Công ty ngân hàng tư nhân Union Bancaire Privée chiếm dụng một tòa nhà văn phòng lắp kính đen cao 10 tầng ở thành phố Geneva lúc nhúc cư dân nói tiếng Pháp. Tòa nhà tọa lạc tại phố Rhone. Đó là trung tâm khu mua sắm đắt đỏ của Geneva, cách cái đài phun nước mà tôi rất ưa thích không xa lắm.
Khác hẳn một ngân hàng ở Mỹ, nơi tôi chỉ cần bước qua cửa là nhìn thấy những nhân viên thu ngân tươi cười đằng sau những tấm kính chống đạn, bên trong cái sảnh này chỉ có đúng một cô gái trẻ được bao bọc trong khoảng 40 tấn đá cẩm thạch xám Italia. Cô nàng ngồi phía sau một chiếc bàn gỗ gụ chắc chắn lớn đến mức trực thăng của tôi đậu lên cũng được. Cô mặc một chiếc quần màu ghi nhạt, chiếc áo màu trắng có cổ cao, nét mặt thì hoàn toàn vô cảm. Tóc cô ta cũng màu vàng, được vấn ra sau thành búi. Nước da cô ta thật tuyệt vời, không hề có lấy một nếp nhăn hay một chỗ khiếm khuyết nào. Lại một người máy Thụy Sĩ nữa đây, tôi nghĩ bụng.
Khi Danny và tôi bước tới bên bàn, cô nàng ngước lên nhìn chúng tôi vẻ nghi ngờ. Cô ta biết rồi ư! Dĩ nhiên là cô ta biết. Mọi thứ hiện rành rành trên gương mặt chúng tôi. Những tên tội phạm trẻ tuổi người Mỹ đang tìm cách rửa số tiền bất hợp pháp của chúng đây mà! Những tên buôn lậu ma túy kiếm tiền bằng cách bán ma túy cho đám học sinh, sinh viên đây mà!
Tôi hít một hơi thật sâu và cố kìm không giải thích cho cô ta rằng chúng tôi chỉ là những tên lừa đảo cổ phiếu nghiện ma túy mà thôi. Thực tế, chúng tôi không hề bán ma túy, ơn Chúa!
Nhưng may thay, cô ta giữ ý nghĩ của mình cho riêng mình và không tìm hiểu bản chất chính xác tội danh của chúng tôi. Cô ta nói: “Tôi có thể giúp gì được cho các ngài?”
Có thể ư? Lạy Chúa lòng lành! “Vâng, tôi đến đây để gặp Jean Jacques Saurel*. Tôi tên là Jordan Belfort?” Quái quỷ thế nào tôi lại nói mà như hỏi vậy chứ? Cái dân Thụy Sĩ khốn kiếp đã tiêm nhiễm cho tôi mất rồi.
Tôi đợi cho ả người máy trả lời, nhưng cô ta không đáp. Cô ta chỉ nhìn tôi đăm đăm… và tiếp đến là Danny… nhìn cả hai chúng tôi từ đầu đến chân. Sau đó, như thể muốn nhấn mạnh rằng sao tôi phát âm cái tên của ông Saurel chán đến thế, cô ta đáp: “À - có phải ngài muốn nói đến ngài Jean Jacques Saurel!” Cô ta nhắc đến tên ông ta nghe ngọt ngào làm sao! “Vâng, thưa ngài Belfort, tất cả mọi người đang chờ ngài trên tầng 5.” Cô ta làm hiệu về phía cầu thang máy.
Danny và tôi leo lên chiếc thang máy ốp gỗ gụ do một anh chàng ăn mặc như một thống chế Thụy Sĩ thế kỷ XIX điều khiển. Tôi nói nhanh với Danny: “Nhớ kỹ những gì tôi đã dặn anh nhé. Bất kể mọi việc tiến triển đến đâu thì chúng ta cũng đều phải ra về và nói rằng chúng ta không quan tâm. Được chứ?”
Danny gật đầu.
Chúng tôi ra khỏi thang máy và đi bộ dọc hành lang ốp gỗ gụ dài toát lên vẻ giàu sang. Nơi này tĩnh lặng đến mức tôi cảm thấy như mình đang ở trong một cái quan tài, nhưng tôi gắng kìm không đưa ra bất kỳ kết luận gì về cái ý nghĩ ấy. Thay vào đó, tôi hít một hơi dài và tiếp tục tiến về phía một bóng người cao, mảnh khảnh ở cuối hành lang.
*Tên đã được thay đổi.
“A ha, ngài Belfort! Ngài Porush! Xin chào cả hai vị!”, Jean Jacques Saurel nồng nhiệt lên tiếng. Chúng tôi bắt tay nhau. Sau đó ông ta ném cho tôi một nụ cười nhăn nhở và tiếp: “Tôi tin rằng thời gian ngài ở tại đây đã dễ chịu hơn so với chuyện rắc rối ở sân bay. Chắc ngài đến phải kể cho tôi nghe cuộc phiêu lưu của ngài với cô nàng chiêu đãi viên khi ta dùng chút cà phê!”
Ông ta nháy mắt với tôi.
Đồ khốn! Tôi nghĩ bụng. Chắc chắn ông ta không phải là một tay Thụy Sĩ nói tiếng Pháp điển hình. Ông ta là một thứ rác rưởi châu Âu thì đúng hơn, nhưng ông ta vẫn… khá khéo léo nên cũng không thể là dân Thụy Sĩ được. Ông ta có nước da bánh mật và mái tóc nâu sẫm láng bóng được vuốt ngược ra sau, chẳng khác gì một cư dân Phố Wall đích thực. Gương mặt ông ta mỏng và dài, giống như thân hình của ông ta, nhưng tất cả ăn khớp với nhau thật hoàn hảo. Ông ta mặc một bộ com lê màu nước biển với những đường kẻ màu ghi phấn, không có lấy một khiếm khuyết, một chiếc áo sơ mi trắng có cổ tay áo kiểu Pháp và một chiếc cà vạt lụa màu lam trông biết ngay là hàng đắt tiền. Quần áo khoác lên cái bộ khung của ông ta thật hợp, đúng kiểu cách mà chỉ có đám dân châu Âu mới có.
Chúng tôi có cuộc trò chuyện nhanh trong hành lang, nhờ thế tôi phát hiện ra rằng Jacques đích thực không phải dân Thụy Sĩ mà là dân Pháp, qua khoản vay từ chi nhánh Paris của ngân hàng này. Thế mới hay. Rồi ông ta gây ấn tượng với tôi khi nói rằng ông ta không thích để Gary Kamisky tham dự cuộc gặp này nhưng vì chính Gary là người giới thiệu nên không thể tránh được. Ông ta gợi ý chúng tôi chỉ nên bàn bạc mọi chuyện vừa đủ còn sau đó sẽ gặp riêng, hoặc cuối ngày hôm nay hoặc để mai. Tôi bảo ông ta rằng tôi đã dự tính kết thúc cuộc gặp theo xu hướng tiêu cực cũng vì lý do tương tự. Ông ta bĩu môi và gật đầu tán thành như thể muốn nói: “Không tệ!” Thậm chí tôi chẳng buồn nhìn Danny. Tôi biết anh ta cũng rất ấn tượng.
Jean Jacques đưa chúng tôi vào một phòng họp trông chẳng khác gì một câu lạc bộ hút thuốc dành cho các quý ông. Có sáu gã Thụy Sĩ nói tiếng Pháp đang ngồi quanh một chiếc bàn họp dài bằng kính, tất cả mặc quần áo truyền thống. Mỗi người đều cầm một điếu thuốc đang cháy hoặc có một điếu đặt trên chiếc gạt tàn ở trước mặt. Từ trên xuống dưới, căn phòng ngập trong lớp khói đặc quánh.
Kaminsky cũng ngồi trong số đó. Hắn đội một món tóc giả trên sọ, trông chẳng khác gì một con vật chết. Trên bộ mặt núng na núng nính của hắn là nụ cười nham nhở khiến tôi chỉ muốn giáng cho hắn một cái tát. Trong một khoảnh khắc, tôi đã tính yêu cầu hắn biến khỏi phòng, nhưng tôi quyết định không làm thế. Tốt hơn cứ để hắn chứng kiến cuộc gặp mặt và nghe bằng chính đôi tai của hắn rằng tôi quyết định không làm ăn ở Thụy Sĩ.
Sau vài phút trao đổi ngắn, tôi nói: “Tôi rất tò mò muốn biết về các đạo luật bảo mật ngân hàng của quý vị. Tôi nghe các luật sư ở Mỹ nói rằng có rất nhiều điều mâu thuẫn. Trong trường hợp nào thì quý vị sẽ bắt tay với Chính phủ Hoa Kỳ?”
Kaminsky đáp: “Đó chính là chỗ hay nhất để làm ăn tại…”
Tôi cắt lời hắn. “Gary, nếu tôi quan tâm đến ý kiến của anh trong vụ này thì, mẹ kiếp, tôi đã….” Tôi dừng lại kịp vì nhận ra rằng những gã người máy Thụy Sĩ kia có lẽ không đánh giá cao ngôn ngữ tục tĩu thường có của tôi. Sau đó tôi lầm bầm: “Xin lỗi tất cả các vị - tôi sẽ hỏi ý kiến anh về việc đó khi chúng ta trở lại New York, Gary nhé.”
Đám người kia cười và gật gù. Thông điệp bất thành lời là: “Phải, cái thằng cha Kaminsky này đúng là đồ con lừa.” Nhưng lúc này tâm trí của tôi đã đi rất xa. Rõ ràng, Kaminsky sẽ kiếm được một khoản tiền cò mồi nào đó nếu tôi quyết định làm ăn với ngân hàng này. Nếu không thì tại sao gã lại sốt sắng xoa dịu những lo lắng của tôi đến thế chứ? Ban đầu, tôi nghĩ rằng Kaminsky chỉ là một thằng đần thích thể hiện rằng mình hiểu biết về một chủ đề khó hiểu nào đó. Phố Wall nhung nhúc hạng người này. Bọn họ được gọi là dân chơi tài tử. Nhưng giờ thì tôi tin chắc rằng động cơ của Kaminsky là tài chính. Nếu tôi quyết định mở tài khoản tại ngân hàng này thì hắn sẽ bị người ta chú ý vì nhận được khoản tiền cò mồi. Đó là một vấn đề.
Cứ như thể đọc được ý nghĩ của tôi, Jean Jacques lên tiếng: “Ông Kaminsky đây luôn nhanh nhảu đưa ra ý kiến của ông ấy về những vấn đề như thế này. Tôi thấy cũng có phần lạ vì ông ấy chẳng được hay mất gì do quyết định của các ngài cả. Ông ấy đã được trả một khoản nho nhỏ vì đã giới thiệu các ngài tới đây. Cho dù ngài có chọn làm ăn với Union Banc hay không thì cũng không ảnh hưởng gì đến ví tiền của ông Kaminsky cả.”
Tôi gật đầu vẻ hiểu ý. Tôi thấy thật thú vị là Saurel không hề nói theo kiểu giả định. Ông ta rất am hiểu ngôn ngữ, thành ngữ và những thứ khác liên quan đến tiếng Anh.
Saurel tiếp tục: “Nhưng để trả lời cho câu hỏi của ngài thì con đường duy nhất để Chính phủ Thụy Sĩ hợp tác với Chính phủ Hoa Kỳ là khi tội danh bị quy kết cũng cấu thành tội ở Thụy Sĩ. Chẳng hạn, ở Thụy Sĩ, không có luật về trốn thuế. Vì thế, nếu chúng tôi nhận được đề nghị từ Chính phủ Hoa Kỳ liên quan đến vấn đề như vậy thì chúng tôi sẽ không hợp tác với họ.”
“Ngài Saurel nói rất đúng”, tay phó chủ tịch ngân hàng, một gã nhỏ thó, gầy nhẳng, đeo kính, nói tiếng Pháp, có tên là Pierre hay gì gì đó lên tiếng. “Chúng tôi không ưa chính phủ các ngài lắm. Xin ngài đừng giận. Nhưng thực tế chúng tôi sẽ chỉ hợp tác nếu tội danh bị quy kết là một tội hình sự, hoặc như lời ngài nói, một trọng tội.”
Tiếp đó, một gã Pierre thứ hai xen vào, mặc dù gã này trẻ hơn và có cái đầu nhẵn thín như bóng bi-a. Gã nói: “Ngài sẽ thấy rằng luật hình sự Thụy Sĩ tự do hơn luật ở nước các ngài. Nhiều trọng tội của các ngài không bị xem là trọng tội ở Thụy Sĩ.”
Lạy Chúa Toàn năng! Từ trọng tội đủ khiến sống lưng tôi ớn lạnh. Thực tế, rõ ràng là có những vấn đề rất lớn trong quan niệm đầy định kiến của tôi về việc sử dụng Thụy Sĩ như một lỗ chuột cống… trừ phi, dĩ nhiên rồi… chà… lỗ chuột cống được xem là hợp pháp ở Thụy Sĩ? Tôi điểm nhanh mọi khả năng trong đầu. Không, tôi rất nghi ngờ điều đó, nhưng tôi sẽ phải hỏi thêm về chuyện này khi gặp riêng Saurel. Tôi mỉm cười nói: “Ôi dào, tôi thật sự không bận tâm lắm về chuyện đó, bởi vì tôi hoàn toàn không có ý định vi phạm bất kỳ luật nào của Mỹ.” Đó là một lời nói dối trơ tráo. Nhưng tôi rất thích cái sắc thái của lời nói dối ấy. Ai hơi đâu bận tâm xem đó có phải là một câu nói tào lao không chứ? Vì một lý do không giải thích được nào đó, nó vẫn làm tôi cảm thấy dễ chịu hơn khi phải có mặt ở Thụy Sĩ. Tôi tiếp tục: “Và khi tôi nói thế, tôi còn nói thay cho cả Danny. Các ngài biết đấy, lý do duy nhất chúng tôi muốn có tiền ở Thụy Sĩ là trong tuyến công việc của tôi có rất nhiều khả năng bị kiện cáo - một cách vô lý, tôi có thể nói thêm như vậy. Nhưng dẫu sao, điều tôi muốn biết - hoặc nói thẳng ra điều quan trọng nhất với tôi - là trong bất kỳ trường hợp nào thì các ngài cũng không chuyển tiền của tôi cho một công dân Mỹ hoặc bất kỳ ai trên hành tinh này, những kẻ có ý định đạt được một phán quyết dân sự chống lại tôi.”
Saurel mỉm cười. “Chúng tôi không những chẳng bao giờ làm như vậy”, ông ta đăm chiêu, “mà chúng tôi thậm chí còn không thừa nhận bất kỳ điều gì mang tính - như ngài nói - dân sự. Thậm chí nếu chúng tôi nhận được trát từ Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái của các ngài - vốn là một cơ quan điều tiết dân sự - thì chúng tôi cũng sẽ không hợp tác với họ trong bất kỳ trường hợp nào.” Sau đó, như nghĩ ra điều gì, ông ta nói thêm: “Và cũng sẽ như vậy thậm chí nếu tội danh bị quy kết đúng là một trọng tội theo luật Thụy Sĩ.” Ông ta gật đầu để nhấn mạnh thêm ý của mình. “Thậm chí khi đó chúng tôi cũng sẽ không hợp tác!” Ông ta mỉm nụ cười của một kẻ chủ mưu.
Tôi gật đầu tán thưởng và nhìn quanh phòng. Tất cả mọi người dường như đều rất hài lòng với những gì đang tiến triển, tất cả trừ tôi. Làm sao tôi có tâm trạng khác đi được. Câu cuối cùng của Saurel đập mạnh vào tâm trí tôi, khiến đầu óc tôi phải căng ra. Thực tế đơn giản là nếu Chính phủ Thụy Sĩ từ chối hợp tác với ban điều tra của Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái thì Ủy ban sẽ không còn lựa chọn nào khác là tống đạt đề nghị của mình cho văn phòng công tố liên bang để tiến hành điều tra hình sự.
Tôi bắt đầu hình dung ra tất cả những kịch bản có thể. Có đến 90% các trường hợp của Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái được giải quyết ở cấp độ dân sự. Chỉ khi Ủy ban cảm thấy có gì đó đi quá xa thì họ mới chuyển một vụ việc cho FBI để điều tra hình sự. Nhưng nếu Ủy ban không thể tiến hành điều tra - nếu họ bị những người Thụy Sĩ cản trở - thì làm thế nào họ quyết định được cái gì đi quá xa và cái gì không? Trên thực tế, rất nhiều việc tôi đang tiến hành không hẳn là quá ghê gớm, phải không nào?
Tôi hít một hơi thật sâu và nói: “Chà, tôi thấy mọi việc nghe khá ổn, nhưng tôi vẫn băn khoăn không biết làm cách nào Chính phủ Hoa Kỳ biết được chỗ để tìm kiếm - nghĩa là làm cách nào họ biết được ngân hàng Thụy Sĩ nào để gửi trát đến? Không có tài khoản nào có tên cả; chúng được đánh số. Vì thế trừ phi có ai đó chỉ điểm” - tôi phải cố kìm không nhìn Kaminsky - “chỗ các ngài cất giữ tiền, hoặc trừ phi các ngài bất cẩn đến mức để lại dấu vết trên giấy tờ sổ sách, nếu không họ làm sao biết được phải bắt đầu từ đâu? Họ đoán số tài khoản của các ngài chắc? Phải có đến hàng nghìn ngân hàng ở Thụy Sĩ, và mỗi ngân hàng lại có đến hàng trăm nghìn tài khoản. Như thế là có hàng triệu tài khoản, tất cả đều có số tài khoản khác nhau. Thế thì khác gì mò kim đáy bể. Không thể thực hiện được.”
Tôi nhìn thẳng vào mắt Saurel.
Sau một lúc im lặng, Saurel trả lời: “Đó là một câu hỏi rất hay nữa. Nhưng để trả lời, tôi xin ngài cho phép tôi giảng cho ngài một bài học nho nhỏ về lịch sử ngân hàng Thụy Sĩ.”
Việc này hay đấy. Tầm quan trọng của việc hiểu rõ những hàm ẩn của quá khứ chính là những gì Al Abrams đã nhồi nhét vào đầu tôi trong những buổi gặp mặt ăn sáng trước kia. Tôi gật đầu và nói: “Xin mời. Tôi rất hứng thú với lịch sử, đặc biệt là khi nó liên quan đến một tình huống như thế này, khi tôi đang có ý định làm ăn tại một lãnh thổ không mấy quen thuộc.”
Saurel mỉm cười và nói: “Khái niệm các tài khoản được đánh số có phần không đúng lắm. Thực tế là tất cả các ngân hàng Thụy Sĩ đều cấp cho khách hàng của mình lựa chọn này - như một phương tiện để duy trì tính bảo mật của họ - mỗi tài khoản đều gắn với một tên gọi, được lưu trong hồ sơ tại ngân hàng.”
Nghe thế, tim tôi chùng hẳn xuống. Saurel tiếp tục: “Nhiều năm trước, trước Thế chiến II, mọi việc không như vậy. Ngài biết đấy, thời kỳ đó, trong giới chủ ngân hàng Thụy Sĩ có một tập quán là mở tài khoản mà không cần gán tên cho nó. Tất cả mọi thứ dựa trên quan hệ cá nhân và chữ tín. Nhiều tài khoản trong số này được duy trì bằng tên các doanh nghiệp. Nhưng khác với các doanh nghiệp ở Hoa Kỳ, đây là những doanh nghiệp đứng tên, cũng không hề có tên gán cho họ. Nói cách khác, bất kỳ ai là người nắm giữ thực sự chứng chỉ cổ phần của doanh nghiệp mới là chủ sở hữu.
Nhưng sau đó Adolf Hitler xuất hiện cùng với quân đội Quốc xã. Đây là một chương rất buồn thảm trong lịch sử của chúng tôi và là một chương mà chúng tôi rất không lấy gì làm tự hào. Chúng tôi đã cố gắng cao nhất nhằm giúp càng nhiều khách hàng Do Thái của mình càng tốt, nhưng rốt cuộc, tôi vẫn phải nói rằng chúng tôi đã không giúp được nhiều. Như ngài biết đấy, ngài Belfort, tôi là một người Pháp, nhưng tôi nghĩ rằng tôi đại diện cho tất cả những người có mặt trong căn phòng này khi nói rằng chúng tôi rất mong ước rằng giá như có thể làm được nhiều hơn.” Nói xong, ông ta dừng lại và gật đầu vẻ rất trịnh trọng.
Tất cả mọi người trong phòng, bao gồm cả cái thằng hề Kaminsky, một gã Do Thái về lý, đều gật đầu tán thành. Tôi cho rằng tất cả mọi người đều biết rõ tôi và Danny là dân Do Thái, và tôi không thể không băn khoăn liệu Saurel nói những điều trên có phải vì lợi ích của chúng tôi không. Ông ta có thật sự nghĩ sao nói vậy không? Dù thế nào thì trước khi ông ta tiếp tục lên tiếng, tôi đã đi trước cả chục bước và biết chính xác ông ta sẽ tiến đến đâu. Thực tế đơn giản là trước khi Hitler có thể tràn khắp châu Âu và vây bắt 6 triệu người Do Thái rồi tiêu diệt họ trong những phòng hơi ngạt thì nhiều người đã tìm được cách chuyển tiền của mình vào Thụy Sĩ. Họ đã nhìn thấy những dòng chữ viết trên tường ngay từ đầu thập niên 1930, khi lần đầu tiên bọn Quốc xã lên nắm quyền. Nhưng việc rút tiền của họ ra có khi còn dễ dàng hơn việc rút chính họ ra. Gần như tất cả các quốc gia ở châu Âu, trừ Đan Mạch, đều từ chối dành cho hàng triệu người Do Thái tuyệt vọng một chỗ nương náu an toàn trong biên giới của mình. Hầu hết các quốc gia này đều có những thỏa thuận ngầm với Hitler, đồng ý giao nộp cộng đồng dân Do Thái của họ nếu Hitler không tấn công. Những thỏa thuận này đều nhanh chóng bị Hitler bội ước, một khi hắn đã dồn được tất cả dân Do Thái vào các trại tập trung. Và khi lần lượt từng quốc gia rơi vào tay Đức Quốc xã, người Do Thái phải bỏ nhà bỏ cửa đi trốn. Thật nực cười là Thụy Sĩ rất nhanh nhảu tiếp nhận tiền của người Do Thái nhưng lại do dự không đón nhận những sinh linh Do Thái.
Cuối cùng, sau khi Đức Quốc xã bị đánh bại, nhiều đứa trẻ sống sót đã tới Thụy Sĩ để tìm lại những tài khoản ngân hàng bí mật của gia đình mình. Nhưng họ không có cách nào chứng minh được rằng họ có quyền với những tài khoản ấy. Thực chất, các tài khoản không hề có tên, chỉ có số hiệu. Trừ khi những đứa trẻ còn sống sót biết chính xác cha mẹ mình đã cất giữ tiền ở ngân hàng nào và họ đã giao dịch với chủ ngân hàng nào, nếu không thì không có cách gì để đòi được tiền. Cho đến tận hôm nay, hàng tỷ tỷ đô la vẫn không có nguồn gốc rõ ràng.
Nghĩ đến đó, tâm trí tôi chuyển sang một viễn cảnh đen tối hơn. Có bao nhiêu tên khốn kiếp Thụy Sĩ này biết chính xác những đứa trẻ sống sót là ai nhưng vẫn cố tình không tìm chúng? Thậm chí còn tồi tệ hơn nữa - bao nhiêu đứa trẻ Do Thái có cả gia đình bị giết hại đã tìm đến đúng ngân hàng Thụy Sĩ và đã tiếp xúc với đúng chủ ngân hàng Thụy Sĩ, chỉ để bị bọn họ lừa dối? Lạy Chúa! Một thảm kịch mới khốn nạn làm sao! Chỉ những chủ ngân hàng Thụy Sĩ cao thượng nhất mới trung thực bảo đảm rằng những người thừa kế chính đáng nhận được những gì để dành cho họ. Và ở Zurich - nơi đầy rẫy bọn người nói tiếng Đức - quý vị sẽ khó lòng tìm được nhiều người có cảm tình với dân Do Thái. Có lẽ ở Geneva của dân nói tiếng Pháp, tình hình có khá hơn một chút, nhưng chỉ là một chút mà thôi. Bản chất con người vẫn là bản chất con người. Và tất cả số tiền của người Do Thái đã biến mất vĩnh viễn, mất hút trong hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ, làm giàu cho cái đất nước nhỏ bé ngoài sức tưởng tượng này, và có lẽ điều này giải thích tại sao không hề thấy ăn mày trên đường phố.
“… và vì thế quý vị hiểu tại sao”, Saurel nói, “giờ đây người ta lại yêu cầu mọi tài khoản mở tại Thụy Sĩ phải có một chủ hưởng lợi. Không có ngoại lệ nào khác.”
Tôi liếc nhìn Danny. Anh ta gật đầu nhưng không để ai nhận ra. Bức thông điệp không lời là: “Quả là một cơn ác mộng chết tiệt.”
Trên đường trở về khách sạn, Danny và tôi không nói với nhau lấy một lời. Tôi đăm đăm nhìn ra ngoài cửa sổ nhưng chẳng nhìn thấy gì ngoài những oan hồn của vài triệu người Do Thái đã chết, vẫn đang tìm kiếm tiền của họ. Lúc này, bắp chân tôi như bị thiêu đốt.
Chúa ơi! Giá như tôi không bị mắc chứng đau kinh niên khủng khiếp như thế này thì có lẽ tôi đã bỏ được thói quen nghiện ngập của mình. Tôi cảm thấy buốt như kim châm. Đã hơn 24 tiếng mà tôi không hề uống viên thuốc nào, và tâm trí tôi vẫn nhạy bén đến mức tôi cảm thấy mình có thể làm việc bất chấp mọi vấn đề, cho dù vấn đề đó có thể khó khăn đến mức nào chăng nữa. Nhưng làm cách nào tôi xoay xở được với Luật Ngân hàng Thụy Sĩ đây? Luật vẫn là luật, và việc chứng kiến Al Abrams thất thế chỉ càng nhấn mạnh rằng việc rập khuôn thái độ coi thường luật pháp không phải là lý do để vi phạm pháp luật. Thực tế đơn giản là nếu tôi định mở tài khoản tại Union Bancaire, tôi cần phải nộp cho họ một bản sao hộ chiếu của mình để lưu giữ trong hồ sơ của ngân hàng. Và nếu Bộ Tư pháp Hoa Kỳ có trát hình sự liên quan tới tội danh gian lận chứng khoán - mà đương nhiên cũng là một tội danh ở Thụy Sĩ - thì con ngỗng vàng của tôi sẽ bị luộc chín ngay. Thậm chí nếu chính quyền liên bang không biết tài khoản nào là của tôi hoặc tôi đã giao dịch với ngân hàng nào thì điều đó cũng chẳng thể làm chậm bước của họ. Trát hầu tòa của họ sẽ chuyển thẳng cho Bộ Tư pháp Thụy Sĩ, và cơ quan này sẽ gửi một đề nghị chung tới tất cả các ngân hàng Thụy Sĩ trên cả nước, yêu cầu họ giao nộp toàn bộ hồ sơ của mọi tài khoản thuộc về cá nhân có nêu tên trên trát hầu tòa.
Sẽ là như vậy đấy.
Chúa ơi - tốt hơn cả là tôi nên gắn bó với những lỗ chuột cống của mình ở Hoa Kỳ. Ít nhất nếu họ có nhận được trát của tòa thì họ chỉ việc nói dối là xong! Như thế thì tư tưởng không được thoải mái cho lắm nhưng ít ra cũng chẳng hề có dấu vết trên giấy tờ.
Nhưng đợi một chút! Ai bảo tôi phải trình cho ngân hàng hộ chiếu của mình nhỉ? Cái gì cản được tôi nhờ một trong những lỗ chuột cống của mình đến Thụy Sĩ và mở một tài khoản bằng hộ chiếu của họ chứ? Làm gì có cơ hội cho FBI phát hiện ra tên tuổi lỗ chuột cống người Mỹ của tôi chứ? Như thế là lỗ chuột cống trong lỗ chuột cống! Một lớp bảo vệ kép! Nếu Chính phủ Hoa Kỳ có trát tìm các hồ sơ liên quan đến Jordan Belfort thì Bộ Tư pháp Thụy Sĩ sẽ gửi yêu cầu đi nhưng chẳng thu được gì!
Và lúc này tôi suy nghĩ đến chuyện này, tại sao tôi lại muốn sử dụng một trong những lỗ chuột cống hiện tại của mình? Trước kia, tôi lựa chọn lỗ chuột cống không chỉ dựa trên lòng tin đối với họ mà còn căn cứ vào khả năng của họ tạo ra số lượng tiền mặt lớn theo những phương thức không làm cho Cục thuế quốc gia chú ý. Kết hợp hai yếu tố đó quả là rất khó tìm. Lỗ chuột cống đầu tiên của tôi là Elliot Lavigne - người chẳng mấy chốc đã trở thành một cơn ác mộng tại Phố Elm. Không những là lỗ chuột cống đầu tiên mà anh ta còn là người chịu trách nhiệm về việc đã đưa tôi đến với Quaalude. Anh ta là Chủ tịch Perry Ellis, một trong những công ty sản xuất quần áo lớn nhất nước Mỹ. Nhưng vị trí cao quý này của anh ta vẫn có phần chưa đúng lắm. Nói thật, anh ta còn điên khùng gấp mười Danny. Phải, bên cạnh anh ta, Danny chỉ là chú nhóc học việc.
Ngoài việc là một con bạc máu mê và một gã nghiện ma túy vào loại thượng thừa, Elliot còn là tay nghiện tình dục và là tên đại bịp trong quan hệ vợ chồng. Elliot biển thủ hàng triệu đô la mỗi năm từ Perry Ellis - qua những vụ làm ăn bí mật với các nhà máy hải ngoại của mình, chuyên chặt chém của Perry Ellis mỗi sản phẩm từ 1 đến 2 đô la và sau đó lại quả số tiền đó cho anh ta. Con số này đã lên đến hàng triệu. Khi tôi giúp Elliot kiếm tiền bằng hình thức cổ phiếu mới phát hành, anh ta thanh toán cho tôi bằng số tiền mặt mà anh ta nhận được từ các nhà máy hải ngoại của mình. Quả là một kiểu có đi có lại tuyệt vời; không hề có dấu vết trên giấy tờ ở bất kỳ chỗ nào. Nhưng Elliot đang bắt đầu khiến tôi thấy chán. Thói quen cờ bạc và nghiện ngập của anh ta đang chi phối anh ta hoàn toàn. Anh ta đang quá hạn thanh toán cho tôi. Đến giờ, anh ta nợ tôi gần 2 triệu đô la tiền lãi trong vai trò lỗ chuột cống của tôi. Nhưng nếu tôi đoạn tuyệt với anh ta hoàn toàn thì chắc chắn tôi sẽ mất số tiền đó.
Cho nên tôi vẫn đang trong quá trình từ từ gạt anh ta ra, vẫn tiếp tục giúp anh ta kiếm tiền bằng hình thức cổ phiếu mới trong khi anh ta thanh toán dần món nợ.
Nhưng bất kể những việc đó, Elliot vẫn thực hiện rất tốt mục đích của mình. Anh ta đã lại quả cho tôi hơn 5 triệu đô la tiền mặt, số tiền này hiện đã được cất giấu an toàn trong két ở Hoa Kỳ. Chỉ có điều làm thế nào đưa tất cả số tiền đó sang Thụy Sĩ thì tôi vẫn chưa dám chắc lắm - mặc dù tôi đã có một vài ý tưởng. Tôi sẽ thảo luận vấn đề đó với Saurel khi chúng tôi gặp nhau sau vài giờ nữa. Dù sao đi nữa, tôi vẫn luôn cho rằng việc thay thế Elliot bằng một lỗ chuột cống khác có khả năng kiếm ra nhiều tiền mặt mà không để lại dấu vết trên giấy tờ sẽ là cả một vấn đề. Nhưng lúc này, khi có Thụy Sĩ là lớp đệm sơ cấp cho mình thì vấn đề đẻ ra tiền “sạch” sẽ không còn đáng lo nữa. Tôi chỉ cần giữ tiền ở tài khoản Thụy Sĩ của mình và để nó sinh lãi. Vấn đề duy nhất tôi không thể giải quyết tại cuộc họp hôm nay là tôi dự định thế nào với việc sử dụng toàn bộ số tiền mà tôi sẽ cất giữ trong tài khoản Thụy Sĩ? Tôi định tiêu số tiền ấy như thế nào? Làm cách nào tôi có thể rót số tiền đã “rửa sạch” trở lại Hoa Kỳ để đầu tư? Vẫn còn rất nhiều câu hỏi cần phải trả lời.
Nhưng điều quan trọng nhất là bằng cách sử dụng Thụy Sĩ, giờ đây tôi có thể chọn các lỗ chuột cống của mình dựa trên lòng tin với họ mà thôi. Điều này mở ra cả một vũ trụ mênh mông toàn những lỗ chuột cống đầy triển vọng, và tâm trí tôi nhanh chóng nghĩ tới gia đình bên vợ. Không có người nào là công dân Mỹ cả; tất cả đều sống ở Anh quốc - ngoài tầm mắt cú vọ của FBI. Trên thực tế, vẫn có một ngoại lệ ít người biết trong các đạo luật chứng khoán liên bang, cho phép những người không phải công dân Mỹ được đầu tư vào các công ty với những điều khoản ưu ái hơn hẳn so với công dân Mỹ. Ngoại lệ này được gọi là Quy định S1, nó cho phép người nước ngoài được mua cổ phần tư nhân trong các công ty công, trong khi tránh được thời hạn nắm giữ kéo dài hai năm như yêu cầu của Quy tắc 144.
1 Quy định S là những quy tắc quản lý việc chào và bán chứng khoán thực hiện bên ngoài nước Mỹ mà không có đăng ký như quy định tại Luật Chứng khoán 1933.
Thay vào đó, theo Quy định S, một người nước ngoài chỉ phải nắm giữ cổ phần của mình trong 40 ngày mà thôi. Đó là một đạo luật kỳ quặc dành cho người nước ngoài một lợi thế rất lớn so với các nhà đầu tư Hoa Kỳ. Kết quả là, quy định này tạo ra một làn sóng lợi dụng tràn lan, khi mà các nhà đầu tư Hoa Kỳ có chút hiểu biết ngấm ngầm bắt tay với người nước ngoài và lợi dụng Quy định S để thực hiện các hoạt động đầu tư cá nhân trong các công ty công, mà không phải đợi mất trọn hai năm mới được bán cổ phần của mình (theo Quy tắc 144). Tôi cũng đã được tiếp xúc nhiều lần với những người nước ngoài có nguyện vọng xin làm ứng viên cho tôi, với một khoản lệ phí khiêm tốn - cho phép tôi sử dụng quyền công dân ngoại quốc của họ để làm ăn theo Quy định S. Nhưng tôi luôn từ chối. Lời cảnh báo của Al Abrams luôn đau đáu trong tâm trí tôi. Vả lại, làm gì có chuyện tôi lại tin tưởng một gã ngoại quốc nào đó với thứ gì đó vốn đã phi pháp rành rành? Xét cho cùng, sử dụng một chủ thể ngoại quốc để mua cổ phiếu theo Quy định S là một tội danh hình sự rất nặng, tội danh chắc chắn sẽ khiến FBI chú ý. Vì thế tôi luôn né tránh hình thức này.
Nhưng lúc này, với một lỗ chuột cống hai lớp… với những người bà con bên vợ của tôi làm lớp bảo vệ thứ cấp… chà chà, tất cả mọi việc dường như chẳng còn gì là mạo hiểm nữa!
Đến đó thì tâm trí tôi nhắm ngay vào bà dì Patricia của vợ tôi - ồ không, phải là dì Patricia của tôi chứ. Phải, dì cũng đã là dì của tôi rồi! Lần đầu tiên dì Patricia và tôi gặp nhau, cả hai chúng tôi đều nhận thấy chúng tôi đúng là bà con. Chuyện đó buồn cười làm sao - nếu nhớ lại những gì dì đã nhìn thấy khi lần đầu tiên để mắt đến tôi. Chuyện cách đây hai năm, tại khách sạn Dorchester ở London. Dì đụng tôi đúng lúc tôi đang trong tình trạng dùng Quaalude quá liều. Đúng ra, lúc đó tôi đang sắp chết đuối trong một cái bồn vệ sinh thì dì bước vào phòng. Nhưng thay vì mắng nhiếc tôi, dì lại trò chuyện với tôi và thức trắng đêm cùng tôi, giữ cho cái đầu tôi không gục xuống cái bồn vệ sinh ấy trong khi cơ thể tôi phun ra cái thứ chất độc mà tôi đã tọng vào người. Rồi dì luồn những ngón tay của mình qua tóc tôi, giống như mẹ tôi vẫn làm khi tôi còn bé, trong khi tôi cứ giật lên từng đợt do cái thứ cocaine mà tôi đã hít. Tôi đã không thể giữ lại viên Xanax nào để làm dịu cơn co giật do cocaine. Do đó, tôi đã cào cấu mình. Ngày hôm sau, chúng tôi cùng ăn trưa với nhau, và không hề làm tôi cảm thấy có tội với những gì dì đã chứng kiến, dì thuyết phục tôi hãy thôi dùng ma túy. Thực tế, tôi đã giữ được mình suốt hai tuần liền. Tôi đi nghỉ ở xứ Anh cùng với Nadine, cả hai chúng tôi chưa bao giờ cảm thấy thoải mái hơn thế. Tôi hạnh phúc đến mức thậm chí còn nghĩ đến việc chuyển hẳn sang Anh, để có dì Patricia trong cuộc đời mình. Nhưng trong sâu thẳm lòng mình tôi biết đó chỉ là điều viển vông. Cuộc đời tôi là ở Mỹ; Stratton cũng ở Mỹ; sức mạnh của tôi ở Mỹ; và như thế có nghĩa là tôi phải có mặt ở Mỹ. Cuối cùng, khi tôi trở lại Mỹ, chịu ảnh hưởng của Danny Porush, Elliot Lavigne và đám tùy tùng của mình, thói quen nghiện ngập của tôi quay trở lại. Và với chứng đau lưng như đổ thêm dầu vào lửa, thói quen ấy còn trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết.
Dì Patricia đã 65 tuổi, lại ly dị chồng. Dì là một giáo viên nghỉ hưu và là người chủ trương vô chính phủ. Dì khá hoàn hảo. Dì coi khinh tất cả mọi thứ thuộc về chính phủ và là người có thể tin tưởng mà không cần phải nghi ngờ gì. Nếu tôi đề nghị dì làm việc này cho tôi, dì sẽ nở nụ cười ấm áp nhất và lên máy bay ngay ngày hôm sau. Thêm vào đó, dì Patricia không có tiền. Mỗi lần tôi gặp dì, tôi lại biếu dì đủ để dì chi tiêu suốt cả năm trời. Và lần nào dì cũng từ chối. Dì quá kiêu hãnh. Nhưng giờ đây tôi có thể giải thích với dì rằng vì dì đang làm việc cho tôi nên dì xứng đáng được thưởng công. Tôi sẽ để dì tiêu pha bất kỳ thứ gì dì muốn. Nói thật, tôi sẽ biến cuộc đời dì từ giẻ rách chổi cùn thành sung túc. Một ý nghĩ tuyệt vời làm sao! Và hơn nữa, dì cũng khó mà tiêu pha được gì! Dì là một phụ nữ lớn lên từ đống đổ nát của Thế chiến II và hiện đang sống bằng đồng lương hưu còm cõi. Dì không biết cách đốt tiền - ngay cả khi dì muốn làm như vậy! Hầu hết những gì dì muốn tiêu sẽ được sử dụng để làm sa đọa hai đứa cháu ngoại của dì. Và chuyện đó cũng tốt thôi! Nói thật, chỉ ý nghĩ đó cũng khiến lòng tôi ấm lên.
Nếu Chính phủ Hoa Kỳ đến gõ cửa nhà dì Patricia, dì sẽ yêu cầu bọn họ cút xéo! Nghĩ đến đó, tôi phá lên cười.
“Có gì mà anh vui thế?”, Danny làu bàu. “Cả cuộc họp đúng là phí thời gian! Và tôi thậm chí còn không có viên Quaalude nào để cho bớt chán đây này. Cho nên kể cho tôi xem đầu óc của anh đang nghĩ đến chuyện gì vậy?”
Tôi mỉm cười. “Tôi sẽ gặp Saurel sau mấy tiếng nữa. Tôi có vài câu hỏi nữa cho ông ta, nhưng tôi tin chắc rằng tôi đã biết câu trả lời. Dù sao đi nữa, những gì tôi muốn anh làm là gọi cho Janet ngay khi chúng ta trở về khách sạn và bảo cô ấy bố trí một chiếc Learjet chờ chúng ta tại sân bay vào buổi sáng. Và nhớ bảo cô ấy đặt phòng Tổng thống ở khách sạn Dorchester. Chúng ta sẽ đi London, bạn ạ. Chúng ta sẽ đi London.”