C
âu hỏi : Tất cả các tôn giáo đều đòi hỏi một kiểu kỷ luật tự giác nào đó để tiết chế các bản năng thú tính trong con người. Thông qua sự tự giác kỷ luật, các bậc thánh nhân và huyền sĩ xác quyết rằng họ đã đạt tới cảnh giới thánh thiện. Vậy mà giờ ngài dường như muốn nói rằng những kỷ luật như vậy là một trở ngại cho việc giác ngộ, nhìn rõ Thượng Đế. Tôi thấy bối rối quá. Vậy ai mới đúng trong vấn đề này?
Krishnamurti : Vấn đề không phải là ai đúng, ai sai, quan trọng là bạn phải tự mình khám phá sự thật của vấn đề – mà không nghe theo một vị thánh, nghe theo một người từ Ấn Độ hay từ một nơi nào khác, dù xa lạ đến đâu cũng vậy.
Như vậy, bạn bị mắc kẹt giữa hai vấn đề này: Một người nói cần có kỷ luật, người khác lại nói chẳng cần kỷ luật gì cả. Nói chung, điều sẽ xảy ra là bạn chọn cái nào thuận tiện hơn, cái nào khiến bạn thỏa mãn hơn: Bạn thích người đó, thích ánh mắt của họ, phong thái, thiện cảm của họ và những thứ đại loại như vậy. Khi gạt qua một bên tất cả những thứ đó, hãy xem xét câu hỏi này một cách trực tiếp và tự tìm ra sự thật của vấn đề cho chính mình. Trong câu hỏi này có nhiều ẩn ý và chúng ta phải tiếp cận nó một cách rất thận trọng và dò dẫm từng bước.
Đa phần chúng ta đều muốn ai đó có uy quyền nói cho chúng ta biết phải làm gì. Chúng ta tìm một ai đó hướng dẫn chúng ta cách cư xử, bởi vì bản năng của chúng ta là muốn được an toàn, không muốn chịu đau khổ nhiều hơn. Người ta đồn rằng có ai đó đã đạt được hạnh phúc, niềm an lạc, hoặc bất cứ thứ gì bạn thích, và chúng ta hy vọng rằng bậc cao nhân kia sẽ nói cho ta biết cần làm gì để đạt tới cảnh giới đó. Đó là điều chúng ta mong muốn: Chúng ta muốn có được hạnh phúc giống như vậy, sự thanh tịnh, an lạc nội tại giống như vậy. Và trong thế giới hỗn loạn điên cuồng này, chúng ta muốn có ai đó nói cho chúng ta biết cần làm gì. Đó thật sự là bản năng cơ bản đối với đa số chúng ta và vì bản năng đó, chúng ta định ra khuôn mẫu cho hành động của mình. Có phải Thượng Đế, có phải thực thể tối thượng, cái không thể gọi tên và không đo lường được bằng ngôn từ – có phải điều đó xuất hiện bằng cách thông qua kỷ luật, thông qua việc tuân thủ một khuôn mẫu hành động cụ thể nào đó không? Chúng ta muốn đạt tới một mục tiêu cụ thể, một mục đích cụ thể, nên nghĩ rằng bằng cách tập luyện, bằng cách áp dụng kỷ luật, bằng cách ngăn cản hoặc giải phóng, chế ngự hoặc thay thế, chúng ta sẽ có thể tìm thấy điều mình đang tìm kiếm.
Vậy kỷ luật hàm ý điều gì? Tại sao chúng ta lại tự đặt ra kỷ luật cho bản thân, nếu ta có làm vậy? Kỷ luật và trí tuệ có thể đồng hành với nhau không? Đa phần mọi người cảm thấy rằng chúng ta phải khuất phục hoặc chế ngự thú tính, cái xấu trong mình thông qua một hình thức kỷ luật nào đó. Liệu thói xấu hay thú tính đó có thể chế ngự được thông qua kỷ luật không? Kỷ luật có nghĩa gì với chúng ta? Một quá trình hành động hứa hẹn sự tưởng thưởng, một quá trình hành động, mà nếu quyết tâm theo đuổi, nó sẽ cho chúng ta điều mình muốn – dù điều đó có thể tích cực hay tiêu cực; một khuôn mẫu về hành vi, mà nếu thực hành siêng năng, chuyên cần và vô cùng hăng hái, thì cuối cùng sẽ cho tôi điều tôi muốn. Kỷ luật có thể gây đau khổ, nhưng tôi sẵn lòng chịu đựng để đạt được kết quả. Bản ngã, vốn dĩ hung hăng, ích kỷ, đạo đức giả, gây lo âu, sợ hãi – bạn biết mà – bản ngã đó là nguyên nhân của thú tính trong chúng ta, chúng ta muốn biến chuyển, chế ngự, tiêu diệt nó. Làm sao thực hiện điều này? Liệu có khả dĩ khi áp dụng kỷ luật, hay bằng cách hiểu biết về quá khứ của bản ngã, bản ngã là gì, nó xuất hiện như thế nào, vân vân? Liệu chúng ta có tiêu diệt được thú tính trong mình thông qua sự ép buộc, hay thông qua trí tuệ không? Có phải trí tuệ chỉ là vấn đề kỷ luật không? Lúc này chúng ta hãy quên những gì các vị thánh đã dạy và những gì mà người khác nói. Chúng ta hãy tự mình đi vào khám phá vấn đề, như thể lần đầu tiên chúng ta nhìn thấy vấn đề này vậy. Khi đó thì rốt cuộc chúng ta mới có thể có được điều gì đó sáng tạo, chứ không chỉ trích dẫn những điều người khác nói, vốn chỉ toàn là những lời rỗng tuếch và vô ích.
Trước tiên, chúng ta nói rằng trong mình có sự xung đột giữa đen và trắng, giữa tham lam và không tham lam, vân vân. Tôi tham lam, thói xấu đó khiến tôi đau khổ. Để tống khứ lòng tham đó, tôi phải tự đặt ra kỷ luật cho bản thân. Tức là tôi phải chống lại bất cứ dạng xung đột nào khiến tôi đau khổ, mà trong trường hợp này tôi gọi là lòng tham. Lúc đó, tôi gọi nó là phản xã hội, là vô đạo đức, không thánh thiện, vân vân, chúng ta đưa ra rất nhiều lý do về xã hội - tôn giáo để chống lại nó. Vậy lòng tham có bị phá hủy hay trừ khử khỏi con người chúng ta thông qua sự cưỡng chế không? Đầu tiên, chúng ta hãy xem xét quá trình liên quan tới sự cưỡng chế, trừ khử, chống chọi. Điều gì xảy ra khi bạn chống lại lòng tham? Cái gì đang chống lại lòng tham? Đó là câu hỏi cần trả lời trước hết, không phải vậy sao? Tại sao bạn kháng cự lòng tham và thực thể nào lên tiếng rằng: “Tôi phải thoát khỏi lòng tham”? Thực thể nào nói “Tôi phải thoát khỏi lòng tham” thì hắn cũng tham lam, không phải vậy sao? Từ trước tới giờ, lòng tham làm lợi cho hắn, nhưng giờ đây, nó gây đau khổ. Do vậy, hắn mới nói: “Tôi phải tống khứ nó đi”. Động cơ để tống khứ nó cũng vẫn là một quá trình của sự tham lam, bởi vì hắn đang muốn trở thành gì đó mà hiện giờ hắn không có. Lúc này, không tham lam mới có lợi, nên tôi theo đuổi đức tính đó; nhưng động cơ, ý định thì vẫn là để trở thành gì đó, để trở nên không tham lam – mong muốn không tham lam thì vẫn là tham lam, chắc chắn rồi. Và một lần nữa, đó là một dạng thức tiêu cực trong việc nhấn mạnh, tôn lên cái “tôi”.
Chúng ta thấy rằng thói tham lam gây ra đau khổ, vì nhiều lý do hiển nhiên. Chừng nào chúng ta còn thích nó, chừng nào nó còn mang lại lợi ích cho chúng ta, thì không có vấn đề gì. Xã hội khuyến khích chúng ta tham lam theo những cách khác nhau; các tôn giáo cũng khuyến khích chúng ta tham lam theo những cách khác nhau như vậy. Chỉ cần nó có lợi, chỉ cần nó còn chưa gây đau khổ, thì chúng ta cứ theo đuổi nó. Nhưng ngay khi nó gây đau đớn thì chúng ta muốn chống lại nó. Và sự kháng cự đó là cái mà chúng ta gọi là kỷ luật để chống lại thói tham lam; nhưng liệu chúng ta có thoát khỏi lòng tham bằng sự kháng cự, chế ngự, bằng sự kiềm chế không? Bất cứ hành động nào được làm vì cái “tôi”, vốn đang muốn thoát khỏi lòng tham, thì vẫn cứ là sự tham lam. Do đó, bất cứ hành động nào, bất cứ phản ứng nào được làm vì người gắn liền với lòng tham đó thì hiển nhiên không phải là giải pháp.
Trước hết, phải có một tâm trí tĩnh lặng, một tâm trí không xáo trộn để hiểu bất cứ điều gì, đặc biệt là điều gì đó mà tôi không biết, điều gì đó mà tâm trí của tôi không thể thăm dò – điều mà người đặt câu hỏi này gọi là Thượng Đế. Để hiểu bất cứ điều gì, bất cứ vấn đề phức tạp nào – về cuộc sống hay sự tương giao, nói tóm lại là bất cứ vấn đề gì – thì phải có một chiều sâu tĩnh lặng nhất định đối với tâm trí. Liệu sự tĩnh lặng đó có xuất hiện thông qua bất kỳ một dạng thức cưỡng chế nào không? Tâm trí nông cạn có thể ép buộc chính nó, làm cho chính nó trở nên tĩnh lặng; nhưng chắc chắn sự tĩnh lặng như vậy là tĩnh lặng của suy tàn, của cái chết. Nó không có khả năng thích nghi, linh động, tinh nhạy. Vì vậy, kháng cự không phải là cách.
Vậy, để thấy được điều đó thì cần phải có trí tuệ, không phải vậy sao? Và thấy được tâm trí trì độn do bị ép buộc chính là khởi đầu của trí tuệ, không phải vậy sao? Tức là thấy được rằng kỷ luật chỉ thuần túy là tuân theo một khuôn mẫu hành động phát sinh từ nỗi sợ. Như vậy, việc áp dụng kỷ luật cho chính mình ngụ ý rằng: Chúng ta sợ không đạt được điều chúng ta muốn. Điều gì xảy ra khi bạn áp đặt kỷ luật lên tâm trí, khi bạn áp đặt kỷ luật cho con người bạn? Nó sẽ trở nên rất cứng rắn, khó uốn nắn, không nhanh nhẹn, không thích nghi, chẳng phải sao? Bạn đã gặp những người tự áp đặt kỷ luật cho chính họ chưa – nếu thật sự có những người như vậy? Hiển nhiên hậu quả là một quá trình suy tàn. Sự xung đột nội tại bị dẹp bỏ, bị giấu đi, nhưng nó vẫn đang ở đó, đang thiêu đốt con người.
Do đó, chúng ta thấy rằng kỷ luật, tức là sự kháng cự, chỉ đơn thuần tạo nên một thói quen và thói quen thì rõ ràng không thể tạo ra trí tuệ: Thói quen không bao giờ là trí tuệ, sự hành trì không bao giờ là trí tuệ. Những ngón tay bạn có thể trở nên rất khéo léo nhờ tập piano cả ngày; nhưng cần phải có trí tuệ để hướng dẫn đôi tay, và bây giờ chúng ta sắp đào sâu vào vấn đề trí tuệ đây.
Bạn nhìn thấy ai đó mà bạn nghĩ là một người hạnh phúc, đã giác ngộ, hay làm được những việc nào đó. Do cũng muốn hạnh phúc, nên bạn bắt chước họ. Sự bắt chước này được gọi là kỷ luật, không phải vậy sao? Chúng ta bắt chước người khác để được như họ; chúng ta sao chép hành vi để có được sự hạnh phúc mà bạn nghĩ người đó đang có. Liệu có tìm được hạnh phúc thông qua kỷ luật không? Bằng cách tập luyện theo quy tắc nào đó, bằng cách thực hành một loại kỷ luật, một kiểu cư xử nào đó, liệu bạn có được tự do không? Chắc chắn phải có tự do thì mới có thể khám phá, không phải vậy sao? Nếu muốn khám phá bất cứ điều gì, bạn phải tự do từ bên trong, rõ ràng là vậy. Liệu bạn có được tự do bằng cách định hướng tâm trí theo một cách đặc biệt mà bạn gọi là kỷ luật không? Đương nhiên là không rồi. Như vậy thì bạn chỉ thuần túy là cái máy lặp lại, kháng cự lại theo một kết luận, một kiểu cư xử nào đó. Tự do không thể tới qua con đường kỷ luật. Tự do chỉ có thể hiện hữu cùng với trí tuệ. Trí tuệ đó được đánh thức, hoặc bạn có được nó ngay khi bạn nhận ra rằng bất kỳ dạng thức ép buộc nào cũng là sự khước từ tự do, dù nội tại hay ngoại tại.
Rõ ràng yêu cầu trước nhất không phải kỷ luật, mà là tự do. Chỉ có đức hạnh mới mang lại sự tự do này. Tham lam gây nên hỗn loạn; nóng giận gây hỗn loạn; cay đắng cũng tạo ra hỗn loạn. Khi nhận ra điều đó, đương nhiên là bạn đã thoát khỏi chúng. Bạn không chống lại chúng, nhưng bạn thấy rằng chỉ khi tự do, bạn mới có thể khám phá và bất cứ dạng thức ép buộc nào cũng đều là mất tự do, vì vậy, không thể có sự khám phá. Cái đức hạnh mang lại cho bạn là tự do. Kẻ không có đức hạnh thì con người hắn sẽ rối loạn. Và trong tình trạng rối loạn đó, làm sao bạn có thể khám phá bất cứ điều gì? Bạn sẽ làm thế nào được? Do đó, đức hạnh không phải là sản phẩm cuối cùng của kỷ luật, nhưng đức hạnh là tự do và tự do không thể xuất hiện thông qua bất cứ hành động nào vô đạo đức, một hành động sai từ bản chất. Khó khăn của chúng ta chính là đa số chúng ta đọc sách quá nhiều, đa số chúng ta tuân thủ một cách bề ngoài quá nhiều kỷ luật – thức dậy mỗi sáng vào một giờ cố định, ngồi theo một tư thế nào đó, cố gắng giữ cho tâm trí ở một trạng thái nào đó – bạn biết đấy, cứ tập luyện, tập luyện, tuân thủ kỷ luật, bởi vì bạn được dạy rằng nếu làm như vậy suốt nhiều năm, thì đến phút cuối cùng bạn sẽ được diện kiến Thượng Đế. Tuy có thể tôi đã diễn tả điều đó một cách thô thiển, nhưng đó chính là lối suy nghĩ cơ bản của chúng ta. Chắc chắn Thượng Đế không dễ dàng xuất hiện như vậy chứ? Thượng Đế không phải là một điều gì có thể thuần túy đổi chác: Tôi làm thế này, đổi lại bạn cho tôi thế đó.
Đa phần chúng ta bị tác động bởi những ảnh hưởng ngoại giới, bởi những học thuyết, niềm tin tôn giáo và bởi sự đòi hỏi nội tại của riêng mình nhằm đạt tới điều gì đó, có được thứ gì đó, nên chúng ta rất khó có thể suy nghĩ về vấn đề này theo một cách mới mẻ, mà không suy nghĩ về mặt kỷ luật. Trước tiên, chúng ta phải thấy rất rõ ràng những ẩn ý của kỷ luật, cách nó thu hẹp, giới hạn tâm trí, ép buộc tâm trí phải hành động theo một kiểu cụ thể nào đó, thông qua khao khát của chúng ta, thông qua sự ảnh hưởng và những thứ đại loại như vậy. Một trí óc bị tác động, dù sự tác động đó “có đạo đức” đi nữa, thì cũng không thể tự do, và do đó, không thể hiểu thực tại. Thượng Đế, thực tại hay bất cứ tên nào bạn thích gọi – cách gọi không quan trọng – chỉ có thể bắt đầu hiện hữu khi có sự tự do, và sẽ không có tự do khi có sự cưỡng ép, dù tích cực hay tiêu cực, thông qua nỗi sợ hãi. Sẽ không có tự do nếu bạn đang tìm kiếm một mục đích, bởi vì bạn sẽ bị cột chặt vào mục đích đó. Bạn có thể thoát khỏi quá khứ, nhưng tương lai sẽ nắm giữ bạn, và như vậy là không có tự do. Chỉ khi tự do, người ta mới có thể khám phá điều gì đó: một ý tưởng mới, một cảm xúc mới, một nhận thức mới. Bất cứ hình thức kỷ luật nào dựa trên sự cưỡng chế cũng đều là khước từ sự tự do, dù về chính trị hay tôn giáo. Và do kỷ luật – tức là tuân theo một hành động với mục đích trước mắt – là sự ràng buộc, nên tâm trí không bao giờ có thể tự do. Nó chỉ có thể hoạt động theo các đường rãnh ghi sẵn, giống như một đĩa than vậy.
Do đó, bằng cách tập luyện, bằng thói quen, bằng sự trau dồi theo một khuôn mẫu, tâm trí chỉ đạt được những gì nó nhìn thấy trước mắt. Vì vậy, đó không phải là tự do; vì vậy, nó không thể nhận ra cái gì là vô hạn. Nhận thức về toàn bộ quá trình đó – tức là tại sao bạn không ngừng áp đặt kỷ luật cho chính mình theo dư luận, theo các bậc thánh nào đó, vì toàn bộ việc tuân thủ ý kiến, dù của một vị thánh hay của một người láng giềng, thì cũng như nhau mà thôi – nhận thức về toàn bộ sự tuân thủ này thông qua việc tập luyện, thông qua những con đường tinh vi để tự mình quy phục, để khước từ, xác nhận, kiềm chế, chế ngự, mà tất cả điều đó đều ám chỉ sự tuân thủ theo một khuôn mẫu: Đây đã là khởi đầu của tự do, và từ đó sẽ có đức hạnh. Chắc chắn đức hạnh không phải là sự trau dồi một ý tưởng cụ thể nào cả. Chẳng hạn, nếu theo đuổi đức tính không tham lam như mục đích sau cùng thì nó không còn là một phẩm hạnh nữa, phải vậy không? Tức là nếu bạn ý thức rằng mình không tham lam, thì bạn có phải là người đức hạnh không? Đó là điều chúng ta đang làm thông qua việc áp dụng kỷ luật.
Kỷ luật, sự tuân thủ, rèn luyện chỉ nhấn mạnh sự tự ý thức rằng mình là gì đó. Tâm trí rèn luyện tính không tham lam, và do đó, nó không thoát khỏi ý thức của riêng nó rằng mình không tham lam. Vì vậy, không phải nó thực sự không tham lam, nó chỉ đơn thuần khoác lên một chiếc áo choàng mới mà nó gọi là không tham lam. Chúng ta có thể thấy toàn bộ quá trình của tất cả những điều này: động cơ, sự khao khát đạt được một mục đích, việc tuân theo một khuôn mẫu, khao khát sự bảo đảm an toàn khi theo đuổi một khuôn mẫu – tất cả những điều này thuần túy là chuyển từ điều đã biết này sang điều đã biết khác, luôn luôn ở trong những giới hạn mà quá trình tự phong kín của trí óc đã vạch ra. Thấy được tất cả điều này, nhận thức được về nó là khởi đầu của trí tuệ, và trí tuệ không mang tính đạo đức, cũng không vô đạo đức, nó không thể vừa vặn trong một khuôn mẫu như đạo đức hay vô đạo đức. Trí tuệ mang lại tự do, chứ không phải sự phóng túng, không phải sự bừa bãi, hỗn loạn. Không có trí tuệ thì không có đức hạnh. Đức hạnh tạo nên tự do và trong tự do, thực tại bắt đầu hiện hữu. Nếu nhìn toàn bộ quá trình một cách trọn vẹn, trong chỉnh thể của nó, thì bạn sẽ thấy rằng không có xung đột. Chính vì chúng ta đang xung đột và vì muốn thoát khỏi cuộc xung đột đó, chúng ta mới viện đến nhiều dạng thức kỷ luật, từ chối và điều chỉnh khác nhau. Nhưng khi thấy được bản chất của quá trình xung đột, thì không còn vấn đề gì về kỷ luật nữa, bởi vì lúc đó, chúng ta hiểu được những con đường xung đột trong từng khoảnh khắc. Điều đó đòi hỏi sự tỉnh giác vô cùng lớn, phải luôn luôn theo dõi bản thân không rời mắt. Và điều kỳ lạ của việc này là mặc dù bạn có thể không phải lúc nào bạn cũng tỉnh giác, nhưng có một quá trình ghi nhận đang diễn ra bên trong bạn, một khi còn có ý hướng – thì sự nhạy cảm bên trong luôn luôn ghi lại hình ảnh, để nội tâm phóng chiếu hình ảnh đó ra ngay khi tâm trí bạn trở nên tĩnh lặng.
Do đó, kỷ luật không quan trọng. Sự nhạy cảm có thể không bao giờ xuất hiện bằng cách ép buộc. Bạn có thể buộc một đứa trẻ làm gì đó, bắt nó ngồi ở một góc phòng, và nó có thể im lặng. Nhưng trong thâm tâm, nó hẳn đang sôi sục, đang nhìn ra ngoài cửa sổ, đang làm gì đó để trốn thoát. Đó là việc mà chúng ta vẫn làm. Vì vậy, vấn đề kỷ luật và vấn đề ai đúng, ai sai thì chỉ chính bạn mới có thể giải quyết được thôi.
Và bạn cũng thấy đó, chúng ta sợ làm sai bởi vì chúng ta muốn thành công. Nỗi sợ hãi là lý do thật sự của khao khát chịu kỷ luật, nhưng những gì chưa biết không thể bị mắc kẹt trong tấm lưới kỷ luật. Ngược lại, cái không biết phải có tự do và không phải là khuôn mẫu của tâm trí. Đó là lý do tại sao tâm trí nhất thiết phải tĩnh lặng. Khi tâm trí ý thức rằng nó đang tĩnh lặng, thì nó không còn tĩnh lặng nữa. Khi tâm trí ý thức rằng nó không còn tham lam, thoát khỏi lòng tham, thì nó sẽ tự nhận thức chính nó trong chiếc áo choàng không tham lam mới mẻ, nhưng đó không phải là tĩnh lặng. Và đó là lý do tại sao người ta cũng phải hiểu vấn đề trong câu hỏi này là về người kiểm soát và đối tượng bị kiểm soát. Đó không phải là hai hiện tượng tách biệt, mà là một hiện tượng kết hợp với nhau: Người kiểm soát và đối tượng bị kiểm soát chỉ là một mà thôi.