• ShareSach.comTham gia cộng đồng chia sẻ sách miễn phí để trải nghiệm thế giới sách đa dạng và phong phú. Tải và đọc sách mọi lúc, mọi nơi!

Danh mục
  1. Trang chủ
  2. Sói già phố Wall - Tập 1
  3. Trang 25

  • Previous
  • 1
  • More pages
  • 24
  • 25
  • 26
  • More pages
  • 34
  • Next

Chương 17Sư phụ giả mạo

Chính xác là 36 tiếng sau, chiếc Learjet mà chúng tôi thuê gầm lên như một chiến đấu cơ khi nhấc mình khỏi Heathrow và lao vào bầu trời sáng thứ Sáu.

Dì Patricia ngồi bên trái tôi - vẻ mặt dì cứng đờ vì sợ. Dì bám ghì lấy tay ghế chặt đến mức các khớp ngón tay của dì trắng bệch. Tôi nhìn dì đến 30 giây, dì chỉ chớp mắt đúng một lần. Tôi cảm thấy có lỗi vì đã làm dì lo lắng thấy rõ, nhưng tôi còn biết làm gì cơ chứ? Sự thật đơn giản rằng phải chui vào trong một viên đạn rỗng dài 4,5 mét và bị bắn xuyên qua không trung với tốc độ gần 800 kilômét mỗi giờ đương nhiên không phải là ý tưởng hay ho với đa số mọi người.

Danny ngồi đối diện tôi, lưng quay về phía buồng lái. Anh ta đang thực hiện hành trình tới Thụy Sĩ bằng cách bay ngược, một việc mà tôi luôn thấy làm đảo lộn mọi thứ. Nhưng, cũng như hầu hết mọi việc trong cuộc đời, điều đó không mảy may khiến cho Danny phải băn khoăn. Trên thực tế, mặc kệ tiếng ồn và những cú rung lắc, anh ta đã lăn ra ngủ, vẫn trong tư thế quen thuộc của mình, với cái mồm há hốc, đầu ngửa ra sau và khoe ra hàm răng sáng loáng.

Tôi không phủ nhận rằng khả năng phi thường này của anh ta - có thể ngủ ngay tức khắc - khiến cho tôi tức điên lên được. Làm thế nào quý vị ngăn không cho ý nghĩ của mình gầm rú trong đầu? Điều đó dường như thật phi lý! Chà - dù thế nào đi chăng nữa, đó là món quà của anh ta nhưng lại là lời nguyền đối với tôi.

Với tâm trạng thất vọng, tôi nghiêng đầu về phía ô cửa sổ nhỏ xíu hình ô van và nện khẽ lên đó. Sau đó, tôi gí mũi mình vào cửa sổ và ngắm nhìn thành London đang nhỏ dần nhỏ dần bên dưới. Vào giờ này buổi sớm - 7 giờ - một lớp sương mù đặc như cháo vẫn bao trùm lên thành phố tựa hồ một tấm chăn ẩm ướt, và tất cả những gì tôi nhìn thấy được là ngọn tháp Big Ben vươn lên khỏi lớp sương giống như một cái dương vật khổng lồ cương cứng trong cơn thèm khát đàn bà vào buổi sớm. Sau 36 tiếng vừa qua, ý nghĩ về dương vật cương cứng và đàn bà cũng đủ để thần kinh mệt rã rời của tôi bổ nhào.

Đột nhiên, tôi thấy nhớ vợ mình. Nadine! Nữ công tước đáng yêu! Giờ này nàng đang ở đâu khi mà tôi cần đến nàng nhất? Thật tuyệt làm sao nếu được gối đầu lên bộ ngực mềm ấm của nàng và hấp thụ lấy một chút sinh lực từ nó! Nhưng, không, tôi không thể làm việc đó. Lúc này đây, nàng đang ở cách xa cả một đại dương - có lẽ đang có những linh cảm u ám về những tội lỗi gần đây của tôi và đang nghĩ cách báo thù.

Tôi cứ nhìn đăm đăm ra ngoài cửa sổ, cố gắng sắp xếp lại những sự kiện diễn ra trong 36 giờ qua. Tôi thật lòng yêu vợ mình. Vì thế, cớ làm sao tôi lại làm tất cả những điều khủng khiếp ấy? Phải chăng chính ma túy đã khiến tôi làm vậy? Hay chính những việc làm ấy khiến tôi sử dụng ma túy để cảm thấy bớt tội lỗi hơn? Đó là một câu hỏi tồn tại mãi mãi, một dạng “gà có trước hay trứng có trước” - đủ khiến một người đàn ông phát điên.

Vừa hay phi công thực hiện một cú rẽ trái gấp gáp và những tia nắng sớm rực rỡ hắt lên đầu mút cánh bên phải, chiếu thẳng vào khoang máy bay, gần như khiến tôi bắn tung ra khỏi ghế. Tôi quay đi tránh tia nắng chói chang và nhìn dì Patricia. A ha, dì Patricia tội nghiệp! Dì vẫn ngồi cứng đờ như một pho tượng, vẫn ghì chặt tay ghế, vẫn trong trạng thái căng thẳng do đi trên chiếc Lear này. Tôi cảm thấy mình nợ dì vài câu an ủi, vì thế, bằng giọng nói đủ to để át tiếng động cơ đang gầm rú, tôi gào lên: “Dì thấy thế nào, dì Patricia? Hơi khác so với máy bay thương mại. Dì có thể cảm nhận được cả những lúc đổi hướng, phải không ạ?”

Tôi quay sang Danny và ngắm nhìn anh ta một lát - vẫn ngủ say? Thật không thể tin nổi! Cái thằng trời đánh thánh vật kia!

Tôi xem lại lịch trình ngày hôm nay và những mục tiêu cần hoàn thành. Chừng nào dì Patricia còn tham gia thì mọi việc sẽ rất dễ dàng. Vấn đề chỉ là đưa dì vào và ra khỏi ngân hàng càng nhanh càng tốt. Dì sẽ mỉm cười trước những máy quay mạch kín, ký một vài tờ giấy, trao cho họ một bản sao hộ chiếu của dì, chỉ có vậy thôi. Tôi sẽ đưa dì trở lại London lúc 4 giờ chiều nay. Trong vòng một tuần nữa, dì sẽ nhận được thẻ tín dụng của mình và bắt đầu được hưởng lợi nhờ làm người chỉ định của tôi. Thật quá tốt cho dì!

Một khi dì Patricia đã được chu toàn, tôi sẽ có một cuộc gặp nhanh với Saurel, kết thúc một vài việc còn chưa giải quyết và vạch ra một thời gian biểu sơ bộ cho việc bí mật chuyển tiền mặt. Tôi sẽ bắt đầu với 5 triệu, hoặc có lẽ thêm 1 triệu nữa, rồi sau đó phát triển dần. Tôi có một vài nhân vật hậu thuẫn ở Mỹ chuyên làm việc này, nhưng tôi sẽ tập trung vào việc đó khi tôi đã trở về nhà.

Nếu có chút may mắn, tôi có thể hoàn tất mọi công việc trong ngày hôm nay và đáp một chuyến bay sớm rời Thụy Sĩ, có lẽ là chuyến đầu tiên, vào sáng mai. Thật là một ý nghĩ sung sướng! Tôi yêu vợ mình! Và rồi tôi sẽ được gặp Chandler để ôm nó trên tay. Chà, biết nói gì về chuyện đó nhỉ? Chandler thật hoàn hảo! Mặc dù thực tế tất cả những gì con bé làm chỉ là ngủ khì khì và tu sữa bột trẻ em, nhưng tôi có thể nói rằng rồi có ngày nó sẽ là một thiên tài! Và nó thật yêu kiều!

Nó càng ngày càng giống Nadine. Điều đó thật tuyệt vời, đúng như những gì tôi mong đợi.

Nhưng, tôi cần để cho tư duy của mình tỉnh táo trong ngày hôm nay, đặc biệt là trong cuộc gặp của tôi với Roland Franks. Tôi đã suy nghĩ rất nhiều về những gì Saurel nói, và tôi không hề nghi ngờ rằng một người như Roland Franks rất có thể đúng là một vận may bất ngờ. Thật khó hình dung được tôi có thể đạt được những gì nếu tôi có trong tay một chuyên gia chế tạo các loại giấy tờ để củng cố cho lý do phủ nhận hợp lý. Lợi ích rõ rệt nhất sẽ là sử dụng các tài khoản của tôi ở nước ngoài để tiến hành làm ăn theo Quy định S - cho phép tôi phá bỏ thời hạn nắm giữ cổ phần dài hai năm theo Quy tắc 144. Nếu Roland có thể tạo ra các công ty vỏ bọc như là những chủ thể hợp pháp ở nước ngoài thì việc đó sẽ cho phép tôi sử dụng Quy định S để rót tiền vào một vài công ty của chính mình, trong đó quan trọng nhất là Dollar Time. Công ty này cần 2 triệu đô la tiền mặt; nếu Roland có khả năng tạo ra những giấy tờ cần thiết thì khi đó tôi có thể sử dụng số tiền chuyển lậu của mình để đổ vào Dollar Time. Đó sẽ là một trong những chủ đề chính của buổi thảo luận.

Thật kỳ cục làm sao: Dù tôi cực kỳ khinh ghét Kaminsky nhưng chính hắn lại là người đưa tôi đến với Jean Jacques Saurel. Đó là một ví dụ kinh điển về trường hợp thằng bất tài giới thiệu được người tài.

Với ý nghĩ đó, tôi nhắm mắt và giả vờ ngủ. Chỉ một lát nữa thôi, tôi sẽ trở lại Thụy Sĩ.

Văn phòng của Roland Franks chiếm tầng trệt của một tòa nhà xây gạch đỏ rất hẹp cao ba tầng trên một con phố rải sỏi khá tĩnh lặng. Phía bên kia phố, một loạt cửa hàng tự doanh quy mô nhỏ được mở ra để kinh doanh, mặc dù trời đã xế chiều nhưng có vẻ những cửa hàng ấy vẫn rất vắng khách.

Tôi quyết định gặp Roland Franks một mình, dường như đây là một việc làm khôn ngoan - bởi lẽ những chủ đề sắp được thảo luận có thể tống tôi vào tù vài nghìn năm.

Nhưng tôi không muốn để cái lý do u ám đó ám ảnh cuộc gặp gỡ của tôi với Sư phụ giả mạo trong tương lai của mình. Phải - Sư phụ giả mạo. Vì một lý do không thể giải thích được nào đó, dường như tôi không thể nào gạt bỏ mấy chữ đó ra khỏi đầu mình. Sư phụ giả mạo! Sư phụ giả mạo! Các khả năng là… vô hạn! Có biết bao nhiêu chiến lược gian trá để sử dụng! Có biết bao nhiêu luật sẽ bị qua mặt nhân danh lý do phủ nhận chính đáng không thể bác bỏ được!

Và mọi việc với dì Patricia đã diễn ra không có gì vướng mắc. Đúng là điềm lành. Trên thực tế, vào lúc này, dì đang trên đường trở lại London, hy vọng là dì cảm thấy thoải mái hơn trên chiếc Learjet - sau khi đã uống năm ngụm whisky Ireland trong bữa trưa. Còn Danny… chà, thằng cha này lại là chuyện khác. Lần cuối cùng tôi nhìn thấy anh ta thì anh ta đang ở trong văn phòng của Saurel, nghe một bài thuyết trình về bản chất nghịch ngợm của giống cái ở Thụy Sĩ.

Hành lang dẫn tới văn phòng Sư phụ giả mạo của tôi tối và bốc mùi ẩm mốc. Tôi không thể không cảm thấy hơi nản với không gian khắc khổ xung quanh. Dĩ nhiên, chức danh chính thức của Roland không phải là Sư phụ giả mạo hay gì gì như thế. Trên thực tế, tôi dám mạo muội đoán rằng tôi là thằng người đầu tiên ghép mấy từ ấy với nhau để chỉ một ủy thác viên Thụy Sĩ.

Thật ra, chức danh ủy thác viên hoàn toàn vô thưởng vô phạt và chẳng hề có ý nghĩa tiêu cực nào cả. Còn ở góc độ pháp lý, một ủy thác viên chẳng là gì hơn một chức danh “làm cảnh” dành cho bất kỳ cá nhân nào có nghĩa vụ về mặt pháp lý là phải trông chừng công việc của một người khác - tức là công việc được ủy thác cho. Tại Mỹ, đó là công việc vớ vẩn của đám WASP giàu có, những kẻ dùng các ủy thác viên để trông nom quyền thừa kế, hoặc các quỹ tín thác mà họ lập ra cho đám con trai con gái đần độn của mình. Hầu hết các ủy thác viên hoạt động theo những chỉ dẫn nghiêm ngặt được lập ra cho họ bởi đám WASP làm cha làm mẹ, nói rõ việc phân chia tiền bạc như thế nào và khi nào. Nếu mọi việc theo đúng kế hoạch, đám con cháu đần độn sẽ không được chạm tay vào đống của cải thừa kế của chúng cho tới khi chúng đủ khôn lớn để chấp nhận sự thật rằng chúng đúng là lũ thộn. Sau đó, chúng sẽ vẫn có đủ tiền được để dành lại để sống phần đời WASP còn lại của mình theo kiểu WASP điển hình.

Nhưng Roland Franks không phải là dạng ủy thác viên như vậy. Những chỉ dẫn của anh ta sẽ do tôi lập ra, để làm lợi cho tôi. Anh ta sẽ chịu trách nhiệm giải quyết tất cả những công việc giấy tờ và thu xếp bất kỳ mẫu văn bản chính thức nào cần phải đệ trình với nhiều chính phủ nước ngoài. Anh ta sẽ tạo ra những văn bản trông rất chính thống để chứng minh cho quá trình lưu thông tiền cũng như các khoản đầu tư vốn cổ phiếu vào những đơn vị trong đó tôi nắm quyền điều khiển bí mật. Sau đó anh ta sẽ phân chia tiền, theo hướng dẫn của tôi, tới bất kỳ quốc gia nào do tôi chọn.

Tôi mở cửa văn phòng của Roland và nhìn thấy anh ta đang ở trong đó: vị Sư phụ giả mạo tuyệt vời của tôi. Không hề có khu vực tiếp tân, chỉ là một văn phòng rộng rãi, đầy đủ tiện nghi, với các bức tường ốp gỗ gụ và một tấm thảm màu nâu sẫm. Anh ta đang tựa vào mép một chiếc bàn gỗ sồi rất lớn, bên trên la liệt giấy tờ… và anh ta đúng là một gã béo Thụy Sĩ thật sự! Anh ta cao ngang tôi, nhưng có một phong thái khác thường và một nụ cười tinh quái trên gương mặt như thể nói rằng: “Tôi dành phần lớn đời mình nghĩ ra những cách để đánh lừa vô số chính phủ trên thế giới này.”

Ngay phía sau anh ta, một giá sách làm bằng gỗ óc chó rất lớn sừng sững chạm tới trần nhà; chắc nó phải cao đến gần 4 mét. Giá sách xếp hàng trăm cuốn sách bọc da, tất cả đều có kích cỡ bằng nhau, độ dày như nhau và màu nâu sẫm y hệt nhau. Nhưng mỗi cuốn sách lại có một cái tên khác nhau bên trên, được mạ bằng chữ vàng, chạy dọc theo gáy từ trên xuống dưới. Tôi đã từng nhìn thấy những cuốn sách như thế này ở Mỹ. Đó là sách chính thức về doanh nghiệp, những cuốn sách mà quý vị nhận được mỗi lần quý vị thành lập một doanh nghiệp mới. Mỗi cuốn lại chứa hiến chương doanh nghiệp, các chứng chỉ chứng khoán bỏ trống, con dấu doanh nghiệp và những thứ đại loại như vậy. Một chiếc thang thư viện kiểu cổ có bánh xe dưới chân tựa vào giá sách.

Roland Franks tiến lại phía tôi và vồ lấy tay tôi trước khi tôi kịp giơ tay lên. Anh ta bắt đầu lắc tay tôi rất nhiệt thành. Với nụ cười tươi rói, anh ta nói: “Aha, anh Jordan, anh Jordan - anh và tôi chắc sẽ thành bạn bè rất nhanh! Tôi đã nghe Jean Jacques nói nhiều về anh. Anh ấy kể cho tôi nghe về những cuộc phiêu lưu hoành tráng trước kia của anh và về những kế hoạch tương lai của anh. Có rất nhiều chuyện cần bàn nhưng lại hơi ít thời gian, hả?”

Tôi gật đầu vẻ háo hức, có phần bị sự nhiệt tình của anh ta lấn át, nhưng tôi lập tức thấy thích anh ta. Ở anh ta có gì đó rất trung thực, rất thẳng thắn. Anh ta là một người có thể tin cậy được.

Roland dẫn tôi tới một chiếc đi văng bọc da đen và ra hiệu mời tôi ngồi, sau đó anh ta ngồi xuống một chiếc ghế tựa cũng bọc da đen rất hợp. Anh ta lấy ra một điếu thuốc không có đầu lọc từ trong một chiếc hộp bằng bạc trắng và gõ gõ một đầu điếu thuốc lên chiếc hộp để ép những sợi thuốc lá vào trong. Anh ta móc từ trong túi quần ra một chiếc bật lửa cũng bằng bạc trắng, bật lên và hơi nghiêng đầu sang bên để tránh bị táp bởi ngọn lửa butane cao đến hơn 20 centimét. Sau đó anh ta rít một hơi dài.

Tôi im lặng ngắm nhìn. Cuối cùng, sau khoảng 10 giây, anh ta nhả ra, nhưng chỉ có một ít khói bay ra. Phi thường! Khói đi đâu cả rồi nhỉ?

Tôi vừa định hỏi thì anh ta lên tiếng: “Anh phải kể cho tôi nghe về chuyến bay của anh từ Mỹ sang. Cứ như một huyền thoại vậy.” Anh ta nháy mắt với tôi. Sau đó anh ta ngửa lòng bàn tay lên và nhún vai, nói: “Nhưng tôi - ờ - tôi là người đơn giản, và trên thế giới này với tôi chỉ có một người phụ nữ duy nhất: vợ yêu của tôi!” Anh ta đảo mắt. “Dù sao đi nữa, tôi cũng đã nghe nhiều về công ty môi giới của anh và tất cả những công ty anh sở hữu. Quá nhiều với một người còn trẻ như anh! Tôi phải nói rằng anh vẫn còn rất trẻ và…”

Sư phụ giả mạo cứ thế huyên thuyên về chuyện tôi còn trẻ và tài giỏi làm sao, nhưng tôi thấy khó mà theo kịp anh ta. Tôi quá bận rộn với chuyện nhìn theo phần xương hàm to tướng của anh ta đang di chuyển lên xuống như một chiếc thuyền buồm trên đại dương dậy sóng. Roland có đôi mắt nâu rất thông minh, cái trán thấp và một cái mũi tẹt. Nước da anh ta rất trắng, đầu anh ta dường như ngự ngay phía trên ngực mà không cần đến cổ. Tóc anh ta màu nâu sẫm, gần như đen, anh ta chải tóc ngược hẳn ra phía sau trên cái sọ tròn xoe. Ấn tượng đầu tiên của tôi rất chính xác: Người đàn ông này toát ra một sự nồng ấm từ bên trong, niềm vui sống của một người hoàn toàn thoải mái trong lớp vỏ của chính mình, bất chấp thực tế rằng lớp vỏ ấy đủ phủ kín cả Thụy Sĩ.

“… và vậy là, bạn ạ, đó là sự thật. Rốt cuộc, vẻ bề ngoài là những gì làm nên sự khác biệt của mọi vật. Hay nói như anh thì đó là chuyện dấu chấm trên chữ i và cái gạch ngang của chữ t, phải không nào?” Sư phụ giả mạo hỏi kèm theo một nụ cười.

Mặc dù chỉ nghe được phần cuối câu nói của anh ta nhưng ý chính của nó rất rõ ràng: Dấu vết giấy tờ là tất cả. Nói năng vụng về khác hẳn bình thường, tôi đáp: “Tôi không thể đồng ý với anh hơn được nữa, Roland ạ. Tôi luôn tự hào bản thân mình là một người cẩn thận, một người rất thực tế với thế giới mình sống. Xét cho cùng, những người như chúng ta đây không thể tỏ ra bất cẩn được. Đó là thứ xa xỉ phẩm dành cho đám đàn bà con nít.” Giọng tôi đầy vẻ khôn ngoan, nhưng sâu thẳm trong lòng, tôi hy vọng rằng anh ta chưa xem bộ phim The Godfather (Bố già). Tôi cảm thấy hơi có lỗi vì đã ăn cắp một chút dọa dẫm kiểu nhân vật Don Corleone, nhưng dường như tôi không tài nào nén được mình. Bộ phim toàn những lời thoại hãi hùng như vậy cho nên việc ăn cắp ý tưởng từ phim là lẽ đương nhiên. Mà ít nhiều, tôi đang sống chẳng khác gì Don Corleone - phải không nào? Tôi chưa bao giờ nói trên điện thoại; tôi duy trì đám người thân tín của mình bao gồm toàn những bạn bè tin cẩn lâu năm; tôi mua chuộc các chính trị gia và sĩ quan cảnh sát; tôi lại có Biltmore và Monroe Parker trả tiền cho mình hằng tháng… và vô số những chuyện khác nữa. Nhưng, không như tôi, Don Corleone không có thói quen nghiện ngập quá mức, cũng không dễ bị thao túng bởi một cô nàng tóc vàng kiều diễm. Chà, đó chính là những cái “gót chân Achille” của tôi, chẳng có người nào là hoàn hảo cả kia mà.

Rõ ràng chẳng hề chú ý gì đến những lời lượm lặt của tôi, anh ta đáp: “Đó là sự hiểu biết thấu đáo nhất với một người đàn ông ở tuổi anh. Và tôi không thể đồng ý với anh hơn được nữa. Sự bất cẩn là một thứ xa xỉ phẩm mà không một người đàn ông đứng đắn nào có đủ khả năng chi trả. Và hôm nay đó sẽ là một việc mà chúng ta phải hết sức chú ý. Rồi anh sẽ thấy, anh bạn ạ, tôi có thể làm được nhiều việc cho anh và mang được nhiều bộ mặt. Dĩ nhiên, những việc sở trường của tôi - chẳng hạn như xử lý giấy tờ và điền các mẫu văn bản của doanh nghiệp - thì tôi tin rằng anh đã quá quen rồi. Vì thế chúng ta sẽ bỏ qua những mục đó. Vấn đề là: Chúng ta sẽ bắt đầu từ đâu? Trong đầu anh đang nghĩ gì, anh bạn trẻ? Xin cứ nói với tôi, và tôi sẽ giúp anh.”

Tôi mỉm cười đáp: “Tôi nghe Jean Jacques nói anh là người có thể tin tưởng hoàn toàn và anh là tay cừ nhất trong lĩnh vực anh đang làm. Cho nên để tránh nhầm lẫn, tôi sẽ làm việc với giả định rằng anh và tôi sẽ làm ăn với nhau trong nhiều năm tới.”

Tôi dừng lại một lát, đợi cái gật đầu bắt buộc và nụ cười của Roland đáp lại câu nói kẻ cả của tôi. Và mặc dù tôi chưa bao giờ tán thành những lời nó kẻ cả bề trên… nhưng đây vẫn là lần đầu tiên tôi được mặt đối mặt với một Sư phụ giả mạo thật sự… cho nên, nói như thế cũng là thích hợp.

Đúng như mong đợi, Roland nhếch hai khóe miệng và kính cẩn gật đầu. Sau đó, anh ta rít một hơi thuốc dài nữa và bắt đầu nhả ra những vòng khói tròn xoe. Giỏi thật! Tôi nghĩ thầm. Những vòng khói màu xám nhạt hoàn hảo, đường kính khoảng 5 centimét, dường như đang bồng bềnh trôi trong không khí.

Tôi mỉm cười và nói: “Những vòng khói kia rất đẹp, anh Roland ạ. Có lẽ anh khiến tôi hiểu tại sao người Thụy Sĩ lại mê hút thuốc đến vậy. Ý tôi là - xin đừng hiểu sai - tôi hoàn toàn tin rất nên hút thuốc nếu cách đó làm ta hưng phấn. Nói thật, ông cụ nhà tôi là một trong những người lúc nào cũng hút thuốc, cho nên tôi rất tôn trọng thói quen ấy. Nhưng dường như người Thụy Sĩ lại nâng việc hút thuốc lên một cấp độ khác. Sao lại như vậy?”

Roland nhún vai đáp: “30 năm trước, chuyện đó cũng chẳng khác gì ở Mỹ. Nhưng chính phủ chúng tôi thấy buộc phải nhúng mũi vào những chỗ không thuộc về mình - thậm chí cả quyền của một cá nhân được hưởng một niềm vui thú rất con người và rất giản dị. Họ phát động một chiến dịch tuyên truyền chống lại việc hút thuốc nhưng may thay, chiến dịch ấy không lan tới bờ bên này Đại Tây Dương. Thật chẳng ra làm sao khi một chính phủ lại đi quyết định việc một người có thể nhồi vào cơ thể mình cái gì và cái gì thì không. Tôi tự hỏi, rồi tiếp theo là gì đây, thức ăn chăng?” Anh ta cười toét miệng rồi cười to, sau đó vỗ vỗ cái bụng to tướng của mình bằng vẻ thích thú. “Nếu có ngày đó, anh bạn ạ, chắc chắn tôi sẽ nhét một khẩu súng vào miệng và bóp cò!”

Tôi bật lên tiếng cười khẽ và lắc lắc đầu, tay xua xua trong không khí như thể muốn nói: “Ồ, thôi nào! Đâu đến nỗi tệ thế!” Sau đó tôi lên tiếng: “Vậy là anh vừa trả lời câu hỏi của tôi, và những gì anh nói rất có ý nghĩa. Chính phủ Hoa Kỳ xâm nhập một cách thái quá vào tất cả mọi khía cạnh của cuộc sống, đó chính là lý do vì sao hôm nay tôi ngồi đây. Nhưng tôi vẫn có nhiều mối lo về việc làm ăn tại Thụy Sĩ, chủ yếu vì tôi còn thiếu hiểu biết về thế giới của các anh - ý tôi là hệ thống ngân hàng ở nước ngoài - điều đó làm tôi vô cùng lo lắng. Tôi là một người có niềm tin kiên định, anh Roland ạ, rằng kiến thức rất có uy lực và rằng trong tình huống như thế này, ở đâu tiền đặt cược cao thì ở đó, sự thiếu hiểu biết sẽ đem lại thảm họa.

Cho nên tôi phải hiểu biết hơn. Tất cả mọi người, ở một mức độ nào đó, đều cần có một bậc thầy, và tôi trông đợi anh cho vị trí đó. Tôi không hình dung được cần xoay xở thế nào trong hệ thống tư pháp của các anh. Chẳng hạn, cần phải kiêng kỵ những gì? Thế nào là khinh suất và thế nào là khôn ngoan? Những điều này tôi rất cần biết, Roland ạ, những điều tôi phải biết nếu tôi muốn tránh xa mọi rắc rối. Tôi cần hiểu tất cả những luật lệ ngân hàng của các anh tới từng con chữ. Nếu có thể, tôi rất muốn được nghiên cứu những cáo trạng trước kia, để xem những người khác gặp phiền toái vì cái gì và họ đã phạm phải những sai lầm gì, để bảo đảm rằng tôi sẽ không theo vết xe đổ của họ. Tôi là một sinh viên môn lịch sử, Roland ạ, và tôi rất tin tưởng rằng người nào không chịu nghiên cứu sai lầm trong quá khứ thì sẽ mắc phải chính những sai lầm ấy.” Đây là một việc tôi đã từng thực hiện - xem lại những bản cáo trạng cũ - khi tôi mới gây dựng Stratton, và quả thật điều đó là vô giá.

Roland nói: “Đó lại là một sự hiểu biết tuyệt vời nữa, anh bạn trẻ ạ. Tôi sẽ rất vui lòng thu thập một số thông tin cho anh. Nhưng có lẽ tôi có thể làm sáng tỏ những điều ấy cho anh ngay bây giờ. Anh xem, trên thực tế tất cả những vấn đề người Mỹ vướng phải trong hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ chẳng liên quan gì mấy đến những thứ xảy ra ở bên kia bờ Đại Tây Dương cả. Một khi tiền của anh đã an toàn ở đây thì anh sẽ phù phép số tiền ấy thành cả tá công ty khác nhau mà không hề gây chú ý, hoàn toàn vượt ra ngoài những cặp mắt soi mói của chính phủ anh. Qua Jean Jacques, tôi hiểu rằng bà Mellor đã đến ngân hàng sáng nay, phải không?”

Tôi gật đầu. “Phải, bà ấy đang trên đường trở về Anh. Nhưng tôi có một bản sao hộ chiếu của bà ấy nếu anh cần.” Tôi vỗ tay lên túi trái áo khoác, để cho anh ta biết nó đang nằm trên người tôi.

“Tốt lắm”, Roland nói, “quá tốt. Nếu anh vui lòng cung cấp cho tôi thứ đó, tôi sẽ đưa nó vào hồ sơ của mọi doanh nghiệp chúng ta thành lập. Nhưng lưu ý, hãy hiểu rằng Jean Jacques chỉ được biết thông tin cùng với tôi tùy theo sự ủy quyền của anh. Nếu không, anh ta sẽ không bao giờ nhắc một lời đến chuyện bà Mellor có mặt tại ngân hàng. Và tôi xin nói thêm rằng quan hệ của tôi với Jean Jacques là quan hệ một chiều. Tôi sẽ không nói gì với anh ta về chuyện làm ăn của chúng ta trừ phi anh chỉ đạo tôi.

Anh xem, tôi khuyến nghị rằng anh đừng xếp tất cả trứng vào một giỏ. Nhưng xin đừng hiểu nhầm tôi: Union Bancaire là một ngân hàng tốt, tôi khuyên anh nên giữ tiền của mình ở đó. Nhưng còn có các ngân hàng ở các nước khác - Luxembourg và Liechtenstein chẳng hạn - rất hợp với mục đích của chúng ta. Sắp xếp các giao dịch của anh thành từng lớp ở nhiều quốc gia sẽ tạo ra một mạng lưới rắc rối đến mức gần như không chính phủ nào có thể lần ra được.

Mỗi nước đều có hệ thống luật của mình. Cho nên cái phạm pháp ở Thụy Sĩ có khi lại hợp pháp ở Liechtenstein. Tùy vào việc anh đang suy tính loại giao dịch nào, chúng ta sẽ thành lập các chủ thể doanh nghiệp riêng biệt cho từng phần giao dịch, chỉ làm những gì hợp pháp tại từng nước cụ thể. Nhưng tôi xin phác ra những nét chính ở đây. Các khả năng còn lớn hơn thế nhiều.”

Quá siêu phàm! Tôi nghĩ bụng. Một Sư phụ giả mạo thật sự! Sau một lát im lặng, tôi lên tiếng: “Có lẽ anh có thể giảng qua cho tôi về mọi sự lắt léo của công việc. Tôi không thể diễn tả cho anh biết điều đó sẽ làm cho tôi cảm thấy thoải mái hơn đến thế nào. Ý tôi là, có những lợi ích thấy rõ của việc làm ăn dưới danh nghĩa một doanh nghiệp - cho dù là ở Hoa Kỳ hay tại Thụy Sĩ - nhưng cái tôi quan tâm là những lợi ích ít thấy hơn.” Tôi mỉm cười, ngả ra sau ghế và bắt chéo chân. Đó là một tư thế như muốn nói: “Cứ thoải mái nói cho tôi nghe đi; tôi không có gì vội cả.”

“Dĩ nhiên, bạn ạ; giờ chúng ta tiến thẳng vào cốt lõi của vấn đề. Mỗi doanh nghiệp trong số này đều là một công ty đứng tên, nghĩa là không có giấy tờ thực sự nói rõ ai là chủ doanh nghiệp. Về mặt lý thuyết, bất kỳ ai sở hữu giấy chứng nhận cổ phần thực tế - tức là người nắm giữ - đều được xem là chủ hợp pháp. Có hai cách để bảo đảm quyền sở hữu của anh trong một doanh nghiệp như thế. Thứ nhất là đích thân nắm giữ các giấy chứng nhận cổ phần - tức là làm người nắm giữ thật sự. Trong trường hợp đó, trách nhiệm của anh sẽ là tìm một nơi an toàn để cất giữ, có lẽ là trong một hộp ký gửi bảo đảm ở Mỹ hay đại loại như thế. Cách thứ hai sẽ là mở một hộp ký gửi bảo đảm có đánh số tại Thụy Sĩ và cất giữ giấy tờ ở đó. Chỉ có anh mới có quyền truy cập vào hộp này. Và không như một tài khoản ngân hàng Thụy Sĩ, một hộp ký gửi an toàn được đánh số thật sự; không hề có tên tuổi gắn trên đó.

Nếu anh chọn lộ trình đó, tôi gợi ý rằng anh nên thuê hẳn với thời hạn 50 năm và trả trước toàn bộ chi phí. Trong trường hợp đó, không chính phủ nào có cách gì truy cập được vào nó. Chỉ có anh - và có lẽ vợ anh, nếu anh muốn - mới biết đến sự tồn tại của nó. Và nếu tôi cho anh một lời khuyên thì tôi khuyến cáo anh chớ có cho vợ mình biết. Thay vào đó, hãy cho tôi biết làm cách nào liên lạc với cô ấy - lạy trời đừng có điều gì xảy ra cho anh.

Nhưng xin anh bạn chớ cho những lời tôi vừa nói là vì tôi có ý nghi ngờ độ tin cậy của vợ anh. Tôi biết chắc rằng cô ấy là một thiếu phụ tốt, tôi còn nghe nói rằng cô ấy rất đẹp nữa. Chỉ có điều không phải là chưa từng có một cô vợ khùng khùng nào đó dẫn đường cho thanh tra của Sở Thu nhập Nội địa tới nơi không nên dẫn đến.”

Tôi suy ngẫm những lời nói của anh ta một lúc và nó như gợi nhớ lại oan hồn của 6 triệu người Do Thái đã bị sát hại đang lang thang trên các đường phố Zurich và Geneva, cố tìm lại các chủ ngân hàng Thụy Sĩ của họ. Mặc dù vậy, tôi phải thừa nhận Roland có vẻ đúng là loại người biết việc. Nhưng làm sao tôi có thể chắc chắn chuyện đó chứ? Vốn dĩ là Sói già đội lốt cừu non nên còn ai biết rõ hơn tôi chuyện vẻ bề ngoài chỉ là sự đánh lừa chứ? Có lẽ tôi nói với ba mình, hoặc tốt hơn cả, giao cho ông ấy một phong bì niêm phong kín cùng với những chỉ dẫn chi tiết rằng chỉ mở phong bì trong trường hợp tôi chết bất thình lình. Việc này, nếu như xét đến thiên hướng thích bay nhanh và lặn với ống thở trong lúc bị choáng, dường như là một khả năng rõ rành rành.

Nhưng tôi quyết định chỉ giữ riêng những ý nghĩ tản mạn đó cho mình. “Tôi thiên về lựa chọn thứ hai - vì nhiều lý do. Và mặc dù tôi chưa bao giờ nhận được trát của Bộ Tư pháp nhưng tôi thấy rất nên cất giữ toàn bộ giấy tờ của mình ngoài tầm kiểm soát của họ. Đúng như anh thấy, mọi vấn đề pháp lý của tôi đều chỉ mang tính chất dân sự, không phải hình sự, đương nhiên là như vậy. Trước hết, tôi luôn cố gắng làm những điều đúng đắn. Dù tôi đã rất cố gắng nhưng trên thực tế vẫn có nhiều đạo luật chứng khoán của Mỹ vô cùng nhập nhằng, không có gì là đúng tuyệt đối hoặc sai tuyệt đối. Tôi nói cho anh biết một sự thật, Roland ạ: Trong nhiều trường hợp - thực tế là hầu hết các trường hợp - cái gì là vi phạm luật pháp nhiều khi chỉ là vấn đề ý kiến ý cò hơn bất kỳ khía cạnh nào khác.” Thật vớ vẩn! Nhưng nghe cũng tàm tạm. “Vì thế, nhiều khi, cái mà tôi tưởng là hoàn toàn hợp pháp lại khiến cho tôi ăn cám đấy. Rất không công bằng, nhưng nó là vậy đấy. Dù sao đi nữa, tôi cũng xin nói rằng hầu hết các vấn đề của tôi đều liên hệ trực tiếp với các luật chứng khoán được soạn thảo rất kém, những đạo luật được soạn ra để thi hành với các cá nhân mà chính phủ thấy thích hành hạ.”

Roland cười khùng khục. “Ôi, anh bạn, anh cừ thật! Đúng là một cách nhìn nhận mọi việc hết sảy! Tôi không nghĩ mình từng được nghe ai đó nói về cách nhìn nhận của người đó một cách thuyết phục như thế. Quá xuất sắc - quá tuyệt!”

Tôi cười và nói: “Vâng, với người như anh thì tôi xem đó là một lời khen tặng. Tôi không phủ nhận rằng đôi lúc, cũng như bất kỳ doanh nhân nào, tôi vượt qua ranh giới và có mạo hiểm đôi chút. Nhưng đó đều là những sự mạo hiểm có tính toán - tính toán rất kỹ, tôi có thể nói thêm như vậy. Và mọi sự mạo hiểm tôi thực hiện đều được hỗ trợ bằng hồ sơ rất kín kẽ, nhằm tạo ra lý do phủ nhận không thể bác được. Anh đã quen với thuật ngữ đó rồi, phải không?”

Roland gật đầu chậm rãi, rõ ràng là bị mê hoặc bởi khả năng giải thích việc tôi vi phạm mọi đạo luật chứng khoán từng có. Cái mà anh ta không biết là Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái đang trong quá trình tạo ra những luật mới để cố tìm cách ngăn cản tôi.

Tôi nói tiếp: “Tôi đoán anh biết rồi. Nhưng dù sao, lúc tôi khai trương công ty môi giới của mình năm năm về trước, một người rất khôn ngoan đã cho tôi một lời khuyên rất khôn ngoan. Ông ấy bảo rằng: “Nếu cậu muốn tồn tại được trong cái thế giới kinh doanh điên cuồng này của chúng ta thì cậu phải hoạt động với giả định rằng tất cả mọi giao dịch của cậu rồi cuối cùng đều sẽ bị soi xét bởi một cơ quan chính phủ ba-chữ-cái1. Và đến ngày đó, tốt nhất là cậu cần bảo đảm rằng mình có cách giải thích để làm sao giao dịch ấy không hề vi phạm bất kỳ luật chứng khoán hay bất kỳ đạo luật nào.”

1 Nhiều tổ chức chính phủ ở Mỹ có tên gọi khi viết tắt bao gồm ba chữ cái, chẳng hạn như CIA, FBI,…

Còn lúc này, đúng là như vậy, Roland ạ, tôi dám nói với anh rằng có đến 99% những việc tôi làm đều đang tiến triển tốt. Vấn đề duy nhất là 1% còn lại sẽ giết chết ta bất kỳ lúc nào. Có lẽ, rất nên duy trì khoảng cách giữa tôi đây và cái 1% đó càng rộng càng tốt. Tôi cho rằng anh chính là ủy thác viên cho những công ty này, đúng không?”

“Phải, bạn ạ. Theo luật Thụy Sĩ, tôi được quyền ký các giấy tờ nhân danh công ty và tham gia bất kỳ hợp đồng nào mà tôi tin là có lợi nhất cho công ty hoặc những người được hưởng lợi từ nó. Dĩ nhiên, những giao dịch duy nhất mà tôi cho rằng thích hợp sẽ là những giao dịch do anh gợi ý. Chẳng hạn, nếu anh bảo tôi rằng anh nghĩ tôi nên đầu tư tiền của tôi vào một loại cổ phiếu mới nào đó hay một mảnh đất - hoặc bất kỳ thứ gì - thì khi đó tôi có nghĩa vụ phải làm theo lời khuyên của anh.

Và đây chính là chỗ các dịch vụ của tôi có giá trị nhất với anh. Anh xem, với mỗi khoản đầu tư chúng ta thực hiện, tôi sẽ tập hợp một bộ hồ sơ có đầy đủ các tài liệu nghiên cứu và thư từ trao đổi - đến từ nhiều nhà phân tích chứng khoán, các chuyên gia bất động sản hay bất kỳ ai nếu cần - cho nên tôi có cơ sở độc lập để thực hiện đầu tư. Tôi có thể thuê lại dịch vụ của một kiểm toán viên bên ngoài, yêu cầu cung cấp cho tôi một báo cáo nói rằng khoản đầu tư đó là hợp lý. Dĩ nhiên, kiểm toán viên này sẽ luôn đưa ra một kết luận phù hợp, không phải chờ đến khi người đó đưa ra một báo cáo có các biểu đồ cột và các đồ thị màu. Cuối cùng, chính những thứ như thế này thật sự củng cố cho lý do phủ nhận không thể bác bỏ. Nếu có ai đó đặt câu hỏi rằng tại sao tôi lại thực hiện khoản đầu tư ấy, tôi chỉ việc chỉ vào tập hồ sơ dày đến 5 centimét kia và nhún vai.

Vả lại, bạn ạ, ở đây chúng ta mới chỉ tìm hiểu sơ qua phần bề nổi thôi. Còn có nhiều chiến lược mà tôi sẽ chia sẻ với anh, cho phép anh tiến hành làm ăn dưới lớp vỏ bọc hoàn toàn không thấy được. Thêm vào đó, nếu có lúc nào đó anh muốn chuyển bất kỳ số tiền nào như vậy về nước - tức là chuyển trở lại Mỹ mà không muốn để lại vết tích - thì đó lại là một lĩnh vực khác trong đó tôi có thể là người hữu dụng nhất.”

Thú vị thật, tôi nghĩ bụng. Đây chính là vấn đề tôi lo lắng nhất. Tôi nhích ra sát mép đi văng, thu hẹp khoảng cách giữa hai chúng tôi còn chưa đầy 1 mét. Sau đó tôi hạ giọng: “Đó là vấn đề tôi rất quan tâm đấy, Roland ạ. Xin nói thật với anh - tôi không ấn tượng lắm với những kịch bản Jean Jacques phác ra cho tôi; anh ta vạch ra hai lựa chọn mà theo cách nghĩ của tôi: rất không chuyên nghiệp và chẳng khác gì đâm đầu vào chỗ chết.”

“Chà”, Roland đáp kèm theo một cái nhún vai, “điều đó không thật sự khiến tôi ngạc nhiên. Jean Jacques là chủ nhà băng; chuyên môn của anh ta nằm ở việc sắp xếp tài sản, chứ không phải là “tung hứng” những thứ ấy. Anh ta là một chủ nhà băng cừ, tôi có thể nói thêm như vậy, và anh ta sẽ quản lý tài khoản của anh rất tốt, với sự thận trọng tối đa. Nhưng anh ta không thạo trong việc tạo ra các loại giấy tờ cho phép tiền lưu thông qua lại giữa các quốc gia mà không làm cho người ta thắc mắc. Đó là chức năng của một ủy thác viên” - một Sư phụ giả mạo! - “như tôi đây. Thực tế, anh sẽ thấy rằng Union Bancaire cực kỳ hạn chế việc chuyển tiền ra khỏi tài khoản. Dĩ nhiên, anh luôn có thể làm gì tiền của mình cũng được; họ sẽ không ngăn cản anh. Nhưng đừng lấy làm ngạc nhiên nếu Jean Jacques tìm cách thuyết phục anh không chuyển tiền ra khỏi tài khoản, có lẽ với lý do rằng chuyển tiền sẽ khiến người ta chú ý. Nhưng nói ra điều này không phải để chống lại Jean Jacques. Tất cả các chủ nhà băng Thụy Sĩ đều hoạt động theo cách đó cả, và còn có hình thức tự phục vụ, xin nói thêm như vậy. Thực tế rất đơn giản, anh bạn ạ, là với 3 triệu đô la lưu thông vào và ra khỏi hệ thống ngân hàng Thụy Sĩ mỗi ngày, không hề có hoạt động gì trong tài khoản của anh có thể gây chú ý cả. Một người khôn ngoan như anh có thể dễ dàng thấy ngay động cơ của ngân hàng đối với việc muốn giữ số dư tài khoản càng cao càng tốt.

Tuy nhiên, tò mò một chút, Jean Jacques đã gợi ý cho anh những cách nào? Tôi rất muốn được nghe những lời nói hoa mỹ mới nhất của anh ta trong lĩnh vực này.” Nói xong, Roland ngả người ra sau và đan các ngón tay vào nhau rồi đặt lên bụng.

Hiểu ngôn ngữ cử chỉ của anh ta, tôi hơi nhích lùi khỏi mép đi văng và nói: “À, cách đầu tiên anh ta gợi ý là qua thẻ dư nợ. Cách đó dường như rất kỳ quặc đối với tôi, nếu anh lượng thứ cho vốn tiếng Pháp dở ẹc của tôi. Ý tôi là, chạy nhong nhong khắp thành phố với một cái thẻ dư nợ gắn liền với một tài khoản nước ngoài sẽ để lại rất nhiều dấu vết giấy tờ!” Tôi lắc đầu và đảo mắt để nhấn mạnh thêm ý của mình.

“Gợi ý thứ hai của anh ta cũng kỳ quặc không kém: Tôi sẽ sử dụng tiền ở nước ngoài của mình để lấy bù một khoản thế chấp bằng ngôi nhà của mình, tại Mỹ. Tôi tin rằng chẳng cách nào trong số này được nhắc lại với Saurel, nhưng tôi phải thừa nhận tôi cực kỳ thất vọng với phần trình bày này của anh ta. Vậy xin hãy cho tôi biết, Roland - tôi còn thiếu sót gì?”

Roland mỉm cười đầy tự tin. “Có nhiều cách để làm việc này, tất cả đều không hề để lại tý dấu vết giấy tờ nào. Hoặc, nói chính xác hơn, chúng để lại dấu vết giấy tờ rất lớn, nhưng lại là loại dấu vết anh rất muốn thấy, loại dấu vết hỗ trợ cho một vị thế vô tội hoàn toàn và sẽ chẳng hề hấn gì cho dù có kiểm tra gắt gao ở cả hai bờ Đại Tây Dương. Anh có quen với chuyện làm giá chuyển nhượng không?”

Làm giá chuyển nhượng? Có, tôi biết vậy là thế nào, nhưng làm cách nào chứ - đột nhiên cả nghìn chiến lược bất chính lướt qua não tôi. Các khả năng là… vô hạn! Tôi mỉm cười thật tươi với Sư phụ giả mạo và nói: “Thực sự, tôi biết, Sư phụ gia… à quên, Roland ạ, và đó là một ý tưởng rất tuyệt.”

Anh ta có vẻ bất ngờ vì tôi biết cái nghệ thuật làm giá chuyển nhượng vốn rất ít người biết. Đây là một trò “cua cá” tài chính trong đó quý vị sẽ tham gia vào một giao dịch, hoặc trả tiền thấp hơn hoặc cao hơn cho một sản phẩm cụ thể, tùy vào việc quý vị muốn tiền của mình lưu thông theo hướng nào. Cái khó nằm ở chỗ, trên thực tế, quý vị nắm giữ cả hai phía của giao dịch: Quý vị vừa là bên mua vừa là bên bán. Làm giá chuyển khoản được sử dụng chủ yếu như một cách trốn thuế, một chiến lược được vận dụng bởi các công ty đa quốc gia có vốn hàng tỷ đô la - nhờ đó các công ty này sẽ thay đổi các chiến lược làm giá nội bộ khi họ bán từ một công ty con do họ sở hữu hoàn toàn cho doanh nghiệp khác. Kết quả là việc chuyển nhượng lợi nhuận từ các quốc gia có mức thuế thu nhập doanh nghiệp cao sang những nước không tính thuế. Tôi đã đọc về hình thức này trong một tạp chí kinh tế học khó hiểu nào đó - một bài viết về Honda Motors tính giá rất cao với các nhà máy sản xuất phụ tùng ôtô của mình ở Mỹ, nhờ đó giữ lợi nhuận tại Mỹ ở mức tối thiểu. Vì những lý do thấy rõ, Sở Thu nhập Nội địa sẽ có phản ứng.

Roland nói: “Tôi lấy làm ngạc nhiên vì anh lại biết về làm giá chuyển nhượng. Đây là một cách thức không phải ai cũng biết, đặc biệt là ở Mỹ.”

Tôi nhún vai. “Tôi có thể thấy cả nghìn cách sử dụng nó, để chuyển tiền qua lại mà không gây chú ý. Tất cả những gì chúng ta phải làm là thành lập một doanh nghiệp đứng tên và đưa nó vào một hình thức giao dịch với một trong các công ty tại Mỹ của tôi. Ngay lúc này trong óc tôi đang nghĩ đến một công ty có tên Dollar Time. Nơi này đang nắm giữ vài triệu đô la hàng quần áo tồn vô giá trị nhưng tôi lại không thể bán được dù chỉ 1 đô la.

Nhưng cái chúng ta có thể làm là thành lập một công ty đứng tên và gắn cho nó một tên gọi nghe có vẻ dính dáng đến quần áo, chẳng hạn Wholesale Clothing Inc. hay đại loại như vậy. Sau đó tôi có thể đưa Dollar Time vào giao dịch với công ty hải ngoại của tôi nhằm mua lại cái kho hàng tồn vô giá trị, chuyển tiền của tôi từ Thụy Sĩ trở lại Mỹ. Và dấu vết giấy tờ duy nhất sẽ là lệnh đặt mua và một tờ biên lai.”

Roland gật đầu nói: “Phải, bạn ạ. Và tôi có khả năng in được tất cả các loại biên lai, hóa đơn bán hàng cùng bất cứ thứ gì khác có thể cần đến. Tôi thậm chí có thể in được các xác nhận môi giới có niên hạn cách đây một năm. Nói cách khác, chúng ta có thể quay lại số báo năm ngoái và chọn một loại cổ phiếu tăng giá mạnh, sau đó tạo hồ sơ cho biết đã có một vụ làm ăn nào đó được thực hiện. Nhưng tôi đang đi hơi quá xa. Tôi sẽ phải mất nhiều tháng để dạy cho anh mọi điều.

Lưu ý thêm, tôi còn có thể thu xếp bố trí những khoản tiền mặt lớn có sẵn cho anh tại nhiều nước, đơn giản bằng cách thành lập các doanh nghiệp đứng tên và sau đó tạo ra giấy tờ mua và bán những loại hàng hóa chẳng bao giờ tồn tại. Cuối ngày, lợi nhuận sẽ đổ về quốc gia nào anh chọn, nơi anh lấy lại tiền mặt. Và tất cả những gì còn lại là dấu vết giấy tờ cực kỳ kín kẽ chứng minh tính hợp pháp của giao dịch. Thực tế, tôi đã thành lập hai công ty đứng tên anh. Nào, anh bạn, đến đây để tôi chỉ cho anh thấy.” Nói xong, Sư phụ giả mạo của tôi nhấc tấm thân bồ tượng ra khỏi chiếc ghế tựa bọc da đen của mình, dẫn tôi tới bức tường có toàn sách về doanh nghiệp và lấy ra hai cuốn. “Đây”, anh ta nói. “Trường hợp thứ nhất gọi là United Overseas Investments, còn trường hợp thứ hai là Far East Ventures. Cả hai đều được đăng ký tại quần đảo British Virgin, nơi không hề phải đóng thuế và không có quy định nào đáng nói. Tất cả những gì tôi cần chỉ là một bản sao hộ chiếu của bà Patricia và sau đó tôi sẽ xử lý phần còn lại.”

“Không thành vấn đề”, tôi mỉm cười, thọc tay vào túi trong của áo khoác và trao bản sao cuốn hộ chiếu của dì Patricia cho Sư phụ giả mạo của mình. Tôi sẽ học được mọi điều tôi có thể lĩnh hội từ người này. Tôi sẽ học hỏi tất cả những cái lắt léo của thế giới ngân hàng Thụy Sĩ. Tôi sẽ học cách giấu kín mọi giao dịch của mình trong một mạng lưới không thể xâm nhập nổi với các công ty đứng tên ở nước ngoài. Và nếu tình hình có khó khăn, dấu vết giấy tờ tôi tạo ra sẽ ứng cứu cho tôi.

Phải - tất cả nghe rất ổn. Dù Jean Jacques Saurel và Roland Franks khác hẳn nhau nhưng họ đều là những người có quyền lực và họ đều là những người có thể tin được. Và đây là đất Thụy Sĩ, mảnh đất của những bí mật, nơi không ai trong số họ có lý do gì để phản bội tôi.

Lạy Chúa, nhưng tôi đã nhầm với một người trong số họ.

  • Previous
  • 1
  • More pages
  • 24
  • 25
  • 26
  • More pages
  • 34
  • Next