm, có người cho quả chuối, cậu liền có một cử chỉ rất dễ thương. Xúc động, tôi viết luôn thành bài thơ vui:
Quả chuối nhỏ
Bé bóc vỏ
Mời bố xơi
Bố mỉm cười
Nhường phần mẹ
Mẹ lặng lẽ
Đưa biếu bà
Bà cười xòa
Dành tặng bé
Ồ, lạ thế!
Quả chuối thôi
Cả nhà vui
Ăn chẳng hết…
Năm 1994 học lớp 11, kỳ thi học sinh giỏi tỉnh Hà Nam Ninh, Tuấn Anh đã giành giải ba cả môn Toán và Lý (dù lúc đó cậu chỉ ở quê một mình, còn cả nhà đã vào Thành phố Hồ Chí Minh). Nay Tuấn Anh là Thạc sĩ kiến trúc sư đang dạy tại Đại học Công nghệ Sài Gòn. Vợ dạy trường Cao đẳng nghề Thành phố Hồ Chí Minh. Hai con, một trai một gái đều đang học tiểu học.

Ngồi nghỉ mát cùng con trai Tuấn Anh trên đường từ trường về một chiều thu 1991.
Nhiều năm nay, dù suốt ngày tất bật với công việc trường lớp đến mức chồng chọc vui: cả mấy tháng nay chỉ sờ thấy chứ chẳng nhìn thấy vợ đâu, Ngọc Ánh vẫn luôn dành cho chúng tôi sự chăm lo đặc biệt. Nhiều hôm, bà xã tôi có việc vắng nhà, biết việc tắm rửa cho tôi đã có em trai Tuấn Anh lo, Ngọc Ánh vẫn không yên tâm, tối tối ra “tranh phần” giúp bố bằng được.
Ánh rất ham học hỏi, luôn có ý thức cầu tiến. Có chuyện gì ở lớp ở trường cũng về xin ý kiến bố. Một giáo án lên lớp tiết mẫu hay một bài toán khó, Ánh đều trao đổi với tôi. Dù bao năm nay chỉ quen với nghiệp Văn, tôi vẫn ít nhiều giúp ích được cho việc dạy Toán của Ánh. Đặc biệt, công tác chủ nhiệm lớp, việc giáo dục học sinh cá biệt cùng nghệ thuật lên lớp, Ánh luôn say mê hết mình. Biết tôi cũng vô cùng tâm huyết với lĩnh vực này, Ánh thường xuyên hỏi han đủ điều. Thay cho những lời thuyết giáo chung chung, tôi đã dành không ít thời gian kể cho con gái cưng nghe những câu chuyện sư phạm cảm động mà mình đã trải nghiệm.