Bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát là bản mô tả sự lãnh đạo chuyển hóa(33), chứ không phải vĩ mô hay vi mô.
Chuyển hóa. Lãnh đạo chuyển hóa chủ yếu xử lý tầm nhìn và tinh thần phục vụ – những gìđược giao phó cho bạn với tư cách là một nhà lãnh đạo hay nhà quản lý.
Vĩ mô. Lãnh đạo vĩ mô xử lý những mục tiêu chiến lược, cũng như cách thức tổ chức cấu trúc và các hệ thống, đồng thời thiết lập quy trình để đáp ứng các mục tiêu đó.
Vi mô. Lãnh đạo vi mô giải quyết các mối quan hệ, giải quyết việc xây dựng các tài khoản tình cảm sao cho bạn có thẩm quyền chính đáng đối với người khác – những người chọn cách đi theo bạn và liên kết với tầm nhìn hay sứ mệnh của bạn.
Các nhà điều hành cao cấp có hiệu quả dành phần lớn thời gian và sức lực cho những vấn đề ở tầm lãnh đạo chuyển hóa và vĩ mô. Họ tập trung vào việc duy trìvà nâng cao các mối quan hệ với những người mà họ làm việc chung nhiều nhất.
Đối với nhà lãnh đạo, bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát của tổ chức có vai trò giống như bản mô tả về tầm nhìn và tinh thần phục vụ của họ, bởi nó đúc kết những giá trị cốt lõi của tổ chức; tạo ra một bối cảnh đem lại ý nghĩa, phương hướng và sự gắn kết mọi thứ khác.
Các bản tuyên ngôn sứ mệnh cần ngắn gọn để mọi người dễ nhớ và thực hiện, nhưng chúng cũng phải đảm bảo sự toàn diện. Nhưng làm thế nào để vừa ngắn gọn, lại vừa toàn diện? Chúng ta thấy trong thế giới vi tính chẳng hạn, công nghệ càng phức tạp thìsản phẩm càng đơn giản. Bản tuyên ngôn sứ mệnh cũng tương tự như thế. Nếu bản tuyên ngôn sứ mệnh thể hiện "phần mềm" của bạn, bạn sẽ bắt đầu nhìn nhận và xử lý vấn đề thông qua nó.
Điều này không có nghĩa là bản tuyên ngôn sứ mệnh có thể thay thế các mục tiêu của tổ chức, nhưng nó định hướng các mục tiêu đó và tạo ra bối cảnh lẫn sự gắn kết cho mọi thứ khác.
Bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát cần phải xử lý tất cả các khía cạnh trách nhiệm của một con người, cả trong dài hạn lẫn ngắn hạn. Nó có thể được áp dụng cho mọi tổ chức, như một mẫu số chung mà các nhà lãnh đạo của các tổ chức có thể xem xét khi họ xây dựng bản tuyên ngôn sứ mệnh cho tổ chức của mình. Bản tuyên ngôn đó được viết như thế này:
Nâng cao sự phồn vinh kinh tế và chất lượng cuộc sống của tất cả mọi người có liên quan.
BA PHẦN QUAN TRỌNG NHẤT
Bây giờ tôi sẽ bình luận về ba phần chính của một bản tuyên ngôn sứ mệnh.
1. Sự phồn vinh kinh tế. Tại sao chúng ta đề cập đến khía cạnh kinh tế trước tiên? Bởi vìcác tổ chức được thành lập chủ yếu để phục vụ các mục đích kinh tế. Công ăn việc làm là cách để người ta đảm bảo cuộc sống của mình. Nó không thay thế gia đình, nhà thờ hay các hội đoàn. Lao động là nhằm tạo ra của cải, làm ra các đồ vật mà người ta có thể sử dụng hay tiêu thụ trong cuộc sống hàng ngày – và, lý tưởng nhất là, có đủ tiền để đóng thuế, chi trả các khoản phí và trang trải mọi nhu cầu khác.
Đôi khi chúng ta không chú ý đến thực tế đơn giản này. Đó là điều mà Abraham Zaleznik, giáo sư trước đây của tôi ở Trường Kinh doanh Harvard, đã gợi ý trong bài viết của mình có tựa đề "Công việc thật sự" (Harvard Business Review, Tháng 1-2/1989). Tom Peters và Bob Waterman cũng nói điều tương tự trong cuốn sách của họ có tựa đề In Search of Excellence (Tìm kiếm sự vượt trội): Các công ty tồn tại để làm ra và bán sản phẩm. Còn Ted Levitt, tác giả cuốn Marketing Management (Quản lý tiếp thị), nói rằng các công ty tồn tại để tìm kiếm và giữ chân khách hàng. Những ý tưởng thật đơn giản!
2. Chất lượng cuộc sống. Các cá nhân và tổ chức đôi khi nghĩ rằng họ không thể giải quyết vấn đề chất lượng cuộc sống, trừ phi họ tương đối giàu có. Xét về lịch sử thìđúng là như vậy; có lẽ có đến 90% số người trên thế giới này chưa bận tâm đến vấn đề chất lượng cuộc sống, mà chỉ lo làm thế nào để tồn tại. Ngay cả ở Mỹ ngày nay có lẽ chỉ 50% dân số quan tâm và dành thời gian để giải quyết các vấn đề về chất lượng cuộc sống. Đó là lý do tại sao chúng ta có quá nhiều phong trào vận động lập pháp và xã hội hướng tới các hoạt động nghỉ ngơi, giải trí, giáo dục thường xuyên, thể dục, rèn luyện sức khỏe, vui chơi, đi lại và du lịch.
Các nhà điều hành kinh doanh cần quan tâm đến chất lượng cuộc sống toàn diện của những người có liên quan, nhưng trách nhiệm chính của họ là nâng cao chất lượng cuộc sống trong công việc; còn những định chế khác – trường học, gia đình, nhà thờ – xử lý nhiều hơn các vấn đề về đời sống riêng.
Tôi nhận thấy có năm khía cạnh về chất lượng cuộc sống:
• Sự chấp nhận và tình yêu. Người ta có nhu cầu được đùm bọc và được chấp nhận, được tham gia với những người khác trong sự nghiệp chung, tham gia vào các mối quan hệ cùng thắng, trao và nhận tình yêu.
• Thử thách và trưởng thành. Người ta cũng có nhu cầu trải nghiệm thách thức và đối đầu để trưởng thành và phát triển, để được trọng dụng, để được thông tin và để sáng tạo. Phần lớn lực lượng lao động sở hữu nhiều khả năng, trí thông minh, sự tháo vát và nhiều sáng kiến hơn so với đòi hỏi của công việc họ đang làm. Thật là một sự lãng phí! Các nhà lãnh đạo phải phát hiện, phát triển, sử dụng và công nhận tài năng; nếu không người ta sẽ bỏ đi nơi khác, về thể xác hay tinh thần, để được thỏa mãn khát vọng và mong muốn trưởng thành của họ.
• Mục đích và ý nghĩa. Người ta cũng có nhu cầu về mục đích và ý nghĩa cuộc sống. Người ta có thể kiếm được nhiều tiền, có tất cả trải nghiệm trưởng thành và các mối quan hệ tốt, nhưng nếu công việc tự nó không làm người ta thỏa mãn hoặc nếu kết quả không đóng góp một cách xây dựng cho xã hội, họ sẽ không có động lực mạnh mẽ và sâu xa nhất.
Khía cạnh kinh tế là yếu tố bên ngoài. Nhưng bạn làm việc không chỉ vìtiền – tiền bạc chỉ là phương tiện. Bạn làm việc còn vìsự thỏa mãn của nội tâm, nghĩa là bản chất của công việc, những mối quan hệ trong công việc, nhận thức về sự đóng góp cho điều có ý nghĩa sẽ làm thỏa mãn nội tâm và chính bạn.
• Sự công bằng và cơ hội. Các nguyên tắc cơ bản trong lĩnh vực động lực con người nhấn mạnh đến sự công bằng về phần thưởng kinh tế và cơ hội về phần thưởng tự thân. Frederick Herzberg, giáo sư trường Đại học Tổng hợp Utah và là một chuyên gia trong lĩnh vực tạo động lực con người, nói về những "yếu tố gây bất mãn" và những "yếu tố làm thỏa mãn" hay những yếu tố tạo động lực, rằng yếu tố gây bất mãn có thể là một nhận thức về sự bất bình đẳng về các phần thưởng kinh tế. Khi người ta bất mãn, khi các nhu cầu ở cấp độ cao của họ không được đáp ứng, họ sẽ chống lại tổ chức theo cách này hay cách khác để làm cho cuộc sống của họ trở nên có gắn kết và có ý nghĩa. Đó là lý do tại sao "sự phồn vinh kinh tế" và "chất lượng cuộc sống" của một con người lại có liên hệ qua lại một cách chặt chẽ.
• Sự cân bằng cuộc sống. Bây giờ, nếu người ta đã có sự công bằng, công lý và bình đẳng về phần thưởng kinh tế, nhưng thiếu sự thách thức và ý nghĩa trong các tổ chức của họ thìhọ sẽ làm gì? Họ sẽ gây sức ép đòi thêm tiền bạc, thêm lợi ích, và thêm nhiều thời gian rảnh rỗi – bởi vìkhi có thêm nhiều tiền bạc và thời gian, họ có cơ hội thỏa mãn những mối quan tâm khác của mình và tìm kiếm sự thỏa mãn nội tại của họ bên ngoài công việc. Do đó, thách thức thật sự của lãnh đạo là thừa nhận rằng đây không chỉ là nhu cầu của con người, mà còn là khả năng của họ. Và nếu nhu cầu không được đáp ứng thìkhả năng bị phớt lờ kia sẽ hành động ngược với tổ chức.
Chẳng hạn, nếu người ta có bản tuyên ngôn sứ mệnh chỉ tập trung vào khía cạnh kinh tế mà không có những khía cạnh xã hội, tâm lý và tinh thần, thìsứ mệnh đó lại khuyến khích người ta tìm kiếm việc làm ngoài giờ hay sử dụng tài năng và sức lực để kiếm thêm tiền hay một giao kèo khác tốt hơn nhằm tìm kiếm sự thỏa mãn khác bên ngoài công việc.
3. Tất cả mọi người có liên quan. Bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát này đề cập đến tất cả mọi người liên quan. Và ai là người có liên quan hay tham gia đóng góp? Cách tốt nhất để trả lời câu hỏi đó là đặt câu hỏi: "Ai sẽ thiệt thòi nếu tổ chức thất bại?".
Việc ai là người thiệt thòi còn tùy thuộc vào tình huống cụ thể. Nếu ông chủ đầu tư toàn bộ tiền tiết kiệm cả đời của mình vào doanh nghiệp và đang gặp rủi ro tràn ngập, thìcó lẽ họ sẽ là người đau đớn nhất khi doanh nghiệp thất bại. Những người khác có thể ra đi và tìm kiếm công việc khác. Nhưng ông chủ có thể bị phá sản và phải làm lại từ đầu. Họ có thể phải trả những khoản nợ khổng lồ trong một thời gian dài. Tuy nhiên, nếu ông chủ giàu có và có nhiều tài sản đa dạng khác, họ có thể không đau đớn lắm nếu một khoản đầu tư hay một doanh nghiệp của mình thất bại. Nhưng những người lao động có thể bị khổ sở nhiều hơn, đặc biệt nếu họ là các nhà chuyên môn ngành hẹp bị mắc kẹt trong một thị trấn chỉ chuyên về một ngành nghề với sự đào tạo và những kỹ năng không còn phù hợp. Các nhà cung cấp cũng có thể thiệt thòi lớn. Và hiệu ứng domino có thể dẫn đến tác hại cho nhiều người khác trong cộng đồng.
Cần có sự phán đoán, suy xét và một ý thức phục vụ đầy đủ đối với tất cả những người có liên quan – tất cả những người có phần đóng góp cho sự phồn vinh và thành công của doanh nghiệp – bao gồm khách hàng, nhà cung cấp, nhà phân phối, các đại lý, cộng đồng và công chúng nói chung. Bởi vìnếu các nhà lãnh đạo doanh nghiệp là người lạm dụng, họ sẽ góp phần tạo ra một bầu không khí nghi ngờ, lôi kéo báo chí vào cuộc và làm tổn thương nhiều công ty khác trong cùng ngành. Họ thậm chí có thể vận động để cho ra những đạo luật đặc biệt để lảng tránh chuyện làm ăn bất chính với danh nghĩa "doanh nghiệp lớn".
Các nhà lãnh đạo doanh nghiệp phải có ý thức trách nhiệm cao về những vấn đề xã hội, trực tiếp tham gia và vận động các thành viên trong tổ chức cùng tham gia vào các vấn đề mang tính xã hội. Nhiều tổ chức muốn nhân viên của họ tham gia vào công việc tình nguyện liên quan đến một số chương trình xã hội và giáo dục, bởi họ biết rằng điều này ảnh hưởng trực tiếp đến một số người có liên quan của công ty và ảnh hưởng gián tiếp đến toàn bộ môi trường kinh doanh.
Những người tham gia góp vốn không chỉ là những cổ đông. Hầu hết các bản tuyên ngôn sứ mệnh được thiết lập đều hướng về các cổ đông – và, một cách cụ thể hơn, về cổ tức ngắn hạn hàng quý. Lý do là vìnhiều tổ chức được sở hữu bởi những cổ đông nhỏ là những người trông mong vào nguồn thu nhập đó; mất nguồn thu này, cuộc sống của họ sẽ gặp nhiều khó khăn. Nhưng toàn bộ hiện tượng "con ngỗng và quả trứng vàng" lại có tác dụng ở đây: nếu chúng ta tập trung vào ngắn hạn và giết con ngỗng, chúng ta sẽ không có thêm những quả trứng vàng – và điều đó làm tổn thương không chỉ cổ đông, mà toàn bộ những người có liên quan khác.
Hãy thử hình dung ví dụ về một nhà doanh nghiệp dẫn các nhân viên ưu tú của mình đến một khu đất có phong cảnh đẹp trông ra một thung lũng hùng vĩ và nói với họ: "Tôi đánh giá cao tất cả những gìcác bạn đã làm trong những năm qua. Nếu các bạn tiếp tục cống hiến và chăm chỉ, tôi chỉ muốn các bạn biết rằng một ngày nào đó tất cả những thứ này sẽ là của tôi". Đó chính là điều mà một số bản tuyên ngôn sứ mệnh được diễn đạt bằng lời lẽ.
Trong các tổ chức có một loại lương tâm, lương tâm xã hội cũng như lương tâm cá nhân, giúp xác định sự bình đẳng và công bằng. Bất cứ khi nào bạn yêu cầu người ta đầu tư vào nhiều hơn mức mà họ được hưởng, bạn sẽ phải gánh lấy nhiều hệ quả tiêu cực. Hoặc, nếu có nhiều phần thưởng hơn mức đầu tư, thìđiều đó cũng là một sự bất công trong xã hội – và cuối cùng sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực lên những điều khác.
Đó là lý do tại sao lãnh đạo chuyển hóa đòi hỏi một ý thức phục vụ cho tổng thể và sự cân bằng thận trọng giữa nhiều lợi ích khác nhau. Lãnh đạo chuyển hóa không phải là lối tiếp cận giao dịch. Phong trào nguồn nhân lực xác định con người như tài sản, như các nguồn lực khác; họ đúng là như thế và còn hơn thế nữa – họ có giá trị tự thân, bởi con người họ là của họ, chứ không chỉ là tài sản của tổ chức. Nếu không nhận thấy con người có giá trị tự thân, bạn dễ sa vào một lối tiếp cận thực dụng. Bạn đối xử với họ như những tài sản quan trọng, nhưng bạn đã xâm phạm bản tính tinh thần và ý thức của họ về giá trị tự thân. Rốt cuộc phương pháp tiếp cận nguồn nhân lực đối với sự lãnh đạo sẽ là giao dịch – không phải là biến đổi hay hiệp lực.
Phương pháp tiếp cận tập trung vào nguyên tắc đối với lãnh đạo là cách tiếp cận chuyển hóa, cho người ta niềm tin rằng họ không bị chi phối bởi những cá tính nông nổi mà bởi những nguyên tắc đúng đắn, đặc biệt là nếu các nguyên tắc đó hiện hữu trong bản tuyên ngôn sứ mệnh và thể hiện qua phong cách quản lý, thực hành, các quy trình, chính sách, cấu trúc chiến lược, các hệ thống... Thế rồi niềm tin của họ được tăng lên vì"nơi này được điều hành bằng những nguyên tắc" và rằng mọi người, kể cả những nhân vật cao cấp, đều có trách nhiệm trước các nguyên tắc đó và có trách nhiệm với nhau.
Thật vậy, tôi mong muốn được thấy một sơ đồ tổ chức mới: ở trung tâm sơ đồ là các nguyên tắc đúng đắn và ở ngoại vi là các hoạt động phục vụ khác nhau. Vị chủ tịch công ty và tất cả người khác đều có trách nhiệm trước các nguyên tắc đó.
Điều tôi muốn nói là bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát, cho dù có được viết ra hay không, thìnó vẫn đang vận hành. Nó giống như một quy luật tự nhiên: bạn không thể xâm phạm – hay xâm phạm ý nghĩa này của toàn thể cộng đồng kinh tế – mà không bị trừng phạt.
NĂM LỢI ÍCH LỚN
Tôi thấy có năm giá trị cơ bản của bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát này.
• Sự cân bằng tổng thể. Bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát giúp bạn có tư duy tổng thể về tất cả những người có liên quan. Bạn biết rằng bằng cách thường xuyên chú tâm đến các nguyên tắc chuyển hóa, tất cả những người có liên quan sẽ được hưởng lợi từ sự hiệp lực.
• Tầm nhìn ngắn hạn và dài hạn. Bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát hàm ý rằng nếu cố sử dụng lối tiếp cận ngắn hạn, bạn sẽ phải hy sinh lợi ích lâu dài hay "giết con ngỗng để lấy trứng vàng".
• Thách thức chuyên môn. Bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát nêu đầy đủ thách thức dành cho cấp lãnh đạo trong suốt sự nghiệp chuyên môn của họ.
• Bối cảnh quản lý. Trong phạm vi của bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát, bạn có thể thiết lập tốt hơn các chính sách và quy trình, chiến lược, cấu trúc và hệ thống.
• ý thức cá nhân về tinh thần phục vụ. Bản tuyên ngôn sứ mệnh phổ quát tạo ý thức phục vụ con người và các nguồn lực khác.
Như đã nói, tôi thấy đây là một bản tuyên ngôn sứ mệnh chung cho các nhà lãnh đạo, không nhất thiết cho các tổ chức, mặc dù các nhà lãnh đạo có thể muốn đưa khái niệm này vào trong bản tuyên ngôn sứ mệnh của tổ chức. Có thể họ cũng muốn áp dụng khái niệm này vào bản tuyên ngôn sứ mệnh của cá nhân hay gia đình. Bản tuyên ngôn phổ quát không loại trừ khả năng áp dụng đối với cá nhân, gia đình hay công ty theo bất cứ hình thức nào.